TH Tích hợp đa văn hóa Đông Tây

Tập V — Các hệ 64 Quẻ — cơ sở di truyền, Phong Thủy

Chương 54

Đại cương

Trang 745–767 của bản in·Xem ảnh quét
745

ĐẠI CƯƠNG

I - MỤC ĐÍCH, NGUYÊN LÝ, NỘI DUNG

MỤC ĐÍCH CỦA THUYẾT PHONG THỦY

Thuyết Phong Thủy là một thuyết cổ của Đông Phương có mục đích nghiên cứu địa thế, cảnh quan, sử dụng địa thế cảnh quan để lựa chọn địa điểm cho các công trình kiến trúc :

Dương Trạch

Nhà ở, cung thất, chùa chiền, đồ thị.

Âm Trạch

Lăng, mộ.

KHÍ : Cơ SỞ Bản THỂ CỦA THUYẾT PHONG THỦY

Thuyết Phong Thủy dựa trên hai cơ sở sau :

1. Khái niệm Khí, hay Sinh Khí hay Nguyên Khí. Mối quan hệ giữa Khí và sông, núi.

2. Nguyên lý Thiên-Địa-Nhân hợp nhất.

Khí

1. Khí, hay Sinh Khí, hay Nguyên Khí được xem là bản thể, nguồn gốc của vạn vật. Khí còn gọi là Long (Rồng)

(Bạn đọc có thể liên hệ khái niệm Khí ở đây với các cơ thể 2,4,6 của nhân thể, gồm Khí Tiên thiên và Khí Hậu thiên, hiện nay được gọi là plasma sinh học).

2. Nguyên Khí được xem là gắn bó với nước : Nước giúp Khí di chuyển. Nước di chuyển thì Nguyên Khí cũng di chuyển, nước dừng thì Nguyên Khí cũng dừng. Sinh Khí tụ mạnh nhất tại các nơi giao hội của nước (nơi giao hội các sông chẳng hạn).

(Bạn đọc có thể liên hệ với tính năng của Sinh Khí là được hấp thu trong nước. Sinh Khí làm tăng sức căng mặt ngoài của nước).

746HỆ 64 QUẺ - HỌC THUYẾT PHONG THỦY

3. Nguyên Khí cũng được xem là gắn bó với núi (hay Sa). Từ đó. quan sát hướng đi của núi (hay sơn mạch), ta có thể tìm được Nguyên Sinh...

4. Có Khí lành (cát Khí), và có Khí dữ (hung Khí). Sự lành dữ của khí có thể phụ thuộc vào phương hướng.

5. Những địa điểm lớn tập trung Nguyên Khí (cát Khí) gọi là Địa Linh.

Loan đầu

Phần của thuyết Phong Thủy nghiên cứu HÌNH THẾ : SƠN MẠCH, HÀ LƯU để xác định hướng đi, chỗ tụ của Nguyên Khí hay Sinh Khí gọi là Loan đầu. ■

Thiên tinh

Phần của thuyết Phong Thủy nghiên cứu lý luận về Sinh Khí gọi là Thiên tinh. Phần này còn gọi là LÝ KHÍ (lý luận về Sinh Khí).

Về lý khí thì phải sử dụng một công cụ la bàn đặc biệt gọi là LA KINH, cốt để ĐỊNH HƯỚNG theo nhiều tiêu chuẩn cụ thể khác nhau trên cơ sở Hà Đồ, Lạc Thư, Ngũ Hành sinh khác, Tiên thiên Bát Quái, Hậu thiên Bát Quái, hệ 64 Quẻ Hỗn thiên, Lộc Tinh, Thiên Mã, Quý Nhân.

Tất nhiên, hai phần trên có quan hệ với nhau :

- Hình thế không đẹp mà Lý khí quyết định tốt thì cũng dùng tạm được, - Hình thế đẹp mà Lý khí quyết định sai (đất tốt nhưng cách táng xấu), hay gọi là phạm sát thì theo thuyết Phong Thủy gia chủ sẽ gặp nhiều điều nguy hiểm cho con cháu.

Nói chung Đại địa (Địa Linh) thì hiếm, nên đối với người bình thường là... đất đồi núi bình thường và họ - nếu có thể- cần phải tìm cách xác định lý khí (phương hướng) cho tốt, để con cháu có cơm no, áo ấm có cuộc sống bình an.

NGUYÊN LÝ THIÊN-ĐỊA-NHÂN HỢP NHẤT TRONG THUYẾT PHONG THỦY

Thuyết Phong Thủy với cả hai phần Âm trạch và Dương trạch, quan niệm con người có quan hệ hữu cơ với Trời Đất, cả khi sống, cả khi đã chết (ảnh hưởng đến con cháu còn sống, bạn đọc lưu ý đến các cơ thể vô hình của nhân thể) :

- Về Thiên, chấp nhận có Sinh Khí giáng xuống (Dương giáng) trên các đỉnh núi cao, chấp nhận tác động các vi sao lên con người, như hệ Nhị Thập Bát Tú.

- Vé Địa, chấp nhận có Sinh Khí (gọi là Long) chảy theo các mạch nước, tụ lại, (như đã nói trên đây) và thăng lên (Âm thăng, Thăng Long - Hà Nội), có thể định được các phương hướng tốt xấu cho Dương trạch, Âm trạch.

- Về Nhân, có thể xác định được Dương phần, Âm phần, phúc họa, mệnh, thân. Người có đức lớn ắt sẽ gặp được đất lớn... Người không có đức sẽ không gặp được cơ may tìm thế đất tốt.

Thuyết Phong Thủy là một trong những thuyết phức tạp nhất của người xưa, gây ra nhiều tranh luận gay gắt, kéo đài, do cơ sở có nhiều phần chưa rõ ràng, thiên về bí truyền..

747TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Ý nghĩa của thuyết Phong Thủy về mặt khoa học rất lớn, vì dẫn đến những quan niệm chính xác. sâu xa hơn về Quả Đất, cái nôi của nhân loại chúng ta.

TẠI SAO DÙNG HAI CHỮ PHONG THỦY ?

Người đời xưa dùng hai chữ Phong Thủy, do lý do phải tạo điều kiện tụ khí như sau :

Phong tàng (gió ẩn), Thủy hội, thì khí lụ

Phong phiêu (gió thổi), Thủy đãng (nước thoát tùy tiện), thì khí tán.

Khí thì đi với nước, như đã nói ở trên.

Còn về gió ? Yếu tố này có khả năng thổi bạt khí, khí bị tàn mát, không tụ được.

Điều này cũng đóng vai nguyên tắc khi bảo vệ khí tại Luân xa Bách Hội :

a. Nếu chuyển động nhanh thì nên đội mũ để gió khỏi tán khí trên đỉnh đầu.

b. Khi ngồi thiển, không được để quạt chạy ngay trên đầu.

SÁCH THAM KHẨO VỀ THUYẾT PHONG THỦY

Để trình bày thuyết Phong Thủy, chúng tôi biên soạn dựa vào các tài liệu chính sau (tài liệu về thuật Phong Thủy thì quá nhiều !) :

Phần Loan đầu dựa vào các nghiên cứu của cụ Tả Ao, được trình bày trong cuốn sách Địu Lý Gia Truyền, Bí thư đại toàn (trong Tủ Ao Địa lý Toàn thư) do ông Cao Trung biên soạn.

2. Phần Lý khí (La kinh) dựa vào công trình của Vương Đạo Hạnh, Dương Công... và cuốn sách Sử dụng phương pháp La Kinh, ở Đài Loan của Không Nhật Xương, được trình bày trong cuốn La Kinh Thấu Giải. do Tâm Như Cư Sỉ biên dịch.

3. Phần bình luận được trích trong cuốn sách Hồng Vũ Cấm thư của Dương Quan Tùng (do Nguyễn Văn Minh dịch).

4. Phần bình luận được trích trong cuốn sách Bí ẩn của Phong Thủy của Vương Ngọc Đức, bản dịch của Trần Đình Hiến, nhà xuất bản Văn Hóa Thông tin, Hà Nội, 1996.

Ba cuốn trong bốn cuốn trên ủng hộ thuyết Phong Thủy, còn cuốn thư tư thì phản bác dữ dội thuật Âm trạch.

Phần đóng góp của tác giả, chúng tôi tìm cách đặt vấn để đánh giá thuyết Phong Thủy cho khách quan và tìm cách trình bày lại các tư liệu trên sao cho rõ hơn, mạch lạc hơn và đơn giản hơn, theo các phương pháp trình bày của khoa học Tây phương để bạn đọc có một số tư liệu mà phán xử thuyết Phong Thủy, phần Âm trạch.

748HỆ 64 QUẺ - HỌC THUYẾT PHONG THỦY

II - PHẢN BÁC VỀ THUYẾT (THUẬT) PHONG THỦY

Trước hết, cần nêu lên ý kiến của tác giả Vương Ngọc Đức.

VĂN HÓA THẦN BÍ THEO VƯƠNG NGỌC ĐỨC

Ông viết (trong lời tựa) : "Nối thần bí, có nghĩa là thần kỳ và bí ẩn. Tất cả những nền văn hóa mang màu sác thần bí, đều có thể gọi là văn hóa thần bí. Tam hoàng Ngũ đế, hậu phi thê thiếp, thái giám, ngoại thích (họ ngoại nhà vua), thuật sỉ thầy mo, ẩn sỈ tỉên nhân, thiện nam tín nữ, bang hội, tam giáo cửu lưu, tham phần ngũ điểm, mật tịch cấm thư, dị đoan tà thuyết, âm dương ngũ hành, thiên nhân cảm ứng, kỳ môn độn giáp, tiên tri cấm kỵ, tập tục hủ lậu, xem tướng đoán chữ, luyện đơn dưỡng sinh, chiêm tinh phong thủy, việc lạ chuyện kỳ, vũ thuật khí công đều là văn hóa thần bí.

Văn hóa thần bí là một kho biến ảo thần kỳ, người theo nghiệp học nhìn thấy ở đây ánh hào quang của trí tuệ ; người cầm quyền qua đây mà tổng kết những quyền mưu gìn giữ chính quyền ; người kinh doanh lấy từ đây vô vàn của cải ; kề mê tín thì xin ở đây sợi dây để tự trói mình. Nhìn qua xã hội bây giờ, ở Trung Quốc cũng như ở nước ngoài, không ít người bận rộn với văn hóa thần bí và thành quả cũng không nhỏ. Rất tiếc và đáng giận, trong cảnh huyên náo ấy, có một số tên vô lại trà trộn vào, chúng là những tên bất học vô thuật, nhưng lại biên soạn những sách nhỏ "Ngũ hoa nhập môn "in giấy nến để tuyên truyền mê tín, đảo lộn trắng đen, đầu độc dân chúng, nhằm vét tiền đẩy túi. Kẻ tiểu nhân làm bậy, người quân tử nghĩ sao ? Một số người thừa chữ xem văn hóa thần bí là "không phải hộc thuật" "văn hóa thấp kém", thậm chí cho rằng "thịt chó không thể bày trên nâm chính", sợ ảnh hưởng đến thanh danh cao quý của mình. Mặc cho kẻ tiểu nhân hò hét trên đất bụi, người quân tử nhắm mắt làm ngơ. Thế là văn hóa thần bí càng huyền hổ, càng xám xịt, càng không thể hiểu thấu, thậm chí chỉ rơi vào vũng bùn đen...

THÁI ĐỘ Nhà KHOA HỌC VỀ THUYẾT PHONG THỦY THEO VƯƠNG NGỌC ĐỨC

Ông viết tiếp (trang 12) :

"... thử ngọc phải nung ba ngày mới rỗ, xem gỗ phải bảy năm mới tường". Đánh giá một hiện tượng văn hóa, không thể kết luận một cách tùy tiện, hoặc chưa từng nghiên cứu nó, chỉ nghe người khác nói lại, hoặc nhận thức cảm tính, mà nói rằng xấu, ; ùng nó chẳng có điểm nào hay. Cũng không có thể nói ngay từ đầu rằng nó rất tốt...Do đó, đối với bất cứ hiện tượng văn hóa nào trong lịch sử, khi chưa chẻ ra mà phân tích, nghiên cứu cẩn thận và toàn diện thì không nên kết luận bừa. Đọc nhiều, điều tra kỹ, suy nghỉ cho chín, thảo luận nhiều rổĩ hãy định luận, như vậy mới là thái độ thực sự cầu thị mà chúng ta cần phải có".

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THUYẾT PHONG THỦY THEO VƯƠNG NGỌC ĐỨC

Ông lại viết tiếp (trang 38 -39) :

Phương pháp nghiên cứu Phong Thủy, trước hết, phải kiên tri quan điểm duy vật và quan điểm lịch sử, thừa nhận sự vật phát triển, biến hóa, có quy luật nhất

749TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

định. Thừa nhận vật chất có thể phân tích được, nhận thức được. Phải thực sự cấu thị, qua phân tích, nghiên cứu mà rút ra kết luận, và không ngừng hoàn thiện các kết luận đó.

Thứ hai, phải vận dụng tri thức liên ngành. Thuật Phong Thủy không phải là hiện tượng cô lập, phải nghiên cứu tổng hợp từ sử học, địa lý học, dân tộc học, luận lý học, tâm lý học, mỹ học, xã hội học, kiến trúc học... Qua đó, có một nhận thức toàn diện và sâu sắc về thuật Phong Thủy.

Thứ ba, phải áp dụng xen kẽ các phương pháp khoa học thường dùng, từ quy nạp đến diễn dịch, lại từ diễn dịch đến quy nạp mà phân loại, giả thiết, quan sát, thực nghiệm, số học, tin tức...Phương pháp càng nhiều thì tiếp cận chân lý càng nhanh...

Đồng thời, ta còn phải chú ý phương pháp chỉnh lý văn hiến (tư liệu, thư tịch) và điểu tra xã hội.. không nói đến phương pháp luận tiếp cận hệ thống là phương pháp luận hiện đại nhất hiện nay để nghiên cứu các hệ thống phức tạp NHP).

Bây giờ chúng ta tiếp tục theo dõi một số khâu phân tích khoa học của tác giả trên (trang 15) :

Chúng tôi cho rằng Phong Thủy là một hiện tượng văn hóa, một loại thuật số chọn lành tránh dữ, một dân tục lưu truyền.rộng rãi, một loại học vấn về hoàn cảnh và liên quan đến con người, một tổng hợp về lý luận và thực tiễn. Phong Thủy có thể chia làm hai loại : Âm trạch và Dương trạch. Dương trạch là nơi người sống hoạt động, Âm trạch là mộ huyệt của người chết. Lý luận về Phong Thủy có trường phái Hình thế và trường phải Lý khí. Phái Hình thế nặng về hình thế sông núi và luận lành dữ. Phái Lý khí lại nặng về âm dương, quái lý để luận lành dữ. hạt nhân của Phong Thủy là "sinh khí" (đánh đậm chữ do tác giả NHP). Khái niệm của nó vô cùng phức tạp, đề cập đến long mạch, minh đường, huyệt vị, dòng chảy, phương hướng... Nó có rất nhiều điểm kiêng kỵ, cẩn thận về thời gian, phương vị, địa điểm. Học thuyết về âm trạch mang đậm màu sắc mê tín, đầu độc dân chúng rất nặng. Lý luận về dương trạch và thực tiễn có tính hợp lý nhất định, có thể biến hủ lậu thành thần kỳ...

CÁC ĐẶC TÍNH TIÊU CỰC CỦA THUYẾT PHONG THỦY THEO VƯƠNG NGỌC ĐỨC

Thuyết Phong Thủy có các đặc tính sau :

- Tính phổ biến - Tinh thần bí (trang 33) : "Thuật Phong Thủy trên xem thiên văn, dưới xét địa lý, vận dụng học thuyết thái cực, âm dương, tứ tượng, bát quái, ngũ hành, tinh tượng cực kỳ bí hiểm để dựng nên một hệ thống lý luận, rồi đưa vào những thuật ngữ long mạch, minh đường, sinh khí, huyệt vị... lại áp dụng nguyên lý chỉ nam để làm ra la bàn, tất cả những cái đó đều là thần bí đối với quần chúng mê muội... Không chỉ vậy, các thầy Phong Thủy còn thêu dệt rất nhiều chuyện ly kỳ, hoặc gán ghép những quan niệm Phong Thủy và các sự kiện lịch sử... Hai nghìn năm nay, chưa ai nghiên cứu toàn diện về Phong Thủy, chưa ai gỡ bỏ hoàn toàn cái áo thần bí của thuật Phong Thủy, chưa ai làm rõ cái chân tưởng của thuật Phong Thủy."

750HỆ 64 QUẺ - HỌC THUYẾT PHONG THỦY

- Tính bịp bợm (trang 35) : Muốn bán rao thuốc cao thì phải tán tụng thuốc cao lên tận may xanh, nếu không, dễ ai bị mắc lừa ? Thuật Phong Thủy cũng vậy. Thầy Phong Thủy làm ra vẻ từ tâm, quan tâm đến người khác, cứu vớt sinh linh, để lung lạc nhân tâm...

- Tính ngoan có, tính bảo thủ, tính thực dụng.

NGUỒN GỐC SÙNG BÁI CỦA THUYẾT PHONG THỦY THEO VƯƠNG NGỌC ĐỨC

Theo tác giả trên, nguồn gốc phát sinh của Thuật Phong Thủy là - " Phong Thủy có một bối cảnh xã hội sâu sắc, mà nguyên nhân căn bản là kết quả tất yếu của sự bần cùng và ngu muội, do khoa học chưa phát triển” (trang 47).

- Sùng bái thiên nhiên : "Thiên nhiên có thể làm giàu cho con người, cũng có thể gây tai họa cho con người, có thể quyết định vận mạng của con người, con người phải phục tùng thiên nhiên, đây là tiền để cơ bản của quan niệm Phong Thủy" (trang 48 - 49).

- Sùng bái đất đai :...”Cho nên thầy Phong Thủy thường lấy thí dụ để khuyên người nên- chọn đất đai, mà mọi người cũng dễ tin theo. Thầy Phong Thủy còn nói rằng địa khí quyết định tiền đồ của con người, có thể đem lại giàu sang, và kể một số chuyện để chứng minh, khiến cho một số người có ảo tưởng, bị mác lừa" (trang 51).

- Sùng bái núi lớn : "Các mạch núi nối tiếp nhau như máu trong cơ thể, lại như Tổng đang bay lượn, thầy Phong Thủy gọi đó là long mạch, và làm rất nhiều chuyện về long mạch. Những quan niệm trên đây đều do sùng bái núi mà có "(trang 54).

- Sùng bái gió :"Thầy Phong Thủy gán "bát phong" với lành dữ về mặt nhân sự, khẳng định hậu quả : Bần (nghèo túng), cùng (khốn khổ), bại (tan vỡ), tuyệt (tuyệt diệt), yểu thọ (chết yểu), vô tử (không con). Người chết đã nằm trong mộ, còn sợ gì Ao phong (gió từ chỗ trũng). Ao phong có liên quan gì đến tiền đồ của người sống ? Toàn là chuyện tào lao" (trang 57).

- Sùng bài nước : "Căn cứ vào các hiện tượng trên, thuật Phong Thủy rất coi trong nước, gọi sông ngòi là thủy long. Nước có khả năng thụ khí, con người được sinh khí có thể giàu sang" (trang 59).

- Sùng bái linh hồn : "...(thuật Phong Thủy) cho rằng người chết tuy chết mà vẫn sống. Chết là bản (cái gốc), sống là chi (cành), gốc và cành không bao giờ tách rời nhau. Nếu người chết không yên ổn, thì người sống chẳng tốt đẹp gì. Làm sao biết được người chết yên ổn hay không ? Có hai cách phán đoán. Một là xem phần mộ, một số nơi thịnh hành tục mở mộ huyệt, mở nắp quan tài thấy xác chết rữa nát đến nỗi không muốn nhìn, thì cho rằng người chết nằm dưới đất đã chịu giày vò ghê gớm. Cách phán đoán thứ hai là, nếu người sống đau ốm hoặc bị tai nạn, thì cho rằng đó là do người chết không yên ổn gây ra.

Làm thế nào để người chết được thảnh thơi ? Thầy Phong Thủy phát minh ra hàng loạt phương pháp xem đất, từ long mạch đến chất đất, từ cửa huyệt đến hoàn cảnh xung quanh huyệt, nói rằng chọn đất kết (báu địa) thì xác chết sẽ không bị thối rữa, linh hồn người chết sẽ sinh phúc cho người sống. Thật ra người chết như

751TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

ngọn đến tất, còn làm gì có linh hồn ? Không có linh hồn, nói gỉ đến phúc âm. Rất dễ hiểu, mời thầy Phong Thủy xem đất, chỉ là phí công vô ích mà thôi" (trang 62 - 63). (Khoa học hiện đại đang tập trung nghiên cứu phần vô hình của con người và liệu có sự sống sau cái chết hay không và chưa có kết luận công nhận (pro) hay bác bỏ (contre) chính thức, NHP).

TÓM TẮT PHẨN BÁC CỦA VƯƠNG NGỌC ĐỨC

Với các ý kiến trên, có thể tóm tắt kết luận phản bác thuyết Phong Thủy của tác giả Vương Ngọc Đức theo những câu trích sau :.

"Tướng dương trạch còn có ý nghĩa nhất định, tướng âm trạch thì hoàn toàn vô nghĩa", (trang 22).

-"Ngày nay môn học truyền thống (Phong Thủy, NHP) đã bị khoa học cận đại thay thế và đổi mới. Ty Thiên giám (cơ quan phụ trách khí tượng kiêm tướng địa trước đây ở Trung quốc, NHP) không còn nữa, chỉ còn đài thiên văn và cục khí tượng. Sự phân chia kinh, sử, tử, tập đã bị đào thải, cách chia ấy chỉ còn ở loại sách đóng bằng chỉ (sách ngày xưa). Âm dương học cũng không còn, mọi người nghe nói đến âm dương học là cảm thấy ớn. Địa lý học với tư thế hoàn toàn mới mẻ, ngạo nghễ tiến lên bằng những bước đi khoa học chuẩn xác, bỏ lại Phong Thủy phía sau, và cảm thấy hổ thẹn vì trước đây có một đồng ngũ trà trộn trong cơ thể cao quý của mình" (trang 26).

Trong các ý kiến trên của Vương Ngọc Đức có một số nhận định đúng, vì quả thực cũng có một số "thầy Phong Thủy" bịp bợm, làm tiền một cách vô lương tâm, cần cảnh giác đến cao độ. ■

Mặt khác chúng ta cũng hoàn toàn đồng ý với Vương Ngọc Đức rằng thuyết Phong Thủy chưa hề có một cơ sở khoa học chắc chắn, và những nhà khoa học chúng ta cần nghiên cứu để có một kết luận chính xác về thuyết Phong Thủy, đầy rắc rối và bí ẩn này.

III - VẤN ĐỀ SINH KHÍ LÀ MẤU CHỐT CỦA THUẬT PHONG THỦY

VỀ Cơ SỞ KHOA HỌC CỦA THUYẾT PHONG THỦY

Trước hết cần phân biệt hai vấn đề :

1. Thuyết Phong Thủy chưa hế có một cơ sở khoa học chắc chắn.

2. Thuyết Phong Thủy không bao giờ có cơ sở khoa học.

Chưa ai chứng minh được sự khẳng định 'thứ hai. Vậy hãy đặt vấn đề đi tìm cơ sở khoa học của thuyết Phong Thủy trên cơ sở các phát minh khoa học cuối thế kỷ, trước khi kết luận về toàn cục của thuyết Phong Thủy. Đó là thái độ khoa học sáng suốt, thông minh và nghiêm túc cẩn có.

VẤN ĐỀ SINH KHÍ TRONG THUYẾT PHONG THỦY

Then chốt của bài toán đánh giá thuyết Phong Thủy là khái niệm sinh khí :

752HỆ 64 QUẺ - HỌC THUYẾT PHONG THỦY

Thực thể này có tồn tại thực sự hay không, hay đó chỉ là ảo tưởng của người đời xưa ? Nếu thực thể này thực sự tồn tại, thì các tính năng của nó là gì ?

1. Để đi đến các kết luận phủ nhận hoàn toàn âm phần trong Phong Thủy, chưa thấy nói tác giả Vương Ngọc Đức đã dựa vào những tư liệu khoa học hiện đại nào về sinh khí nói trên.

Đành rằng chúng ta phải dựa vào khoa học để xét đoán, nhưng khoa học bao giờ cũng phát triển, khoa học thế kỷ sau nhất định khác khoa học thế kỷ này. Nói cụ thể hơn, khoa học về con người, về cái sống cái chết... đã khởi đầu và đang dần dần hình thành trong cuối thế kỷ này. Những kết luận về con người, về sự sống... chỉ có thể đúng đắn khi dựa vào chính khoa học về con người. Nhưng nếu khoa học này chưa hình thành, thì những kết luận đó sẽ dựa vào đâu, để sự giải đáp mang tính logic và thuyết phục của nó ?

Hiện nay trên thế giới, khoa học đang đi vào những lĩnh vực tần số hết sức cao (Radionics - xem phần Cận Vật lý) và đặc biệt ở tần số rất thấp (khoảng l-4Hertz), nằm ngoài băng tần số từ tần số hồng ngoại đến tần số tử ngoại, tia X.

Khoa học hiện đại về các băng tần số vượt khung này có thể giúp chúng ta giải bài toán sinh khí hay không ?

Ông Vương Ngọc Đức tuyên bố làm việc với một tinh thần và những phương pháp khoa học thực sự, nhưng ồng chưa hề cho biết ông nghiên cứu sinh khí theo khoa học nào để bác bỏ nó ?

2. Chúng ta có thể tiếp cận khái niệm sinh khí như sau :

Theo Nội Kinh, Sinh khí đó tồn tại trong con người, gọi là khí Tiên thiên hay Nguyên khí, hay Long khí, mà biểu hiện quan trọng nhất trong Đông y học là Mệnh Môn Hỏa : Mệnh Môn hỏa điều khiển mọi tiềm năng năng lượng và nhiệt lượng cần thiết cho cơ thể con người. Khổng cố Long khí đó thì kinh Tam tiêu - sứ giả của Mệnh Môn Hỏa - cũng chẳng còn lý do để tồn tại, và các nhà Dông y học sẽ "dẹp’ cái thứ Tam tiêu mê tín đó đi, khi đố toàn bộ Đông y học sẽ sụp đổ. Thành thử nếu Đông y học vẫn tồn tại, thì quả thực có tồn tại loại sinh khí đó trong nhân thể.

Nếu sinh khí đó tồn tại trong nhân thể thì không thể có thái độ phủ nhận sự tồn tại của nó trong đất đai một cách vũ đoán. Nếu Địa chất học hiện đại, bằng những máy móc thích hợp, hoạt động trong những bằng tần số rất rất cao, chứng minh được cái thứ Long khí "mê tín, dị đoan" đó là quả thực không tồn tại trong đất đai, thì thuật Phong Thủy cần phải được nhanh chóng loại trừ ra ngoài khoa học và cuộc sống chúng ta. Và mọi người đều yên tâm về cơn ác mộng Phong Thủy đó. Nhưng những chứng minh này chưa hề có ! Như thế, toàn bộ cuốn sách của ông Vương Ngọc Đức chỉ dựa trên giả thuyết không tổn tại một sinh khí nào cả.

3. Lĩnh vực sinh khí là một trong những lĩnh vực cực kỳ quan trọng trong khoa học : lĩnh vực năng lượng. Khoa học hành tinh chúng ta đã đi từ năng lượng cơ học, sang năng lượng hấp dẫn, tiến đến năng lượng nhiệt, năng lượng điện tử hạt nhân, năng lượng các hạt cơ bản, năng lượng vật chất... Nhưng con đường con người săn đuổi năng lượng đó phải chăng đã kết thúc ? Chưa ai chứng minh được điều này ’

753TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Nếu sinh khí tồn tại thực sự trong đất đai, thì những biểu hiện năng lượng của nó như thế nào, cả trước khi con người chết, cả sau khi con người chết ? Nhà khoa học nghiêm túc không thể khẳng định một cách vũ đoán rằng những tác động của sinh khí đó và các biểu hiện của nó sau khi con người đã chết sẽ hoàn toàn kết thúc.

Người bình thường cần cảnh giác cao độ về các trò bịp bợm nhân danh Phong Thủy, còn nhà khoa học thì phải cẩn cảnh giác cao độ với một số hàng rào kiến thức, một thời đã là hoàng kim, nhưng nay mai thể trở thành lỗi thời, vì sao ? Vì chưa ai khẳng định được là đã nắm được mọi quy luật của Vũ trụ mênh mông, bao la... với những nghịch lý của chúng, vì cần nhớ rằng thông thường khoa học phát triển qua các nghịch lý, các quy luật sau lại phủ định quy luật trước, theo tinh thần phát triển biện chứng của sự nhận thức.

Đọc tác phẩm trên của Vương Ngọc Đức, rất mừng đã biết được có những lập luận phản bác cực kỳ dữ dội về thuật Phong Thủy. Khi soạn ra phần Phong Thủy sau này, chúng tôi sẽ có thái độ khách quan đúng mức, một là để đối phó với sự bảo thủ trong khoa học, hai là để làm cho bạn đọc thấy rằng thuật Phong Thủy cần được nghiên cứu nghiêm túc hơn, trước khi phán xét số phận của nó.

Hơn nữa, với những tiến bộ hiện nay của khoa học Tây phương, chúng ta có khả năng kiểm tra sự tồn tại của Sinh khí trong nhân thể, và từ đó tiến tới kiểm tra sự tồn tại của Sinh khí trong đất đai. Bài toán thuật Phong Thủy và đặc biệt Phong Thủy Âm trạch mong sẽ có giải đáp khoa học dứt điểm.

IV - GIẢ THUYẾT Cơ BẢN CỦA THUYẾT PHONG THỦY

Các thuyết (học thuyết) Phong Thủy sau này sẽ được trình bày theo giả thuyết sau, ngược hẳn với giả thuyết của Vương Ngọc Đức :

Giả thuyết chấp nhận có tồn tại Sinh khí (tức là Long khí hay Nguyên khí) trong đất đui và các tác động quyết định của nó lên hài cốt và lên phần vô hình của người, trên cơ sở nguyên lý Thiên Địa Nhân hợp nhất, tương tự như tác động quyết định của Mệnh Môn Hỏa trong nhân thể.

Trong những điều kiện đó, một sự trình bày khá cụ thể các thuyết (học thuyết) có liên quan sẽ cho phép bạn đọc kiểm tra lại được phần nào thuyết Phong Thủy trong thực tiễn, để có những kết luận về các mức độ đúng, sai của thuật Phong Thủy đó một cách công bàng, mà không bị chi phối bởi những thiên kiến thiếu tính khoa học.

Tất nhiên, từ sự kiểm tra trên thực tiễn, chúng ta sẽ quay lại đánh giá các giá thuyết ban đầu.

Muốn bác bỏ một cái gì đó, trước hết ta phải hiểu nó là cái gì, nó biểu hiện như thế nào... đây chính là lương tri khoa học.

Chúng tôi tránh những định nghĩa rườm rà, chú trọng đến các sơ đồ cụ thể suy ra từ các thuật toán xác định của thuyết Phong Thủy.

754HỆ 64 QUẺ - HỌC THUYẾT PHONG THỦY

V - ĐẤT NƯỚC VỚI ĐỊA LINH

Truyền thống cha ông chúng ta đã dạy :

Địa linh sình Nhân kiệt. Và xin nhắc lại đoạn sau, đã trình bày ở phần Đại cương :

HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ CỦA ĐẤT NƯỚC

NGUYÊN KHÍ VỮNG THÌ NƯỚC MẠNH VÀ THỊNH

NGUYÊN KHÍ YẾU THÌ NƯỚC YẾU VÀ SUY

CHO NÊN CẤC THÀNH ĐẾ, MINH VƯƠNG

KHÔNG AI KHÔNG CHĂM LO VIỆC

XÂY DỰNG NHÂN TÀI, Bồi ĐẮP NGUYÊN KHÍ

VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM

Hiền tài với Nhân kiệt là đồng nghĩa, còn Nguyên khí chính là bản thể củn, Địa linh. Nước chúng ta có nhiều Địa Linh lớn như Chùa Hương, Tản Viên Sơn, Thất Sơn, Kiếp Bạc, Ngũ Hành Sơn, Tam Đảo Sơn, Yên Tử Sơn, Hồ Tây, Hồ Hoàn Kiếm, Chùa Dâu, dãy Ngọc Sơn...

Địa linh có liên quan đến Sơn, Thủy :

SƠN THÌ HÙNG Vĩ, THỦY LÀ NƠI CÓ NHIỀU CON SÔNG TỤ LẠI.

Núi càng hùng vỉ thì khả năng bắt Nguyên khí từ Trời càng lớn (như Luân xa Bách Hội bắt Nguyên khí từ Trời xuống). Còn nơi nào có nhiều sông tụ lại là nơi được tụ khí nhiều nhất, vì nước kéo theo Nguyên khí hay Long khí.

Ví dụ - Nói đến vua Hùng ở Việt Trì chính là nơi hội tự ba con sông lớn là sông Đà, sông Lô, sông Thao.

- CỐ Đô Huế là nơi hội tụ các con sông Tả Trạch, Hữu Trạch và sông Hương Giang.

- Còn nơi hội tụ các sông Thu Bồn, Cổ Cò, sông Trường Giang chính là nơi cha ông đã dựng lên phố Cổ Hội An.

- Địa Linh Kiếp Bạc, nơi dựng đền thờ Đức Thánh Trần, là một Địa Linh hùng vỉ : Sau lưng có núi như ngai vua, trước mắt là con sông Thủy, bên trái có Thanh Long, là một dãy núi mang tên dãy Nam Tào, bên phải là đãy Bạch Hổ, tức là dãy núi Bắc Đẩu.

Một số thành phố cũng dựng lên dựa vào Địa Linh, theo công thức

Thiên-ĐỊa-Nhân :

755TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Sau có Thánh Địa (Sơn-Thiên), ở giữa là thành phố (Nhân) và phía trước có Minh Đường (Thủy-ĐỊa).

Ví dụ - Thăng Long (Hà Nội) đằng sau dựa vào Đển Hùng, còn đằng trước là Bến Cảng, - Quảng Ninh đằng sau dựa vào dãy Yên Tử, còn đằng trước là Cảng Của ông, - Các thành phố An Giang đằng sau dựa vào dãy Thất sơn, còn đằng trước là Cảng Ốc Eo, - Việt Nam đằng sau dựa vào dãy Trường Sơn, đằng trước là Biển Đông.

Đó là Địa Linh thuộc quy mô lớn.

VI - CON NGƯỜI VỚI MỒ MẢ

Với quy mô nhỏ thi cổ nhân lại nói :

"Núi sông có linh thiêng mà không có chủ, còn hài cốt cổ chủ lại không có linh thiêng. Khí thiêng của núi sông tụ lại, chung đúc khí linh anh lại một chỗ, làm cho hài cốt ấm áp, trong sạch. Từ đó tinh khí đó truyền lại cho con cháu, thấm nhuần vào con cháu, và phát sinh được người tinh anh...”

Chúng ta nhận xét có một cấu trúc năng lượng chung, thống nhất về {thành phố, mồ mả, nhân thể), theo công thức : Một {Thái Cực} sinh Hai {năng lượng Thiên, Địa}, Hai sinh Ba {năng lượng cộng đồng ở thành phố, hài cốt, nhân thể}, Ba sinh vạn vật của lão Tử... (xem Hình sau). Tất nhiên, đây chỉ là hệ quả sinh học của Nguyên lý Phi bài trung của Triết cổ Đông phương.

756HỆ 64 QUẺ - HỌC THUYẾT PHONG THỦY

Sơ ĐỒ CẤU TRÚC NĂNG LƯỢNG THIÊN - ĐỊA - NHÂN KHÁI QUÁT

THÀNH PHỐ MINH ĐƯỜNG THÁNH ĐỊA

Nơi Thủy tụ Sinh khí từ Nơi Sơn tiếp Sinh khí từ Cộng đồng NHÂN ĐỊA THIÊN

DƯƠNG : CẤU TRÚC NĂNG LƯỢNG THIỀN-ĐỊA-NHÂN CỦA CÁC THÀNH PHỐ

NÚI HUYỆT MINH ĐƯỜNG

Nơi Sơn tiếp Sinh khí từ => Hài cốt tử Nơi Thủy tụ Sinh khí tử

THIÊN NHÂN ĐỊA

ẮM : CẤU TRÚC NĂNG LƯỢNG THIÊN-ĐỊA-NHÂN của Mổ MẢ

Hình trong sách

CẤU TRÚC NĂNG LƯỢNG thiên • ĐỊA - NHÂN CỦA NHÂN THỂ

757TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

VII - CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA SINH KHÍ

Vấn để đặt ra là tìm hiểu bản thể và các cơ chế có liên quan đến các vấn đề trên. Tất nhiên đây là một vấn đề không đơn giản, lại là một trong những học thuyết tinh vi, phức tạp nhất dẫn xuất từ Triết cổ Đông phương.

Nếu dùng thuật ngữ khoa học hiện đại, thì ở đây phải chăng chúng ta sẽ để cập đến những

HÌNH THÁI SINH KHÍ - VẬT CHẤT RẤT MỊN, VỚI CÁC ĐẶC TÍNH KHÔNG GIAN - THỜI GIAN NÀO ĐÓ

mà vật lý học hiện đại chưa biết đến, với những

LOẠI TẦN SỐ RẤT CAO VÀ MỘT cơ CHẾ CỘNG HƯỞNG MỞ RỘNG

nào đó...

VĂN CHƯƠNG VÀ KHOA HỌC

Có thể những vấn để này không chỉ liên quan đến những cấu trúc vô hình của con Người và Trời, Đất, mà còn có thể đóng khung ngay trong cả một dân tộc hay cà một gia tộc, mà trong văn học thường gọi là Hồn Thiêng đất nước, Hồn Thiêng núi sông, Hồn Thiêng gia tộc...

Nhưng đó không chỉ là những biểu tượng văn học, chỉ có ý nghĩa văn học. vì làm sao chúng ta hiểu được tại sao trong mấy nghìn năm nay, những thế lực bành trướng phương Bác và hiện nay từ nhiều phương khác nhau đều cố tỉnh sử dụng ngẩm nhiều loại vật chất xác định nào đó để "yểm", tức là triệt tiêu, băm nát hay hạn chế ảnh hưởng của các Địa Linh của chúng ta ? Và hơn nữa, họ lại đang cố tình muốn đánh lạc hướng cả thế giới bàng vài dòng sách báo "khoa học" bề ngoài của họ ?

Như Cao Biến ở thế kỷ thứ 9 đã ba lần dùng hàng tấn sát và đồng để phá vỡ Địa Linh Tản Viên Sơn, nói chính xác hơn Thiên Linh Tàn Viên Sơn, một Thiên Linh ngang hàng với Thiên Linh Chùa Hương Tích...

Nhưng tại sao cả ba lần mưu mô của Cao Biến đều bị thất bại : các kim loại đó cà ba lần đều bị sét đánh tung ra ?

Đó chỉ là những hiện tượng sấm sét, hoàn toàn vật lý, thuần túy vật lý chăng ?

Hay Cao Biến và vua Tàu thời bây giờ mê tín chăng ? Còn bây giờ thì họ đã quy thuận "khoa học và hết mê tín" rồi và "thiện chí uốn nắn cả thế giới theo con đường khoa học" ?

Còn đối với mỗi người, chúng ta sẽ chôn thân nhân đã mất của chúng ta như thế nào ?

- Chôn hài cốt vào các nơi không Long, khống Huyệt, Thủy tán, Sa phi ?

- Chốn không đúng phương hướng cho Thủy hung vào, Khí xung vào hài cốt ?

Để rồi con cháu hứng chịu bao nhiều bất hạnh theo thuật Phong Thủy ?

758HỆ 64 QUẺ - HỌC THUYẾT PHONG THỦY

Sau đây là một minh họa về Âm trạch, nằm ngoài trò bịp bợm của các "Thầy Phong Thủy".

VUI - TỌA KHÔN, HƯỚNG CẤN THÌ PHÁT VỀ VĂN...

(Trích bản thảo : Nguyễn Hoàng Phương, phiêu lưu và đối thoại Xuân Cang, sách đang biên soạn)

Nhà văn Xuân Cang kể :

Gần đấy có giúp một họ trong một làng quê sửa chữa, khôi phục một cuốn tộc phả có giá trị. Cuốn tộc phả đó phản ánh sự thăng trầm của một dòng họ trải hơn năm trăm năm, cho đến trước Cách mạng Tháng Tám, bản chép tay chữ Việt nam dưới đáy balô của một vị là cán bộ, một người con trong họ, giữ được qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Được ông và vị đại diện của dòng họ ông cho phép, tôi xin kể câu chuyện sau đây.

Đời thứ nhất của dòng họ bắt nguồn từ một đôi vợ chồng thuần phác, không biết từ đâu đến lập nghiệp ở một làng quê ven đô Thăng Long (tức Hà Nội bây giờ) lấy nghé nông làm nghề sinh nhai. Ngoài ra, thỉnh thoảng cụ bà, một người con gái có nghề buôn thuốc bác, còn lên Thăng Long cất hàng mang về cho các thầy lang trong vùng. Mỗi bận đi về như thế mất hai ngày. Một hôm, hai cụ đi cất hàng ở một hiệu Khách (chủ hiệu người Tàu) mang về nhà, khi soạn lại thấy trong lọ hỏa dược (diêm sinh) có đôi hoa tai vàng chạm trổ óng ánh, mỗi góc cạnh một vẻ, càng nhìn càng ưa, đẹp ngơ ngẩn cả người. Các cụ bàn tính : Của quý này tự dưng vào tay ta, ta cất dấu đi chả ai biết đây là đâu. Nhưng nó không phải của ta. Đã không phải của ta mà ta cứ dùng thì nó là đồ phi nghĩa. Vợ chồng ta tuy một chữ bẻ đôi không biết nhưng thi thoảng được hầu chuyện các thầy lang, được hay trên đời có hai hạng quân tử với lại tiểu nhân. Ta muốn làm bậc quân tử sao lại dùng của phi nghĩa ? Thôi thôi cứ mang trả là hơn. Nghĩ vậy hai cụ bèn cứ cất công ra Thăng Long trả đổi hoa tai vàng cho chủ hiệu. Cà nhà ông chủ hiệu người Tàu đều giật mỉnh kinh ngạc, vỉ cứ nghỉ rằng báu vật đã không cánh mà bay mất. Họ hết lời cảm tạ, mang bao nhiều là của ngon vật lạ ra biếu hai cụ, nhưng hai cụ nhất định không chịu nhận, nói rằng còn để phúc cho con cháu về sau. Người chủ hiệu không biết làm thế nào, chỉ còn dặn với, khi hai cụ ra về : Thôi thế chúng tôi dội ơn hai bác, để khi nào có thầy địa lý hay bên nhà sang, chúng tôi sẽ nói tìm cho các cụ nhà ta một ngôi dất phát phúc. Hai cụ miễn cưỡng vâng. Chuyện ấy lâu dần quên đi. Mãi đến đời cụ tổ thứ ba, lúc bây giờ vào triểu vua Lê Chân Tôn, một hôm hai mẹ con vừa đi đồng về, đang băm bèo thái rau. Bỗng thấy các viên chức dịch dẫn quân lính vào nhà mời cả ba mẹ con ra ngoài cánh đồng có việc hệ trọng. Cụ bà và hai con đều giật mình, nửa mừng nửa sợ. Mừng vì thấy được chức dịch và quân lính lễ phép chào mời, sợ vì không hiểu có việc gì, đành phải theo đi. Ra khỏi cổng làng thì thấy có cờ xí rợp một quãng đồng, quân Tàu, quân ta đứng xúm xít dưới gốc gạo Mã Nàng, tiếng chiêng tiếng trống như ngày hội. Các quan chức khăn đóng áo dài chững chạc. Ngồi giữa chiếu là một viên quan Tàu mũ, áo, lọng, biển sáng trưng. Ba mẹ con sụp lạy xong, người thông ngôn mới dẫn dụ một hồi cho biết đầu đuôi câu chuyện. Số là ba đời trước có chuyện cụ

759TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

tổ đem trả lại đôi hoa tai vàng. Đó là đôi hoa tai của chính cung Hoàng hậu bên Tàu. Cô em gái người chủ hiệu thuốc ở Thăng Long mới được tuyển vào làm đệ nhị cung phi có mượn của Hoàng hậu đôi hoa tai ấy, giao cho ông anh kén loại vàng mười ở nước Nam, theo mẫu kéo hai đôi nữa làm đồ tiển. Chủ hiệu vàng chưa kịp tìm thợ khởi công thì đôi hoa tai đã biến mất. Thì ra cậu con trai quý tử có lần lén lấy chơi, tiện tay bỏ vào lọ hỏa được rồi quên béng mất. Cả hiệu đang lo cuống lo cuồng về chuyện tày trời thì được người khách quê mang trả báu vật. ơn ấy, người nhà quê quên đi nhưng ông chủ hiệu thì nhớ. Trước khi qua đời, ông chủ hiệu già có di chúc lại cho con cháu thế nào cũng phải thực hiện lời hứa, đón thầy địa lý hay về làng để trả ơn. Nay người cháu của ông chủ hiệu làm quan bên Bác triều, tuân theo lời di chúc, nhân sang dự lễ phong vương nước Nam, có mang theo thấy địa lý chính tông đến cánh đồng đây đặt cho con cháu người một ngôi đất phát phúc. Ông thông ngôn nói xong, quan Tàu bèn gọi hai người con cụ đến gần để hỏi ý kiến. Thầy địa lý nói : Cũng ngôi đất này xoay hướng nọ thì phát phú gia địch quốc, nhưng chỉ được một đời, còn về dường văn học một chữ cũng không. Xoay về hướng kia, tọa Khôn hướng Cấn Ợ) thi phát về văn, dời dời chỉ học đỗ tới mức cử nhân, tú tài, có hơn kém cũng chỉ chút ít, nhưng văn mạch thì lưu truyền mãi mỗi không bao giờ hết. Vậy nhà ta muốn chọn hướng nào ? Hai người con xin phép lui ra để bàn với mẹ. Ba mẹ con bàn tính một hồi, người con cả mạnh bạo thưa với quan Tàu :"Đất phát cự phú mà văn lại khảo bảy ngày không biết một chữ thì của dẫu nhiều chẳng khác gì người giữ của, huống chi của lại hhông bền. Đất phát vỗ.n dầu rằng chỉ đỗ dạt nho nhỏ nhưng được lâu dài, hưởng phúc không bao giờ hết. An dè dược lâu cầy sâu lúa tốt. Chúng tôi xin thuận về đường phát văn." Quan sứ Tàu và hai vị địa sư tấm tắt khen ba mẹ con biết nghỉ xa. Bèn truyền lệnh đào chính giữa một gò đất, sâu hơn hai dải thừng, rồi phân kim táng mộ cụ tổ đời thứ ba chính giữa mắt con phượng, kiểu đất Phượng hoàng hàm thư. Đoạn quân trẩy về kỉnh. Ba mẹ con về nhà tâm niệm con đường khoa cử, bèn rước thầy về rèn cặp ngày đêm. Quả nhiên người con trưởng đã khai khẩn rừng Nho cho cả gia tộc. Năm 17 tuổi cụ thi đỗ Tú tài. Sau này cả họ tôn vinh cụ là Khai khoa triệu tổ, vị tổ mở đầu dòng khoa bảng cho cả họ. Các tổ đời thứ tự, thứ năm đều có người đỗ Tú tài, Cử nhân. Rồi đến đời thứ sáu, có một nhánh phát triển rực rỡ rồi đột ngột rơi xuống vực thảm. Một cụ tổ thông minh, học giỏi đậu đến Tiến sĩ được bổ làm Đốc đổng một tỉnh miền núi, làm vẻ vang cho cả họ. Do những xung đột nội bộ giữa các quan cai trị ở địa phương - cuộc xung đột này phản ánh cuộc xung đột giữa vua Lê và chúa Trịnh - đã dẫn tới nhưng âm mưu hãm hại lẫn nhau. Cụ tổ có học vị Tiến sỉ duy nhất của gia tộc đã cầm gươm tự sát để tỏ lòng trung với vua. Và tất cả những người trong gia đình, các thân nhân đi theo đã tự vẫn theo, cả thảy hơn 20 người. Trên bản đồ cây gia tộc, nhánh ấy bị cụt. '•

Vị đại diện dòng họ buồn rầu kể tiếp : Sau vụ bi thảm đó, họ chúng tôi rút ra một kinh nghiệm lịch sử và truyền lại cho đến hồm này. Là khí thiêng của địa lý đã định ra như thế, thì người trong gia tộc phải biết cái hành lang số phận của mình. Có thể do mật mã di truyền, ngày nay ta hiểu như thế, đến một đời nào đó đột xuất có người thông minh kiệt xuất, đường cộng danh phú quý vượt trội hẳn lên. Nhưng xin hãy nhớ mộ tổ táng ở đâu và biết dừng lại khi chưa là quá muộn. Đây, ông chỉ vào cây gia tộc, hiện nay họ chúng tôi có hai nhánh khá là sum suê.

760HỆ 64 QUẺ - HỌC THUYẾT PHONG THỦY

Một nhánh biết kình doanh, giàu lên trông thấy, con cháu đều ăn nên làm ra, những không thể ở quê nhà, phải ly hương ít nhất ba đời nay, hiện có người lập nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh, có người trôi dạt sang Mỹ... Một nhánh khác vươn lên tỏa bóng, sau này thành một cụm lớn. trung tâm của gia tộc, trong đó có một chú phát triển về đường quan chức cách mạng cũng khá là nhanh, tới hàm thứ trưởng. Nhưng chú ta cũng biết phận mình, vừa đúng tuổi hưu làm đơn xin rút liền, may được Trung ương đồng ý. Chú ta bảo : Trong nội bộ cơ quan em, đã xuất hiện những triệu chứng bất hòa, tính em lại thẳng, em mà ở lại chỉ một năm nữa thôi là có thể nguy to. Sau một ngày xuân về viếng mộ tổ, em chợt nhớ ra gương cụ tổ đời thứ sáu, em quyết định dừng luôn, tự đình chỉ luôn, không ham hố nữa, để phúc cho con cháu. Như vậy đấy, con người phải biết điều với số phận của mình, trong họ chúng tôi không còn ai có học vị cao nữa. Học đều đều, Cử nhân, Tú tài là cao nhất. Nhà nhà đều vừa đủ để mát mặt với hàng xóm, chúng tôi không có gì để ân hận. Anh thấy vấn để địa linh có ghê không ?

IX- TẦM QUAN TRỌNG CỦA SINH KHÍ TRONG ĐẤT ĐẠI CÓ GÌ KHÁC KHI NHÂN LOẠI SỐNG TRÊN MỘT QUẢ ĐẤT KHÔNG KHÔ CĂN ?

Trước khi chuyển sang phần trình bày một số vấn để cơ sở của thuyết Phong Thủy theo giả thuyết có tổn tại Sinh khí trong đất đai, tác giả muốn nhấn mạnh rằng vấn đề này là cực kỳ quan trọng về mặt khoa học. Tại sao ?

Tại vì sự phát hiện được Sinh khí trong đất đai là tương tự như sự phát hiện hệ thống Kinh, Mạch, Huyệt trong Đông y học và từ đó là sự phát hiện Trường sinh học nhân thể. Chúng ta biết rằng sự phát hiện này đã dẫn đến một sự hiểu biết sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa con Người và Trời Đất, nghĩa là dẫn tới một Vũ trụ quan và Nhân sinh quan có tầm sâu nhất.

Tương tự như thế, nếu đất đai cũng có Sinh khí, thì cách nhìn Quả Đất chúng ta sẽ thay đổi căn bản. Chúng ta không còn sống trên một cái nôi khô cằn, mà lại trên một cái nôi, có sức sống sinh học của nó, có sức mạnh hỗ trợ cho loài người như một người mẹ thực sự, cung cấp cho con cháu mỉnh không những loại năng lượng vật lý thông thường, mà cả nhiều loại năng lượng sinh học quý báu, khó lường về hiệu quả.

Nếu có một ai thành công trong việc đặt mổ mả đúng huyệt theo đúng thuật Phong Thủy, thì tất nhiên đây là một điều đáng mừng. Thành công này mang thêm một điểm trong kết quả thống kê dương tính trên thực địa về thuật Phong Thủy. Nhưng chúng tôi chưa xem đó là điều quan trọng nhất, vì sao ?

Vì có những cái lớn hơn thế nhiều. Đó là việc những sự kiện dương tính này sẽ tạo nên một định hướng khoa học tối quan trọng : Có tồn tại thực sự của những dòng Sinh khí như thế trong lòng hành tinh chúng ta ?

Và nếu được thế thì sẽ có những ảnh hưởng rất cơ bản đối với sự sống còn và số phận của nhân loại chúng ta trên cái nôi Tâm - Sinh - Lý này.

761TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Nói riêng, một dân tộc đã được Thiên nhiên ưu đãi vé Địa Linh và Sinh khí sẽ phải suy nghĩ như thế nào về trách nhiệm bảo vệ và khai thác sức mạnh Tâm “ Sinh - Lý đó, để có chương trình tạo nên được những anh hùng hào kiệt, những hiển tài, nhân kiệt, những vỉ nhân cho các thế hệ mai sau ? (. •. **

Ngày trước, các Thánh đế, Minh vương quan niệm không có một trách nhiệm nào lớn hơn đối với non sông, đất nước.

ÂM MƯU DIỆT CHỦNG CỦA PHONG KIẾN TRUNG HOA ĐỐI VỚI VIỆT NAM CAO BIỀN TẤU THƯ ĐỊA LÝ KIỂU Tự

Sau đây là một tư liệu lịch sử, trích từ cuốn Địa Lý Tả Ao của Cao Trung, Nhà xuất bản Hồng Dân, Sài gòn, mang tên là Cao Biền Tấu Thư Địa Lý Kiều Tự.

“...Lần này, chúng tôi khởi giới thiệu tài liệu Cao Biền Tấu Thư Địa Lý Kiểu Tự là tập tài liệu nói về các kiểu đất bên Việt Nam mà. Cao Biền đã trình vua Dường Trung Tôn.

Những tài liệu này có vài ngàn kiểu, nhưng Cao Biền chỉ mới yểm được một số ít đất Đế vương Quý Địa. Còn cả ngàn dất Cổng, Hầu, Khanh, Tướng vẫn nguyên vẹn. Các cụ xưa giữ sách này lầm Gia bảo và theo nó dể tìm cho ra đất kết dành cho họ hàng minh dùng, khi cần dến.”

XUẤT xứ CỦA SÁCH CAO BIỀN TẤU THƯ ĐỊA LÝ KIỂU Tự

Xưa kia, về đời vua Đường Trung Tôn bên Tàu có Cao Biền được phong làm An Nam Tiết Độ Sứ, sang đô hộ nước ta. Cao Biển là một người rất giỏi địa lý, được vua Đường ủy nhiệm nghiên cứu các kiểu đất Việt Nam, cốt để yểm phá các đất kết lớn nào khả dĩ gây ảnh hưởng cho sự Tàu hóa dân tộc Việt. Nam.

Sau khi nhậm chức và khảo sát địa lý ở Việt Nam, Cao Biến thấy nước ta có rất nhiều đất phát rất lớn, có thể tạo nên những bậc hiền tài, mà sự nghiệp có thể cản trở âm mưu Nam tiến của Tàu. Cao Biền bèn biên soạn Cao Biên Tấu Thư Địa Lý Kiểu Tự này trình với vua Đường, đồng thời cho phép yểm phá một số long mạch có đất kết lớn.

Theo truyền thuyết, trước khi yểm một kiểu đất nào, Cao Biến thường phụ đồng để các vị thần cai quản khu vực đó nhập vào đồng nam, đồng nữ. Sau đó Cao Biến tìm cách trừ khử các thần linh đó đi. Cuối cùng mới yểm đất.

(*) Xin tham khảo :

- Khí Huyệt Bảo Châu, thuộc Chi Dần. chương 57, - Chính Sinh BÍ Thủy Pháp, thế Hỏa (cùng sơ đồ), chương 60 (NHP)

- Các thế đất theo Hồng Vũ cẩm Thư.

(**) Tất nhiên, khi đặt vấn đề này, chúng tôi cũng đã có khá nhiều kinh nghiệm trực tiếp về Thiên -Địa - Nhân làm cơ sở thực tế.

762HỆ 64 QUẺ - HỌC THUYẾT PHONG THỦY

Cũng theo truyền thuyết, Cao Biển có yểm được một số ít đất lớn, song Cao Biến cũng bị thất bại trước nhiều vị thần lỉnh của Việt Nam, trong đó đáng kể nhất là Tản Viên Sơn Thần và Tô Lịch Giang Thần (núi Tản Viên thuộc huyện Bất Bạt tỉnh Sơn Tây, còn sông Tô Lịch thì chảy qua Hà Nội. đến Bạch Mã ở gần Hàng Lược Hà Nội là đến thờ Thần Tô Lịch).

Trải qua Đường, Tống đến đời nhà Minh có Trương Phụ, Mộc Thạch và Hoàng Phúc là ba danh tướng Tàuđược vua nhà Minh cho kéo quân sang Việt Nam, bề ngoài với danh nghĩa phò Hậu Trần, diệt Hồ, nhưng bên trong thì lại là một kế hoạch diệt chủng người Việt Nam, âm mưu đổi nước ta thành một Quan, Huyện của Tàu. Kế hoạch này tỉ mỉ và thâm độc hơn những kế hoạch tương tự mà người Hán đã làm từ trước đến nay.

Trong số ba danh tướng trên thì Hoàng Phúc là người rất giỏi Địa lý, có mang theo tập Cao Biền Tấu Thư Địa Lý Kiểu Tự sang định duyệt lại và định yểm nốt những đất lớn nào còn sót, để cho ở Việt Nam không thể xuất hiện những thế hệ thịnh trị, sản ra được những nhân kiệt tài xuất chúng như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo... là những hiền tài nhân kiệt đã gây khó khăn cho Tàu, như trong các thời đại Lý, Trần vừa qua.

May thay Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã khôn khéo và kiên trì lãnh đạo cuộc kháng Minh đến thành công, sau mười năm gian khổ. Khi bắt sống được Hoàng Phúc, ta đã thu được toàn bộ tài liệu của kế hoạch trên, trong đó có tập Cao Biền Tấu Thư Địu Lý Kiểu Tự.

Tập sách này trở nên một tài liệu vô cùng quý giá cho ta trên nhiều phương diện : Sử liệu, Chính trị và Địa lý.

MỘT SỐ HUYỆT TRONG SÁCH CỦA CAO BIỀN

Tập sách này của Cao Biển để cập đến 632 huyệt chính (ký hiệu là C)và 1517 huyệt Bàng, tức là phụ (ký hiệu là B) của các tính.

SỐ HUYỆT, ĐỊA LINH Ờ MIỀN BẮC THEO CAO BIỀN

TÌNH HUYỆT CHÍNH HUYỆT BÀNG

Hà Đông 246 ũ 81

Sơn Tây 036 085 vĩnh Phú 065 155

Hải Hưng, Kiến An 483 183

Gia Lâm, Hà Bắc, Đáp cầu, Lạng Sơn 134 223

Hà Nam, Thái Bình, Ninh Bình 132 325

Tổng cộng 632 1517

763TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

SỐ HUYỆT, ĐỊA LINH Ở HÀ ĐÔNG THEO CAO BIỀN

HUYỆT BÀNG HUYỆT CHÍNH HUYỆN

Thanh Oai 026 09

Chức-ng Mỹ và Mỹ Đức 031 11

Sơn Minh (ứng Hòa) 026 09

Hoài An 019 06

Thanh Trì 041 11

Thường Tín 041. 11

Phú Xuyên 07 020

Tù Liêm 034 11

013 Đan Phượng 05

Tổng Cộng 246 81

VÍ DỤ

HÀ ĐÔNG

1. Đệ nhất Thanh Oai Phong : Nhất Chính, nhị Bàng

Ấp Trung Thanh Uy, hình thế tối kỳ, thủy lưu tứ vương, án khởi tam quy, mạch tòng hữu kết, khí định tả y, thần đồng tiền lập, quỷ sử hậu tỳ, khôi khoa tảo chiếm, phúc lộc vĩnh tuy, tu phòng mạch tận, thừa tự vô nhi.

2. Đệ nhị Cao Xá Phong : Nhất Chính, nhị Bàng

Thanh Oai Cao Xá, châu vi quý long, thủy khê tùy mạch, bình dương lai tung, hoa khai hữu hổ, tinh diệu tả long, sơn thủy trù mật, khí thế sung giong, hà tu hợp hải, ngưu giác loan cung, chủ khách hoàn mỹ, tả hữu hộ tòng, hoa tâm khả hạ, thế xuất anh hùng, văn khôi khoa giáp, võ tổng binh nhung, phú quý thọ khảo, kiêm hữu kỳ công.

3. Đệ tam Vỗ Lăng Phong : Nhất Chính, nhị Bàng

Thanh Oai Võ Lãng, bình thế khả sung, tả sơn thuận giang, hữu thủy nghịch thăng, đường tám tích ngọc, án diện phố tầng, cân thủy chức kết, viễn sơn từng lãng, thổ tinh lạc sử, cát huyệt thi bằng, nhược năng hiện nhận, khoa đệ diệp đăng.

4. Đệ tứ Cổ Hoạch Phong ỉ Nhất Chính, nhị Bàng

Thanh Oai Cổ Hoạch, đoản hình tràng nhạo, thế giáng hữu cung, mạch sinh tả giác, bút giả sâm van, đốn sang sáp ngọc, hữu thủy tám hoành, tả sơn hội thác,

764HỆ 64 QUẺ - HỌC THUYẾT PHONG THỦY

phân minh ký cổ, la liệt thành quách, văn chủng khôi khoa, võ chuyên tướng trách, nội thể tuy giai, ngoại hình cân bách, họa khởi nhân chiêu, nghiệt do kỷ tác.

5. Đệ ngú Đại Định Phong : Nhất Chính, lục Bàng

Thanh Oai Đại Định, dị tích kỳ tung, long hỏa hổ hỏa, chủ tòng khách tòng, tiểu giang dẫn mạch, bình địa sinh phong, sơn thuận sơn nghịch, thủy chủ thủy cung, quần sơn điệp điệp, chủng thủy trùng trùng, trâm hốt khuê thời, tú bút giả phong, thừa dư thủ tức, huyệt tại viên trung, văn chiêm khoa giáp, võ tổng bình nhung, bằng hữu huyệt quái, âm mạch khí chung, nữ phát phi hậu, phú quý xương long.

6. Đệ lục Kim Bài Phong : Nhất Chính, tứ Bàng

Thanh Oai Kim Bài, lưỡng phượng phi lai, song đồng hoàn trị, lục tử nhập hoai, nội hình tương ứng, nội thế tương lai, thiểm tâm khi kết, long não tinh ta, chủ minh khách mỹ, sơn tinh thủy giai, huyệt cư trung cấp, táng pháp vô sai, võ xuất khanh tướng, văn trạc khoa đài.

7. Đệ thất Bối Khê Phong : Nhất Chính, nhị Bàng

Bối Khê chi địa hình như thảo xà, sơn thủy chức kết, long hổ bài nha, văn bút đảo địa, bình dương khai oa, viên phụ giáng thế, giang thủy giao la, hà tu giới thủy, thiên đực loan xa, thế xuất khanh tướng, đại đại vinh hoa.

8. Đệ nhất Sinh Quả Phong : tứ Bàng

Thanh Oai Sinh Quả cát địa diệc khả, hổ sơn long hồi, long sơn hổ hóa, đại phụ khí tàng, tiểu khê quan tòa, bác hoàn vi ký, tiễn tài lương bạ, tảo trạc khỏi hoa, viên đằng thanh giá, hiếm thủy phân lưu, dụng chung hữu xả.

9. Đề cửu Bảo Đà Phong : Nhất Chỉnh, tứ Bàng

Bảo Đà Thanh Uy, thủy thể my thi, đại giang loan quả, tiêu thủy chứng quy, lục long chiều hội, lưỡng phượng giao phi, văn tinh tiến án, viên phu hậu thủy, huyệt tại chung cấp, thừa dư khả y, công hầu thế xuất, hào kiệt tế thi, danh cao hổ tướng, uy chấn hoa di, nhược táng long dịch, nữ phát vương phi, nam chủng khoa giáp, phát đạt vô nghi.

CHƯƠNG ĐỨC (CHƯƠNG ĐỨC VÀ MỸ ĐỨC)

1. Đệ nhất Vinh Lữ Phong : Nhất Chính, ngú Bàng

Chương Dức Vinh Lữ, ký mạch cân tự, tụ thế cao sơn. chúng thủy đế trự, huynh đệ tương đãng, quần thần tương giữ, huyệt thủ tức dư, danh khôi khoa cử, thừa hưởng thiên nhiên, vồ yêu trát sự.

2. Đệ nhị Cống Khê Phong (?)

Cống Khê Chương Đức hình thế khả kỳ, tứ sơn giai củng, chúng thủy hàm quy, long trùng hổ điệp, chủ nghênh khách tùy, xa sinh trầm hốt, thủy hội nghiên trì, cao sơn thủ tức, phú quý vô nghi, nam phát võ tướng, nữ phát cung phi, nam nữ giai quý, phục lộc vinh tuy.

765TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

3. Đệ tam Thanh Áng Phong (?)

Chương Đức Thanh Áng (nay thuộc ứng Hòa), canh lưỡng long lai, đại hà vệ khí, ngọc nữ hoài thai, long hổ chiều củng, hình thế phô bài, la liệt thành quách, hiệu khiết lâu đài, chủ minh khách mỹ, thủy tính sơn giai, đường thiên thủy để, án cao sơn nhai, thủy long dư nhũ, cát huyệt khả tài, võ sinh tướng suy, văn chiếm khoa đài, đại địa cực quý, đoán dịch vô sai.

4. Đệ tứ Chi Nê Phong : Nhất Chính nhị Bàng

Chương Đức Chi Nê sơn hình võ trụ, long hồi hổ hoàn, mạch tàng khí trụ, hạ hợp thượng phận, tả giao hữu cố, án đới hổ yêu, phong sinh long thủ, khí : kết hoa tâm, tuyệt tòng long như, thế xuất công khanh, sỹ lăng tể phụ.

5. Đệ ngũ Lai Tảo Phong (Nhất Chính, tam Bàng)

Chương Đức Lai Tảo địa hình dìệc hảo, khí như tuyến hồi, mạch như sà thảo, binh dương sơn loan, đại hà thủy đáo, chủ khách chuy tùy, long hổ hoàn bão, huyệt tại hoa tâm, mạc tài long não, thế xuất công khanh, phú quý vĩnh cảo.

6. Đệ lục Tiểu ứng Phong : Nhất Chính, tam Bàng

Tiểu ứng Chương Đức phượng tường lưỡng dực, thủy tụ trùng trùng, sơn sai sực sực, vạn thủy thiên sơn, tam hoành tứ trực, thảo vĩ khí tài, hoa tâm khả thực, văn võ phát vinh, tam công vị cực, phú quý thời ưu, đại đại phó tức.

7. Đệ thất Liễu Nội Phong : Nhất Chính, ngú Bàng

Liễu Nội chí địa, thị diệc quý long, âm dương bái tướng, dương sơn phú trung, long hóa hổ hóa, long trùng hổ trùng, chúng thủy lưu trữ, quần sơn la lung, huyệt tại thượng phúc, võ chí hầu phong, nữ phát hậu phi, phú quý xương long, bàng hữu cát huyệt, ấn đới thanh long, tam thai chu thước, văn sỉ tam công.

8. Đệ bát Tràng Cốc Phong : Nhất Chính, ngũ Bàng

Địa danh Tràng Cốc, hình như phượng hoàng, nội kỳ ngoại cổ, tiền cương hậu phong (?), long hổ hoàn bảo, chủ khách huy hoàng, bình nguyên thủy diệu, viên phụ khí tàng, thế xuất võ tướng, vị chí hầu phương.

9. Đệ cửu Yên Ninh Phong (Nhất Chính, nhị Bàng)

Chương Đức Yên Ninh khí tụ lonh đình, tả toàn hữu cố, hổ ấn long tinh, sơn hợp thủy chỉ, khách tựu chủ nghinh, huyền quy ứng hậu, chu tước bái đình, huyệt tại chung cấp, công hầu pOhát sinh, kế thế võ tướng, kiêm vương nhân đinh.

10. Đệ thập DÓ Lễ Phong : Nhất Chính, nhị Bàng

Chương Đức Do Lễ, chân long sở chi, đại lâm loan sơn, thâm dầm chú thủy, tiêu giang tế long, đại hà dưỡng khí, long hổ bài nha, quân thần giao hỷ, huyệt tại viên trung, công hầu đăng đối, phú quý kiêm ưu, khả vi toàn mỹ.

11. Đệ thập nhất Chúc Sơn Phong : Nhất Chính, nhất Bàng

Chương Đức Chúc Sơn (nay thuộc Chương Mỹ), hổ long hồi hoàn, tiến hữu thủy chữ, hậu hữu sơn loan, đại hà dẫn mạch, hồnh kỳ chấn quan, hình thế tương hợp, chủ khách tướng hoàn, huyệt tại trung phúc, thế xuất cao quan, võ đại vận thiểu, danh quán chiêu ban.

766HỆ 64 QUẺ - HỌC THUYẾT PHONG THỦY

SƠN MINH ỨNG HÒA

1. Đệ nhất Xà Kiều Phong : Nhất Chính, tứ Bàng

Sơn Minh Xà Kiều, hình như phượng vũ, giang lưu thoát tung, tinh phong nhạc nhũ, thiền thể dung tâm, địa khí sanh (?) ngũ, hổ bão loan đầu, long đoàn cung thủ, khanh tướng thời sinh, khả văn khả vũ, vị liệt thai đài, danh cao súy phủ.

2. Đệ nhị Lưu Khê Phong : Nhất Chính, tam Bàng

Sơn Minh Lưu Khê, án chỉnh sơn tế, quy tàng bích động, hoa thổ kim chi, sơn thủy loan cung, long hổ giao thi, âm lai dương thụ, huyệt tòng tả y, thế xuất khanh tướng, phúc lộc trùng lai.

3. Đệ tam Đông Phi Phong : Nhất Chính, nhị Bàng

Sơn Minh Đông Phi, long hổ giao tý, từ thủy nhập hoài, bát thần vệ khí, tam cấp mạch sinh, ngũ thốn sơn trị, huyệt tại thừa dư, chủ đăng khoa sỹ, vị liệt công khanh, phúc lộc phú quý.

4. Đệ tứ Tảo Khê Phong : Nhất Chính, tứ Bàng

Tảo Khê chân long, hình thế sung giong, long bàn hổ hóa, thủy tản sơn cùng, đại khê dẫn mạch, bình địa sinh phong, tam thai hoãn trí, chúng thủy triểu cung, thiên chung viên tọa, thế thượng bầu công, đại đại phú quý, phúc lộc xương long.

5. Đệ ngũ Dương Khê Phong : Nhất Chính, thất Bàng

Dương Khê chí địa, hình thể khả quan, sơn chỉ thủy tụ, hổ cứ long bàn, tiền phân tam thủy, hậu ứng quần sơn, tả hữu đăng đối, chủ khách tướng hoan, hoa tâm khả hạ, thảo vì khả an, thế xuất khanh tướng, phú quý bình an.

6. Đệ lục Đông Dương Phong : Nhất Chỉnh, nhất Bàng

Sơn Minh Đông Dương, thế giáng bình dương, long vệ tống mạch, hổ bão chiều tương, kỳ cổ bài liệt, hình thế là chương, sơn tòng hữu đáo, bút giá long bàn, huyệt tại chung cấp, thừa khí khả tàng, thế xuất khoa giáp, vi cận quân vương.

7. Đệ thất Tử Dương Phong : Nhất Chính, tam Bàng

Sơn Minh Tử Dương, thế chính hình ngang, thủy đàm long khẩu, sơn dục hổ giáng, thủy chiếu sơn bão, thái án châu trang, tả hữu trù mật, chủ khách huy hoàng, khí tùy dư tức, huyệt tại cung tràng, nhược thùy viên nhủ, nữ phát phi hoàng, nam nữ toàn mỹ, phú quý vinh xương, hiện nhận bất thực, khủng sinh bất tường (có giả thuyết) tất thụ tại ương.

8. Đệ bát Đạo Tú Phong : Nhất Chính, tứ Bàng

Sơn Minh Đạo Tú, long hoàn hổ cố, hình thế bài nha, khí mạch ngưng chủ, hữu sơn bão chiều, tả giang chiều hộ, thùy nội ấn phù, đường tâm khí tụ, huyệt tại tốn sơn, thời sinh tể phụ, nhược tòa càn sơn, phát vượng phi phụ, thuận nghịch lưỡng thủ, nam nữ cân ưu, tùy ký thích an.

9. Đệ cửu Sơn Minh Phong : Nhất Chính, tam Bàng

Sơn Minh khí chung, long hổ phù cung, đại giang chiết thủy, bình dương lai tung, hoa khai đóa đóa, tinh hiện trùng trùng, khí tông thảo vì, huyệt tại viên chung, chủ phát khanh tướng, đại đại vo cùng.

767TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

"Những ngôi đất kết có ngôi chỉ phát về âm phần (để mỏ), lại có ngôi chỉ phát về dương cơ (lầm nhà). Đất phát âm phần lợi cho việc chôn xương xuống dất. Còn đất phát dương cơ thì lợi cho việc làm nhà lên trên, dốt dương cơ nhỏ dược dùng dể làm nhà, còn nếu dất to rộng thì lợi cho việc làm doanh trại, nếu đất rộng hơn nữa thì lợi cho việc xây thị trấn, dô thị hoặc kinh đô ".

LỜI BÌNH LUẬN CỦA TÁC Giả (NHP)

Khỏi phải bàn tầm quan trọng mang tính sống còn mà các vua Tàu đã đặt vào bài toán Phong Thủy trên ngay trên đất nước chúng ta.

Chính vì thế, bài toán này cần được nghiên cứu thực nghiêm túc để có giải đáp dứt điểm, và có đối sách triệt để.

MỘT TÀI LIỆU THAM KHẢO VỀ Cái CHẾT CỦA VUA QUANG TRUNG

Sách Hoàng Lê nhất thống chí ghi :"... Vừa lúc ấy thì vua Quang Trung bị bệnh rồi mất (tháng 8 năm Nhâm Tý, 1792) sau khi lên ngôi được 5 năm. Trước đó, khi sứ nhà Thanh sang phong, vua Thanh đã ban cho vua Quang Trung một chiếc áo màu, trong đó có thằỀLĨ chữ bằng kim tuyến :

Xa tâm chiết trục, đa điên thứ, nghĩa đen là bụng xe gãy trục, nhiều chuột đồng. Chữ Xa và chữ Tâm hợp lại thành chữ Huệ - tên vua Quang Trung. Còn Chuột thuộc về năm Tý. Ý nói năm Tý vua Quang Trung sẽ chết"..

Chúng ta hiểu như thế nào về hiện tượng này, trong quan hệ với ý đồ diệt chủng của Tàu đối với đất nước Việt chúng ta ? ■

HIỆN TƯỢNG Ánh SÁNG VỀ MẨ KẾT

Với các mã kết, bằng Luân xa Ấn Đường, có thể quan sát một luồng ánh sáng màu vàng chiếu lên mộ đó, có cường độ bằng cường độ đèn 100 Oát. ánh sáng này có thể chiếu lên khu vực đầu, hay khu vực bụng, chân... của hài cốt.

Khu vực được chiếu sáng có thể lan rộng dần khi gia tộc làm thêm nhiều việc thiên, và ngược lại, thu hẹp lại khi gia tộc có gây nhiều tội ác.

Nguyễn Hoàng Phương, Tích hợp đa văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1996. Bản số hóa từ ảnh quét; văn bản do OCR nên có thể còn sai sót — bấm vào số trang trong bài để đối chiếu ảnh quét nguyên bản.

Trong mục này