TH Tích hợp đa văn hóa Đông Tây

Tập III — Cơ sở Độn Giáp — học thuyết dự báo chung về môi trường cho cá nhân

Chương 31

Mối quan hệ sâu xa giữa Linh Quy Bát Pháp và Độn Giáp qua lá Mebius

Trang 467–480 của bản in·Xem ảnh quét
467TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Chương 31

MỐI QUAN HỆ SÂU XA GIỮA

LINH QUY BÁT PHÁP VÀ ĐỘN

GIÁP qua L á MEBIUS

Trong phần này, chúng ta sẽ đi sâu hơn vào mối quan hệ giữa Linh Quy Bát Pháp và mã số Tiết Khí trong Độn Giáp qua các tập con

11 7, 4}, {3, 9, 6}, {2, 8, 5}

của mã số Tiết Khí, Chúng ta sẽ thấy một biểu hiện hết sức độc đáo của tôpô lá Mebius của Hệ Linh Quy Bát Pháp.

Muốn thế, chúng ta hãy xây dựng một số Bảng theo kiểu sau :

- Lập các Bảng có ba cột.

- Trên hàng đầu mỗi Bảng, ở các cột thứ nhất và thứ hai, chúng ta ghi các cặp ngày đối xứng qua tâm c của Bảng Linh Quy Bát Pháp, ví dụ các cặp sau : { 01, 30}, {02, 29}, {05, 26}, {06, 25}, {33, 58}, 134 57}, {39, 52}, {40, 51}... tổng số thứ tự các ngày trong mỗi cặp là 31, modulo 60.

- Trong cột thứ nhất, ta ghỉ mã số Linh Quy Bát Pháp của ngày thứ nhất của cặp ngày với trình tự thời gian bỉnh thường Tý, Sửu,..., Tuất, Hợi. Trong cột thứ hai ta ghi các mã số Linh Quy Bát Pháp của ngày thứ hai của cặp nhưng lại theo trình tự thời gian ngược lại : Hợi, Tuất, Sửu, Tý.

- Sau đó, ta cộng lại các mã số cùng hàng theo modulo 9.

Ta sẽ thấy ngay rằng :

1) Tổng số mã số của các cặp ngày của Linh Quy Bát Pháp có mã số như nhau trong hai nửa phần là tập con {1, 7, 4}, modulo 9.

2) Tổng số mã số của các cặp ngày của Linh Quy Bát Pháp có mã số khác nhau của hai nửa phần là các tập con {3, 9, 6}, {2, 8, 5} modulo 9.

3) Số cặp tương ứng với 1) bằng 10, số cặp tương ứng với 2) cũng bằng 10, 5 lần cho tập con {3, 9, 6} và 5 lần cho tập con {2, 8, 5}.

Ta có thể thực hiện quá trình trên theo Hình 117, có dạng lá Mebius.

468NHÂN THỂ - ĐỘN GIÁP

Thành thử, có thể nói rằng Linh Quy Bát Pháp có dạng lá Mebius ở đó chất "keo" dán các mép của lá với nhau chính là các tập con trên đây của mã số Tiết Khí của Độn Giáp. Điều này lại làm cho các tập con đó có ý nghĩa cấu trúc sâu xa, nghĩa là Độn Giáp chính là một khoa học cơ bản về cấu trúc tổpó đặc biệt.

Cũng cần nhớ rằng các tập con trên cũng nằm trong khoa Tử Vi.

Hình trong sách
01 (31)30(60) Tổng02(32) 29(59)Tổng07(37) 24(54)Tống
86442515531426425315.2463573524687777713 = 47777713531429425316246351352462777710777777•10
05(35) 26(56)Tổng06(36) 25(65)Tổng11(20) 20(50) Tổng
5364294753182413513624627 ■777710713777105315364264155792416813921010107771010771072975361864752462413513624131377741377137
469TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY
12(42) 19(49) Tổng14(44) 17(47)Tổng0328Tống
2■ 64153152642813924928135107710771071077753152642631524685735746877713713 ■771377132531866429714135136246256666ạ912661596
08(38) 23(53)Tổng13(43) 18(48)Tổng3358Tổng
1426425315363924688135744134101010134410101014297553186936246251351441041313710441371336429753318252462413513688881111668 ■2.118
470NHÂN THỂ - ĐỘN GIÁP
0427Tổng3457Tổng3952Tổng
315364264153924635135246123999939939942641531526413574624635755111151155115111164293153142935136246251399312939939312
Hình trong sách
0922Tổng1021Tổng4051
753142642531462413513624111155551155115515264263153146357952468151151111111155111123
471TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY
Bảng 64. TÍNH CHẤT TÔPÔ LÁ MEBIỤS CỦA LINH QUY BÁT PHÁP
1516Tổng4546Tổng
314297253186625135146246939312■ 1239931212425318364.2971362462513515511551451155148

TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI MÃ ĐỘN GIÁP.

01 02 03 04

Hình trong sách

62 82

Hình 117. CÁCH "DÁN" LINH QUY BÁT PHÁP ĐỂ TRỞ THÀNH LÁ MEBiUS

472NHÂN THỂ - ĐỘN GIÁP

KẾT LUẬN

Chúng ta hãy xét

TÍNH LOGIC

của cấu trúc Độn Giáp, dựa vào logic trình bày ở trang 9.

1- Trước hết, cấu trúc Độn Giáp phải cùng tuyến Triết học, nghĩa là cùng Thiên Bàn - Bát Quái Đồ như với cấu trúc Đông Y, Thời Châm. Điều này đã được thực hiện tại các Hình 20, 21, trang 64, 65.

2. Cấu trúc Độn Giáp lại mang tính sóng tự lập cần thiết cho một quá trình Ngũ Hành.

3. Tiếp theo, sự hòa nhập của nhân thể vào môi trường Độn Giáp cũng đã được thực hiện trước hết với sự xuất hiện song song của bộ mã số 8 5, 2} tại các ngày 01, 06, 11 trong Linh Quy Bát Pháp cũng như trong Độn Giáp, ở Bảng 55a trang 387 và Bảng 46 trang 342.

4. Nhưng tính song song này bị chi phối ít nhiều bởi khả năng nhạy cảm (giờ mở huyệt LQBP xuất hiện sớm hơn so với mã số ĐG), cũng như quán tính của nhân thể (giờ mở huyệt LQBP xuất hiện muộn hơn so với mã số ĐG), và điều này đã được chứng minh ở Bảng 60 trang 394.

5. Mặt khác, học thuyết Độn Giáp mang tính tuần hoàn theo thời gian. Và như đã nói trước đây, học thuyết này cũng mang tính xoắn, vỉ còn phải tính đến tính cộng đồng của cuộc sống, sẽ được trình bày trong học thuyết Thái Ất, với những chu kỳ rộng lớn hơn.

6. Tuy nhiên, các điều nói trên chưa đả động đến các Thiên Tỉnh, ĐỊa Môn, cũng như các điều kiện p và s, và cũng như các ứng dụng khác nhau của Độn Giáp. Tuy nhiên, theo nguyên lý Vũ trụ là Một, mọi việc, mọi hiện tượng cá nhân đều có thể xảy ra

TRONG CÙNG NỘI DUNG CỦA ĐỘN GIÁP

(cưới xin, thời tiết, tu tạo nhà cửa...), nghĩa là tư tưởng gộp các hiện tượng đó vào trong cùng một học thuyết như Độn Giáp là logic.

Cái cần nghiên cứu là phải gộp các hiện tượng đó như thế nào (theo những khái niệm khoảng cách nào đó). Để giải quyết bài toán cực kỳ hóc búa này, một là dựa vào sự

THỐNG KÊ TRONG THỰC TIỀN CUỘC SỐNG, và hai là phải nghiên cứu cái

ĐƠN NHẤT TRONG CÁI ĐA DẠNG, CÁI BẢN THỂ CHUNG

của các hiện tượng đa dạng đó.

Nhưng sự nghiên cứu này sẽ đi theo phương hướng cụ thể nào ? Điều này tất nhiên sẽ dành cho tương lai.

Nói cách khác, để kết luận, theo ý chúng tôi, thì

CẤU TRÚC CƠ SỐ CỦA ĐỘN GIÁP LÀ HỢP LÝ. NẾU CẦN, THÌ CHỈ CẦN BÀN CÁC ỨNG DỤNG CỦA HỌC THUYẾT NÀY.

473TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

TẬP IV

CƠ SỞ THÁI ẤT

HỌC THUYẾT DỰ BÁO

CHUNG CHO CỘNG ĐỒNG

THIÊN cơ

474NHÂN THỂ - THÁI ẤT

(trang để trắng trong bản in)

475TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

PHẦN MỘT

CƠ SỞ THÁI ẤT

THIÊN CƠ

476NHÂN THỂ - THÁI ẤT

(trang để trắng trong bản in)

477TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

MỞ ĐẦU

Chúng ta đã trình bày các cơ sở của các học thuyết Đông Y, Thời Châm, Độn Giáp, cơ bản là những hiện thực của tuyến triết học :

THÁIcựcLUỐNGNGHINGŨHÀNHBÁTQUÁIcửuCUNG
11 2 2 5 8 9 589

trong đó học thuyết Độn Giáp có thể xem như cái mở rộng của Đông Y học và Thời Châm học hay là cơ sở của các học thuyết đó. Chính mối quan hệ đó giữa Độn Giáp và Đông Y học, Thời Châm học đã tạo được cho Độn Giáp một cơ sở logic về các mặt cấu trúc thực thể, chức năng và genetic cần thiết, liên quan đến các cấu trúc của Đông Y học và Thời Châm học.

Ý NGHĨA VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA HỌC THUYẾT ĐỘN GIÁP

Trong lịch sử văn hóa Đông phương, như đã phân tích trước đây, học thuyết Độn Giáp được xem như một trong những học thuyết cơ bản để vạch ra những dự báo về "môi trường thời tiết Tâm - Sinh - Lý" hay "thời tiết Tâm linh - Vật lý" cho từng con người, để con người tìm thấy con đường làm người của mình cho đúng các Thiên cơ của Trời và các điều kiện của Đất, hay theo đúng các quy luật Tâm linh - Vật lý của Vũ trụ.

Gán cho học thuyết vì đại này cái tên "bói toán" là một sai lầm của Chủ nghĩa Duy lý, muốn mọi việc đều phải quy vào góc độ nhận thức theo kiểu nhận thức Duy lý - bài trung (còn hạn chế I) của mình, do nguyên lý bài trung chỉ đúng cho thế giới vật lý vô sinh.

Tất nhiên, chúng ta có thể bác bỏ một vài ứng dụng nào đó trong cuộc sống mà người đời - có một lúc nào đó - đã gán ghép, cho rằng những ứng dụng đó là xuất xứ từ Độn Giáp.

Nhưng nói chung nhiệm vụ các thế kỷ sau là hiện.đại hóa và phát triển Độn Giáp nhằm từ đó tạo được một phương hướng giáo dục đích thực, hợp Đạo làm người cho từng người.

Ý NGHĨA VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA HỌC THUYẾT THÁI ẤT

Nhưng chỉ biết Đông Y học, Thời Châm học và học thuyết Độn Giáp cũng chưa đủ. Vì con người phải sống với cộng đồng, nối chính xác hơn là với nhiều loại cộng đồng khác nhau : gia đình, bầu bạn, quê hương, Tổ quốc, Nhân loại, cộng đồng Vũ trụ.

478NHÂN THỂ - THÁI ẤT

Cha ông chúng ta thường nói :

"TU THÂN - TẾ GIA - TRỊ QUỐC - BÌNH THIÊN HẠ.1'

Các học thuyết Đông Y, Thời Châm, Độn Giáp đã cho chúng ta một số nguyên tấc để tu thân. Học thuyết Độn Giáp cho phép chúng ta đi sâu vào việc tu thân đó, sao cho phù hợp với môi trường thời tiết Tâm linh - Vật lý của Trời - Đất. Nhưng để tế giá, trị quốc, bình thiên hạ, phải còn có một cái gì đó khác nữa. nhằm tạo con đường đích thực của cá nhân sống trong cộng đồng và cả cho cộng đồng.

Trong lịch sử phát triển của Triết cổ Đông phương, đã xuất hiện một loại học thuyết như thế, mang nhiều tên khác nhau...

Theo Lê Quý Đôn, chúng tôi xin gọi một cách đơn giản là học thuyết Thái Ất.

Nói cho cùng, thì hai thuật ngữ Độn Giáp và Thái Ất đều mang một ý nghĩa tương đồng với nhau, nêu lên các đặc tính của một thời kỳ Âm thịnh, hay theo thuật ngữ nhà Phật, thời kỳ Mạt pháp, ở đó nhân loại đang trải qua những giai đoạn tiêu cực, đạo lý suy đổi. Chính học thuyết Thái Ất là một học thuyết nhằm vạch ra con đường đi mang tính Thiên cơ của nhân loại trong một bối cảnh rối loạn như thế của loài người chúng ta.

Và như học thuyết Độn Giáp, học thuyết Thái Ất có tính nhân văn sâu sác. Về mặt triết học, học thuyết Thái Ất cơ bản đi theo tuyến :

THÁI CỤCLƯỠNG NGHITỨ TƯỢNGBÁT QUÁIcửu CUNG
1248 = 4 + 49’

khác với tuyến của Độn Giáp và Đông Y học, Thời Châm học.

Nếu phân tích, ta sẽ thấy rằng học thuyết Thái Ất thiên về Thiên, còn học thuyết Độn Giáp thiên về Nhân và Địa. Thành thử, Thái Ất sử dụng Tứ Tượng, từ đó Bát Quái của Thái Ất (8 « 4 + 4) khác với Bát Quái của Độn Giáp. Có thể xem Thái Ất là cái "bổ sung Tiên thiên - Thiên cơ" của Độn Giáp.

Ý NGHĨA CỦA HỆ 64 QUẺ VĂN VƯƠNG TRONG KINH DỊCH

Hệ 64 Quẻ này thực sự là một lý thuyết về hệ thống tối ưu trước cả một hệ thống tình huống rất phức tạp. Chúng ta say mê học nhiều, nghiên cứu nhiều học thuyết hệ thống tối ưu Tây phương. Điều này rất tốt. Tuy nhiên, chúng ta thường quên rằng ngay trong nền văn hóa Đông phương của chúng ta, cũng tồn tại đã từ rất lâu đời một lý thuyết tương tự như thế. Đó chính là hệ 64 Quẻ Văn Vương. Nhiều trường phái còn nhìn Kinh Dịch thiếu chiều sâu, cho rằng đó chỉ là kết quả của một "trí tưởng tượng" nào đó của người đời xưa, khi "trình độ văn minh họ còn thấp kém" (!).

Khi đề cập đến hệ 64 Quẻ Văn Vương, cha ông chúng ta thường nói :

NGƯỜI QUÂN TỬ PHẢI BIẾT ĐỢI THỜI

Nếu diễn câu nói đó bằng ngôn ngữ hiện đại, chúng ta có thể nói : Con người có hiểu biết và có đạo đức (tức là người quân tử) phải xác định cho được thời điểm

479TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

để hành động một cách tối ưu, dựa vào các nguyên tắc của hệ 64 Quẻ, ở đó không hạn chế trong phạm vi vật chất tẩm thường, mà bao gồm cà tinh thần và đạo lý.

Hơn thế nữa, hệ 64 Quẻ Văn Vương còn liên quan về mặt cấu trúc đến nhiều vấn đề khác, đặc biệt là một số cấu trúc thứ tự và cấu trúc thời gian của Đông Y học, Độn Giáp, Thái Ất... do tính MỘT của Vũ trụ. Như thế, hệ 64 Quẻ đó chưa phải là một hệ tự khép kin.

Nhưng điều đặc biệt quan trọng là tính chân lý của hệ đó. Nếu hệ đó đúng, thì cơ sở logic của nó là gì ?

Xu hướng của tác giả cuốn sách này khi bàn đến vấn đề đó - cũng như trong mọi học thuyết của Triết cổ Đông phương - là tìm mối liên hệ giữa các học thuyết đó với các cấu trúc của nhân thể. Trong góc độ này, có câu hỏi có thể xem chủ yếu nhất là : Phải chăng cấu trúc logic của hệ 64 Quẻ đó là tương đồng với cấu trúc logic của hệ thống các có thể vô hình của nhân thể và mã Di truyền ?

LÊ QUÝ ĐÔN VIẾT LỜI TỰA CHO CUỐN SÁCH THÁI ẤT

Sau đây chúng tôi xin nêu lại quan điểm của Lê Quý Đôn về Thái Ất, ghi trong cuốn sách Thái Ất dỊ giần lục của ông :

"Hiên.Hoàng Đế dẹp xong Xuy Vưu, mộng thấy Tây Vương Mẫu trao cho một đạo bùa, nói : "Thái Ất ờ đằng trước, Thiên Ất ở đằng sau !". Nhân thể, cùng với Lục Mục (tức là bầy tôi của Hoàng Đế) lập đàn ở Thịnh Thủy để cầu, được một con rùa đen đem trao cho một đạo bùa. Bởi vậy mới sai Phong Hậu (cũng là bầy tối của Hoàng Đế) xét kỹ Âm Dương, tham khảo lịch sao để rỗ số độ của Trời Đất, rồi Thái Công và Lưu Hầu suy nghiệm mà diễn giải thêm ra. Đến Khâu Tuấn đời Tống làm ra bài Đào Kìm Ca (nghĩa là bài ca nấu vàng).

Các nhà nho đời Minh lại đem ra bổ chú thêm, nên sách này không còn gi là uẩn khúc nữa, xét thuyết pháp, phần nhiều nói về binh pháp, như cái lẽ địch ta, chủ khách, hơn kém, được thua, thịnh suy, trị loạn, cái thế được hay thua, yên hay nguy, không điều gì là không bày rõ.

Nếu biết lẽ ấy mà tự răn, thì có thể tìm điều lành, tránh điều dữ, tiêu tai họa, vời phúc kết, đó là người giỏi dùng sách Thái Ất vậy ĩ

Trương Hoa làm ra sách Thống Tông Kim Giám, thêm vào những thuyết mới, lấy 64 Quẻ phân phối lại Đại niên vạn lịch. Lấy ba nền tảng Đạo Giáo, năm điều phúc ở Kinh Thư, các Sao đem phân phối vào nhân mệnh, chẳng cùng là cái lối kiên cưỡng, kết hợp ư ?

Kinh Dịch nói : "Giản dị mà lý Thiên hạ được", thiết nghỉ chẳng tự trái.

Soạn tập phép xưa, chuyên cứ vào Đào Kim Cu, tham khảo lấy những điều chép trong sách Vũ BỊ Đăng Đàn, cùng với sách Thái Ất Xuân Thu, lược làm hài quyển để tiện việc suy nghiệm, tưởng chừng là chuyện chép phiếm vậy.

Bởi làm Đại Tướng mà không biết sách ấy, thì sẽ mờ tối ở cách đánh hay giữ, tiến hay thoái, không lấy gì mà quyết đoán các nghi mưu khi ra ngoài cánh cửa.

480NHÂN THỂ - THÁI ẤT

Làm Tể Tướng mà không biết sách ấy, thì sẽ nhầm ở sự động hay tỉnh, cất lên hay gạt xuống, khó lấy gì để quyết đoán những luận nghị lớn trong triều đình ! Đó là bản ý của kẻ ngu này, muốn biên soạn sách bàn về mưu lược. Bởi muốn làm sách đại dụng cho việc nước, để lại cho người đời sau. Mà không phải là lời xằng bậy về sự hưu hay cữu, bói hỏi về cùng hay đạt, như nhãn kiến của một số nhà thuật số vậy.

Nhân thể, đặt tên cho sách là Thái Ất dị giản lục.

Ngày lành, tháng chín, năm Bính Tuất

năm thứ 27 đời vua Cảnh Hưng nước Đại Việt LÊ QUÝ ĐÔN, HIỆU QUẾ ĐƯỜNG