TH Tích hợp đa văn hóa Đông Tây

Tập I — Đại cương Đông và Tây

Chương 1

Cái đơn nhất trong cái đa dạng của triết học cổ Đông phương

Trang 31–59 của bản in·Xem ảnh quét
31

CÁI ĐƠN NHẤT TRONG CÁI ĐA DẠNG CỦA TRIẾT HỌC CỔ ĐÔNG PHƯƠNG

Sách vở viết về Triết cổ Đông phương thì khá nhiều. Thành thử ở đây chúng tôi chỉ tóm tắt lại vài quan điểm của nền Triết học cổ, có liên quan trực tiếp đến mục tiêu của cuốn sách này.

I - NGUYÊN LÝ VŨ TRỤ LÀ MỘT

Nguyên lý cơ bản nhất trong Vũ trụ quan cổ Đông phương là : Vũ trụ là MỘT. Sự sống trong Vũ trụ, dù ở bất cứ dạng nào, dù hữu sinh hay vô sinh, cũng đều chỉ là MỘT. Cái MỘT này có nhiều cách gọi. Có người gọi đó là Tinh thần, có người gọi đó là Thế giới Tự nhiên í.la Nature,), các Tôn giáo gọi đó là Thượng đế (Diệu), các nhà bí học gọi đó là "Cái - Không - Thể - Biết - Được" (LTnconnaissable), cái Tuyệt đối (L’Absolu)...

II - NGUYÊN LÝ VẠN VẬT ĐồNG NHẤT THỂ

Những người theo quan điểm Vũ trụ là MỘT đều xem rằng cái MỘT này "thấm* vào tất cả các dạng tồn tại, từ đó tất cả các dạng thông tin, năng lượng đều xuất phát từ cái MỘT đó. Vạn vật là cùng một bản thể, hay là vạn vật đồng nhất thể. Tất cả các hiện tượng, quá trình hiện nay chưa giải thích được bởi vật lý học đơn giản chỉ là do giới hạn của Vật lý học còn nằm ngoài nguyên lý đó.

III - CÁC NGUYÊN LÝ vũ TRỤ LÀ MỘT VÀ VẠN VẬT ĐỒNG NHẤT THỂ THEO SWAMI VIVEKANANDA

Swami Vivekananda là một nhà tư tưởng Yoga lớn, đã từng thuyết giáo ở nhiều nước về Triết học Yoga. Sau đây xin trình bày một số ý kiến lớn của ông về hai nguyên lý trên.

32ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY

A - AKASHA

Vũ trụ là MỘT và gồm hai thực thể : một thực thể gọi là Akasha, tồn tại khắp mọi nơi, thấm vào mọi nơi. Tất cả các hình thể (forme), tất cả những gì xem là sản phẩm của sự phối hợp các hình thể đều xuất phát từ Akasha. Chính Akasha đã tạo ra không khí, chất lỏng và chất rắn... Chính Akasha đã tạo ra Mặt Trời, Quả Đất, các vì sao, các sao chổi... Chính Akasha đã tạo ra con người, cây cỏ, động vật và tất cả các hình thể mà chúng ta biết, thụ cảm được bằng các giác quan của chúng ta (quá trình này gọi là quá trình Tự, NHP).

Akasha bản thân nó ta không thể thụ cảm trực tiếp được, nó nằm ngoài tẩm các giác quan của chúng ta. Người ta chỉ trông thấy được nó khi nó dày đặc lên, khi nó có hình thể.

Sau một chu trình, các chất rắn, chất lỏng, chất khí... lại tán ra và lại trở thành Akasha (quá trình này gọi là quá trình Tán, kết thúc một chu trình, NHP).

Và trong chu trình sau lại lặp lại các quá trình trên...

B-PRANA

Từ chất Akasha, lực (năng lượng, NHP) nào đã tạo nên Vũ trụ ? Đó là một lực gọi là Prana. Cũng như Akasha vô hạn tồn tại khắp mọi nơi, Prana cũng vô hạn, và cũng có mặt khắp mọi nơi trong toàn Vũ trụ. 0 các giai đoạn đầu và cuối của mỗi chu trình của Vũ trụ, tất cả đều trở lại thành Akasha, tất cả các lực trong Vũ trụ đều trở lại thành Prana. (Ta biết rằng Vật lý học hiện đại đã có nhiều bằng chứng chứng tỏ sự tồn tại của hiện tượng big bang (vụ nổ lớn) cách đây khoảng 15 tỉ năm. Thế thì, theo Vivekananda, những big bang như thế sẽ xuất hiện một cách tuần hoàn trong Vũ trụ vật lý chúng ta, NHP).

Chính Prana được biểu hiện thành những lực (năng lượng, NHP) vật lý như lực hấp dẫn và lực điện từ... Chính Prana biểu hiện trong các hoạt động của cơ thể, như trong các dòng thần kinh, như lực tư tưởng (và như khái niệm Khí-Hởa của Y học Đông phương, NHP). Từ lực tư tưởng cho đến các lực vật lý thô thiển nhất, tất cả đều chỉ là những biểu hiện cụ thể của một cái duy nhất : Prana. Toàn bộ các lực (năng lượng, NHP), tâm thần hay vật lý, tồn tại trong Vũ trụ, đều có thể quy về trạng thái ban đầu của chúng là Prana. (Theo dòng tư tưởng này của Vivekanda, học thuyết Thống nhất hay Siêu Thống nhất các trường vật lý hiện nay chính là để tìm hiểu con đường trở về với Prana và Akasha, NHP). Trong Rig Veda có nói : "Khi không còn một cái gì cả, khi các bóng tối bao trùm các bóng tối, thì liệu sẽ có cái gì ? Đó là chất Akasha không chuyển động".

Trong trạng thái này, khi chuyển động vật lý (và các dạng chuyển động khác, NHP) dừng lại, thì Prana vẫn tồn tại ở giai đoạn cuối này của chu trình Vũ trụ, tất cả các năng lượng đang hoạt động trong Vũ trụ dịu dần đi, và chuyển sang trạng thái tiềm thế cho giai đoạn đầu của chu trình sau, sau đó các năng lượng đó lại vươn dậy, tác động vào Akasha, và từ chất Akasha đó, các cấu trúc hình thể khác nhau sẽ được tạo nên. Theo quá trình biến đổi của Akasha, Prana cũng biến đổi theo, và biến thành tất cả những biểu hiện khác nhau của lực, năng lượng. Biểu hiện cụ thể của Prana trong nhân thể là chuyển động của phổi...

33TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

c-PRANAYAMA

Cái mà chúng ta gọi là Pranayama, chính là sự hiểu biết về khả năng làm chủ Prana đó. Tất cả các bài luyện tập và thực hành về Pranayama đều không nằm ngoài mục đích đó. Mỗi một chúng ta cần phải xuất phát từ chỗ làm chủ cái gì gần gụi ta nhất. Đó chính là cơ thể chúng ta, gần chúng ta nhất so với bất kỳ những gì thuộc thế giới bên ngoài, còn tinh thần chúng ta cũng gần chúng ta nhất, so với bất kỳ cái gì khác. Prana đang làm cơ thể và tinh thần chúng ta hoạt động. So với Prana của toàn Vũ trụ, đó là cái Prana gần với chúng ta nhất. Các sóng Prana bé nhỏ - biểu hiện thành những năng lượng tâm thần và vật chất của chúng ta - là gần với chúng ta nhất, so với tất cả các đợt sóng của đại dương vô cùng vô tận của Prana. Và chỉ khi nào chúng ta đạt được khả năng làm chủ các đợt sóng bé nhỏ này, chúng ta mới mong làm chủ được cả toàn Prana Vũ trụ. Nhà Yogi nào đã thực hiện được điều này là đã đi đến sự hoàn thiện. Người đó sẽ không còn phụ thuộc vào một lực nào cả. Người đó sẽ trở thành toàn lực, và gần như là toàn thức. Chúng ta thấy trong nhiều nước có nhiều trường phái cho rằng họ đã làm chủ được Prana. Trong các nước đó, chúng ta thấy xuất hiện những nhà chữa bệnh bằng tinh thần, những nhà chữa bệnh bằng lòng tin, những nhà thôi miên... Nếu chúng ta nghiên cứu các nhóm khác nhau đó, chúng ta sẽ thấy rằng họ đều mong muốn làm chủ Prana, dù có ý thức hay không. Nếu chúng ta thanh lọc tất cả các thuyết của họ, thì chúng ta luôn luôn tìm thấy chỉ một bản chất như nhau trong tất cả các thuyết đó. Đó chính là cái lực duy nhất mà họ thao tác, nhưng lại không có ý thức. Họ đã ngẫu nhiên phát hiện ra một vài lực nào đó và đã sử dụng một cách bất giác, mà không hiểu được bản chất của chúng. Đó chính là những lực mà nhà Yogi sử dụng, những lực xuất xứ từ Prana.

D. SAMADHI (ĐẠI ĐỊNH)

Prana là lực sinh tổn của mọi vật. Còn (năng lượng) tư tưởng chính là hình thái biểu hiện tinh tế nhất và cao nhất của Prana. Tâm thức không chỉ biểu hiện bằng tư tưởng, tâm thức còn có thể tồn tại ở nhiều bình diện cao hơn tức là các bình diện siêu thức. Khi tâm thức đạt tới mức độ siêu thức, người ta gọi là Samadhi hay Đại định, tức là với một sự tập trung hoàn thiện, thì nó sẽ vượt ra khỏi các biên giới của lý trí và sẽ đứng trước những sự kiện mà không một bản năng nào, không một lý trí nào có thể nhận thức được. Mọi thao tác về các lực tinh tế của nhân thể, của các biểu hiện khác nhau của Prana, nếu được thực hiện bởi một người đã có công phu luyện tập, sẽ làm cho tâm thức họ có một sức bật mạnh mẽ, giúp cho tâm thức vươn lên cao hơn, đạt đến các mức siêu tâm thức.

E. CHUYỂN ĐỘNG XOẮN LỐC CỦA vũ TRỤ

Như thế, trong Vũ trụ luôn luôn tồn tại một thứ vật chất liên tục, không gian đoạn, mà người ta tìm thấy được tại mỗi bình diện của sự tồn tại. Về mặt Bản thể, Vũ trụ là MỘT. Không có sự khác nhau cơ bản nào giữa Mặt Trời và chúng ta. Không có một sự khác biệt bản thể nào giữa cái bàn và chúng ta. Mỗi một cấu trúc đều là một cái xoắn lốc trong đại dương vô cùng vô tận của vật chất, và không một cấu trúc nào là vĩnh hằng. Cũng như một dòng nước đang cuồn cuộn chảy, ở

34ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY

đây có hàng triệu cơn xoắn lốc, và trong mỗi cơn đó thì nước lại thay đổi tại mọi thời điểm. Vũ trụ toàn bộ cũng như thế. Toàn bộ Vũ trụ là một khối vật chất thay đổi không ngừng. Không một vật thể nào là vỉnh hằng, mọi vật đều thay đổi, tạo nên những quá trình xoắn lốc tán rồi tụ, tụ rồi tán.. Tinh thần, tâm thức cũng như thế. Khi tác động của Prana đạt đến mức tinh tế nhất thì đó là biểu hiện của tâm thức. Và nếu chúng ta đạt tới những mức độ cảm thụ được những dao động tinh tế như thế, thì chúng ta sẽ thấy ngay rằng toàn bộ Vũ trụ là gồm những dao động tinh tế (tham gia vào những cơn lốc, NHP). Dôi lúc, một số chất hóa học cũng có thể làm cho chúng ta rơi vào trạng thái cảm thụ như thế. Chẳng hạn, nhà hóa học Humphrey Davy đã vô tình hít phải một chất khí nào đó khi giảng bài. Thế rồi ông nằm im, ngạc nhiên và tuyên bố rằng toàn bộ Vũ trụ chỉ gồm có "tư tưởng". Thực ra, trong một khoảng thời gian nào đó, dường như các dao động không tinh tế (tức là thuộc bình diện vật lý, NHP.I ngừng không còn tác động vào ngũ quan của ông, và ông chỉ còn thụ cảm các dao động tinh tế, mà ông đã gọi là "tư tưởng" : Tất cả đối với ông đã trở thành "tư tưởng", toàn bộ Vũ trụ đối với ông chỉ là một "đại dương tư tưởng" tràn đầy xoắn lốc, và những người xung quanh ông chỉ là những cơn xoắn lốc chỉ, gồm toàn "tư tưởng".

(Tính xoắn lốc có một vị trí cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng các học thuyết cụ thể của triết học cổ Đông phương, như sẽ thấy sau này qua các phần Đông Y học, Thời Châm học, học thuyết Độn Giáp, học thuyết Thái Ất. Các học thuyết này mang tính xoắn lốc (hay xoắn ốc, nếu dùng thuật ngữ toán học í, nghĩa là tuần hoàn, nhưng lại đặt trong những cấu trúc tuần hoàn có chu kỳ lớn hơn, NHP).

F. CÁI MỘT VÀ Bản THỂ

Như thế, ngay trong thế giới tư tưởng (không riêng gì trong Vật lý học, NHP), chúng ta cũng tìm được một cái Thống nhất, một cái MỘT. Và cuối cùng, khi chúng ta đạt tới Bản thể, chúng ta sẽ thấy rằng Bản thế đó đơn giản chỉ là cái MỘT. Rõ ràng ở đây nổi bật quan điểm triết học về mối quan hệ giữa cái Đơn nhất và cái Đa dạng, và quá trình đi tìm cái Đơn nhất này, cái MỘT này, giữa những Đa dạng hết sức phức tạp, lại chính là quá trình trở về lại Bản thể (bạn đọc lưu ý đến những khái niệm con Đường Nội, Ngoại trong hệ 64 quẻ Kinh Dịch, sẽ trình bày sau này, tại đó con đường nội chính là con đường trở về cái MỘT, hay là con đường trở về với Bản thể).

IV - CÁI MỘT VÀ NGUYÊN LÝ VẠN VẬT ĐỒNG NHẤT THỂ THEO LÃO TỬ

Sau đây xin trích một vài đoạn tư tưởng của Lão Tử về cái MỘT và Nguyên lý Vạn vật đồng nhất thể của triết gia vĩ đại Lão Tử. Lão Tử gọi cái MỘT là ĐẠO.

A - Chủ ĐẠO CỦA LÃO TỬ

Trước hết, chữ DẠO trong ngôn ngữ của Trung Hoa gồm ba nhân tố : Một cái đầu người, một cái chân người và một con đường đi. Cái đầu đó là của người Thấy :

35TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

cái chân là của người học trò, còn con đường đi đó là phương hướng người Thấy dát dẫn người học trò. Nhưng nếu chủ Đạo đã được biểu diễn bằng ngôn ngữ thì nó không còn là chủ Đạo thực sự nữa (vô ngôn. NHP). Thế thì phải hiểu chủ Đạo như thế nào cho khỏi phải sai lệch ? Sự nhận thức Đạo phải là một kinh nghiệm nhận thức nội tính (expérience intérieure.q ờ đó mọi sự khác nhau giữa chủ thể và khách thể không có nữa. Chẳng hạn đó là trực giác, sự cảm thụ trực tiếp, chứ không phải là một quá trình suy diễn, mang tính duy lý. Cái Đạo chỉ được nhận thức trọn vẹn khi mọi sự khác biệt giữa chủ thể và phi chủ thể (le Moi et Non-Moi) đều biến mất. Đó là một sự thâm nhập vào nhau giữa chủ thể và phi chủ thể. sự thâm nhập này sẽ là cái chia khóa mở ra những bí ẩn của Đạo.

B - ĐẠO LÀ Sự TÍCH HỢP (INTÉGRATION) GIỮA CON NGƯỜI VÀ VŨ TRỤ

Sự tích hợp giữa con người và Vũ trụ là biểu hiện cao nhất của nguyên lý xem mọi bộ phận đều đồng nhất với toàn bộ, cái đơn thể đồng nhất với cái hợp thể, cái đơn thể là cái hợp thể, cái han thể là cái đơn thể. Tất cả mọi vật, đến mức tột cùng, đều tan thành MỘT, vũ cái Tôi của chúng ta sẽ là một cái Tôi, chỉ khi nào nó hòa đồng vào tất cả các cái Tôi khác (mối quan hệ dạng này giữa bộ phận và toàn bộ sẽ được xét sâu hơn với khái niệm Toàn đồ sau này, NHP). Sự hòa đồng đó của các cái Tôi, sự thâm nhập vào nhau giữa tất cả các đơn thể khác nhau đó sẽ tạo nên cái hài hòa của Vũ trụ. Trong cái Vũ trụ hài hòa đó, mỗi vật đều chứa đựng mọi vật khác. Đó là nội dung của cái MỘT và nguyên lý Vạn vật đồng nhất thể theo Lão Tử. Lão Tử đồng nhất cái Dạo với cái MỘT, một cái MỘT vô hình, không nghe được, không đo được, một cái MỘT vô cùng tận và vĩnh hàng. Với Triết học Lão Tử, con người thuần nhất là con người nào hòa đồng được với Vũ trụ hài hòa, tham gia được vào cái Vũ trụ hài hòa đó. Người đó sẽ tìm thấy cái đơn giản sơ khai, cái nguyên thủy của bản thân mình. Người đó có thể sống cùng với chim chóc, với các súc vật, các thú dữ mà không hề nhận thấy được những sự phân biệt về loài giống.

Để minh họa điều này, xin trích một đoạn của tác phẩm Đông phương huyền bí (L'fntle xecrèfe) của Paul Brunton, bản dịch của Nguyễn Hữu Kiệt :

"Qua ngày hôm sau, tỗi trở lại gặp người Yogi đó trong một trường hợp thật là bất ngờ. Tôi vừa rời khỏi tịnh xá, trở về chòi dể nếu nước và pha trả. Khi vừa mờ khóa cánh cửa lớn, sắp sửa bước vào, thì có một con vật dang cựa quậy dưới đất và ngừng lại cách chân tôi trong gang tấc. Những cử động yển lặng của nó và một tiếng huýt sáo nhỏ, trước khi tỗi nhìn xem nó là con vật gì, nhắc cho tôi biết rằng có một con rán ớ trong chòi. Tôi nhìn con rắn không chóp mắt, công tháng đến cực độ. Con rắn phùng mang và dương hai mát nhìn lại tôi. Bỗng nhiên, người khách lạ tôi gặp ngày hôn qua xuất hiện thình lình trong sân. Gương mặt trầm tỉnh và dõi mát yên bình của y làm tôi bớt sợ hãi, và lấy lại dược sự bình tính. Với một cái nhìn thoáng qua, y đã thấy rõ tình hình, và thản nhiên bước vào chòi. Tôi bèn la lớn lên dề bảo dộng, nhưng y không màng để ý đến tiếng kêu của tôi và y dựa tay về phía con rắn, Con rắn há. mõm le lưỡi dài, nhưng lại không mổ vào người dó...

Người khách đã khom lưng ngồi cạnh con rắn và lấy tay nhẹ vuốt lển lưng nó, trong khỉ dó thì nó cúi đầu sát dất và năm êm ru... Sau dó, nó bò ra khỏi chòi

36ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY

tranh và, trong khoảnh khắc, biến mất sau khu rừng rậm. Người khách lạ dó là dạo sỉ Ramiah, một con người có một bản lỉnh khác thường..."

Chúng ta hãy quay trở lại cái Đạo của Lão Tử. Đồng nhất cái ĐẠO với cái MỘT vô hình, không nghe được, không đo được. Ông viết : (Chang Chung Yan. Le Monde du Tao)

Cái mà ta nhìn nhưng không thấy, gọi là cái vô hình, Cái mà ta lắng nghe, nhưng không nghe được, gọi là cái vô thính, Cái mà tay ta sờ, nhưng không nằm bắt được, gọi là cái vô xúc, Không có cái nào trong ba cái đó ta phân tích dược, VÌ chúng hợp lại thành MỘT. Bên trên không có ánh sáng chiếu sáng cái dó, Bên dưới không có bóng tối làm mờ cái MỘT dó. Cái MỘT tồn tại vĩnh hàng, Nhưng không thể gọi bằng tên gọi. Cái MỘT thuộc lĩnh vực của cái Hư vô.

Lão Tử lại viết :

Có mộtcáikhôngxácdịnh,
TồntạitrướccảĐất vàTrời,
Mộtcáidó,hình,yênlặng,
Khôngsuyxuyển,dộc lập,

Luôn luôn chuyển dộng không môi mệt, Có khả năng trở thành người Mẹ của Vũ trụ, Không biết tên cái đó, tôi gọi là ĐẠO.

Như thế, thuyết Lão Tử thừa nhận sự tổn tại của một thực thể Chân không (do không nghe được, không thấy được, không sờ được) mà ông gọi là Đạo. Và Đạo là Bản thể. Cái Đạo - Chân không đó luôn luôn biến đổi, dù rằng vô hình và yên lặng ỏ trạng thái nguyên thủy của nó, khi chưa có Đất và Trời.

C-TƯ TƯỞNG PHI BÀI TRUNG CỦA LÃO TỬ VỀ BẢN THỂ CỦA ĐẠO-CHÂN KHÔNG. MINH TRIẾT

Cái Đạo - Chân không của Lão Tử biến đổi như thế nào ? Theo ông, "mọi vật luôn luôn biến đổi, nhưng cuối cùng sẽ trở lại nguồn gốc của mình" (theo con Đường Nội, theo nguyên lý Phản phục, xem Kinh Dịch, NHP). Nhưng mọi vật sẽ trở lại nguồn gốc bằng phương thức yên lặng, yên tỉnh (quiétude). Sự yên tỉnh có nghĩa là chủ thể hành động cho chính mình, và trong hành động này, biểu hiện một sự bất động luôn luôn biến đổi (đây chính là nguyên lý phi bài trung trong hệ tư tưởng của Lão Tử, rất khó hiểu đối với tư duy logic hình thức, nguyên lý này thường xuất hiện dưới dạng : trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, như sẽ thấy sau này, còn theo tư duy logic hình thức thì Âm loại Dương, Dương loại Âm, NHP).

Hiểu được cái bất động luôn luôn biến đổi tức là đạt được sự Minh triết (Sagesse hay Enlightenment, theo tiếng Anh). Khi đạt được sự Minh triết, chúng ta sẽ xem mọi biến đổi như một sự tích tụ của nhiều đơn thể, nghĩa là sự biến đổi là một quá trình vô hạn, gồm nhiều khâu lặp đi lặp lại... Trong lúc đó thì tính bất động - đối lập với tính biến đổi - lại chỉ tương ứng với chỉ một đơn thể vô hình, không

37TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

thể xác định được. Đơn thể này là một thực thể hoàn chỉnh, trong đó không có bất kỳ sự sai khác nào giữa đơn thể và hợp thể. Sự biến đổi bao gồm sự phân hóa và đơn thể hóa. Nhưng sự bất động, với tính chất là của một cái thuần nhất và hoàn thiện, lại phải là một quá trình không phân hóa và không tách thành đơn thể.

Trở lại cái hoàn thiện từ các đơn thể chính là tìm được cái chân lý tối hậu : Tìm được cúi Đơn nhất trong cái Đa dạng. Nhận thức được cái chân lý tối hậu này tức là đạt tới sự Minh triết. Nhưng muốn có khả năng Minh triết thì phải dựa vào kinh nghiệm chủ quan, chẳng hạn là trực giác, sự nội quan (introspection), hay là sự cảm thụ bản thể (perception ontologique).

D- SÁNG TẠO

Khi Đạo - Chân không chưa thay đổi, nó chỉ là một chỉnh thể bình lặng. Nhưng khi đạo chuyển động, nó sẽ sáng tạo. Nhưng sáng tạo không phải là một cái gì áp đặt từ bên ngoài : sáng tạo là một hiệu ứng từ bên trong, sáng tạo là một sự nhớ lại (réminiscence) (đây là một chân lý vô cùng quan trọng trong tâm lý học sáng tạo, xét từ góc độ tâm linh hay trên bình diện Đại ngã, NHP).

Lão Tử nói : "Nếu chúng ta có một lư thế thích hợp và nếu chúng ta tập trung dược vào bản chất của Chỉnh thể, thì sự hài hòa Vũ trụ SẼ hòa vào chúng ta. Chúng ta hãy gắn mình vào sự thức tỉnh bên trong và hòa mình vào cái Tuyệt đối. Thế thì Thực thể Tối thượng sẽ biểu hiện trong bản thân chúng ta. Và chúng ta sẽ phù hợp với Đạo".

V - CÁI ĐƠN NHẤT TRONG CÁI ĐA DẠNG CỦA PHẬT Giáo

Trong Phật giáo, cũng biểu hiện rõ nét quan điểm cái Đơn nhất Trong cái Đu dạng, cũng như mối quan hệ phi bài trung giữa cái biến đổi và cái không biến đổi, như trong các quan điểm của học thuyết Yoga hay của học thuyết Lão Tử, Chân Như của Phật giáo. Trong Phật giáo, như đã biết, có hai phái, phái Tiểu Thừa và phái Đại Thừa. Phái Tiểu Thừa, khi phân tích Vũ trụ, nhấn mạnh các hiện tượng của quá trình biến đổi với các pha Sinh, Diệt, Hư, Thực, lay động, chuyển biến không ngừng của sự vật. Phái Đại Thừa cũng nhận thức sự vật như thế, nhưng lại còn tiến xa hơn một bước là đi sâu vào Bản thể của sự vật, đi vào lĩnh vực không Sinh, không Diệt, không lay động... gọi là cảnh giới Chân Như Tuyệt đối. Cảnh giới Chân Như này mang tính chất của cái MỘT, hay của cái Đạo - Chân Không cũng chấp nhận logic phi bài trung, và mang nhiều tên khác nhau như Phật tính, Pháp giới tính, Như Lai tạng tính, Tâm tỉnh, Tâm viên giác, Giáo diệu minh tâm, Diệu minh chân tâm... Sự biến chuyển của vạn vật tuân theo luật Thành - Trụ - Hoại - Không, tức là mọi vật được cấu thành, trụ một thời gian, biến chuyển theo phương hướng hủy hoại, rổi trở về lại cái không, tức là cái MỘT, cái Chân Như...

A-VÒ THƯỜNG VÀ THƯỜNG CÒN TRONG PHẬT GIÁO

Khái niệm biến đổi và không biến đổi (hay bất biến) trong Phật giáo mang tên là Vô thường (biến đổi) và Thường còn (không biến đổi). Chân Như, cũng như trong học thuyết Lão Tử, vừa Thường còn, vừa Vô thường. Nghĩa là tại đây cũng vậy,

38ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY

chúng ta luôn luôn gặp trong Triết cổ Đông phương một sự khác nhau hết sức căn bản với khoa học Tây phương hiện đại trong tư duy logic : đó là sự bác bỏ logic bài trung (trong logic hình thức) và chấp nhận sự tổn tại đồng thời của các mặt đối lập với nhau bổ sung hài hòa cho nhau.

Cái Vô thường trong Phật giáo xảy ra dưới hai hình thái : hình thái Satna và hình thái Nhật kỳ vô thường. Satna là một khoảng thời gian biến đổi rất nhỏ, một ngày một đêm chứa 6.400.099.980 Satna. Còn Nhật kỳ vô thường là thời gian tương ứng với những biến đổi xảy trong từng giai đoạn, với những biến đổi rõ rệt, tại đó kết thúc một trạng thái cũ để chuyển sang một trạng thái mới. ví dụ, theo Đạo Phật thì Nhật kỳ vô thường chẳng hạn là một ngày Trần, một năm Trần, hay là một ngày của cối Trời Đạo Lợi (bằng 100 năm cõi Trần). một năm Trời Đạo Lợi (bằng 360 ngày Trời Đạo Lợi)...

Xác thịt và tâm con người luôn luôn biến đổi theo từng Satna một, như dòng nước, như bột bể... Trong tâm của một người, qua một Satna nào đó, có thể khởi lên một ý niệm về thiện, nhưng trong Satna tiếp theo sau, trong tâm đó lại có thể khởi lên một ý niệm về ác... Những biến chuyển (đổi) này gọi là Tâm phân duyên, nằm trong khái niệm Vô thường. Theo khái niệm Sinh, Diệt của Phật giáo, không phải sinh ra mới gọi là Sinh, chết đi mới gọi là Diệt. Sinh và Diệt luôn luôn thay phiên nhau một cách liên tục, như nằm trên một vòng tròn.

B- THUYẾT VÔ NGÃ

Trong Phật giáo, cạnh thuyết Vô thường ở trên, còn có thuyết Vô ngã, tức, là thuyết không chấp nhận có cái Ta (Anattaì hiểu theo nghĩa thông thường, do cái Ta (thông thường) này cũng biến đổi khôn cùng, từ kiếp này sang kiếp-khác...

Luân hồi là một trong những quan điểm cơ bản của đạo Phật.

VI - TRIẾT HỌC DUY VẬT SAMKHYA VỀ CÁI ĐƠN NHẤT

Trong bài diễn văn của Thủ tướng Ấn Độ Andira Gandi đọc tại trường Đại học Sorbone, Paris năm 1981, nhân dịp được trao tặng bằng Tiến sĩ danh dự, Thủ tướng có nói rằng ở Ấn Độ những cuộc tranh luận về Bản thể và những cuộc chiến luận giữa các phái hữu thần và vô thần đã diễn ra trong nhiều thế kỷ. Nhưng trên thực tế, hai tôn giáo lớn của Ấn Đó là đạo Phật và đạo Jaina đều là những tôn giáo phi thần linh. Người ta biết nhiều vế triết học duy tâm của Ấn Độ, nhưng lại ít được biết về những triết học duy vật cổ xưa của Ấn Độ như Loykata và Samkhya, hướng theo một đường lối lý luận nghiêm ngặt. Nhà sinh học Handan, nhà vô thần và nhân văn chủ nghĩa, đã xem Samkhya như là một hệ thống trong đó' các khoa học hiện đại nhất có thể cảm thấy như ở trong địa hạt của mình. Samkhya đã từng là một lò nung luyện trong đó cả một mớ nhân tố dị biệt được hòa hợp lại với nhau, do đó mà thu nạp được một năng lượng mới. Samkhya có khả năng vượt lên trên (thành một đơn nhất, NHP), và thâu tóm đồng thời cả thế giới vật chất bên ngoài, lẫn thế giới tinh thần bên trong.

39TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Một văn bản của Samkhya viết rằng : "Cúi đơn nhất tần lại, nhưng nó được cảm nhận dưới nhiều dụng khúc nhau".

VII - NGUYÊN LÝ CON NGƯỜI LÀ MỘT TIỂU vũ TRỤ

A - CON NGƯỜI ĐỐI XỨNG VỚI vũ TRỤ

Con người trên hành tinh chúng ta. hay là những "anh em" ở nhiều nơi trong Vũ trụ, theo quan điểm cổ Đông phương, đều là những Vũ trụ con (Tiểu Vũ trụ). Thuật ngữ Tiểu Vũ trụ này trỏ con người không chỉ bao hàm tính phức tạp về cấu trúc, chức năng và quan hệ, mà - trong một chừng mức nào đó - bao hàm tính đối xứng giữa con người chính mình với Vũ trụ. Về cơ bản, con người mang trong lòng nó tất cả các đặc tính cơ bản của Vũ trụ. Một lần nữa, chúng ta thấy thêm một biểu hiện nữa của hiện tượng Toàn đó là quan điểm cái bộ phận mang trong lòng nó các đặc tính của cái toàn bộ, như trong quan điểm đơn thể và hợp thể của Lão Tử.

CON NGƯỜI VŨ TRỤ

TÂM LINH ■ TÂM LINH ■

*- ĐỐI XỨNG -* VẬT LÝ VẬT LÝ

TOÀN BỘ BỘ PHẬN

Hình 1. Quan diểm toàn dồ của Triết học cổ Dông phương về nguyên lý con người là một Tiểu Vũ trụ

B-CẤU TRÚC CON NGƯỜI GỒM ĐẠI NGÃ VÀ TIỂU NGÃ

Trên tổng thể, cái phần tử của cái MỘT thấm vào từng người gọi là Đại Ngã của nhân thể. Những phần còn lại của nhân thể gọi Là Tiểu Ngã. Tiểu Ngã còn gọi là cái Tôi (le Moi), và Đại Ngã là cái Không - Tôi hay là cái Nó (le Non-Moi hay le Sur-Moi hay le Soi).

Tiểu Ngã là phụ, còn Đại Ngã là chính.

Con người thường quên Đại Ngã của mình, thường hay sa quá mức vào Tiểu Ngã. Đó là nguyên nhân chính của sự suy đổi đạo lý làm người. Biết sống lành mạnh tức là biết cân đối giữa Đại Ngã và Tiểu Ngã.

Như thế, theo Triết cổ Đông phương, con người là một cấu trúc phức tạp (lại kỳ dị).

Cấu trúc này đã được nhiều lần mô tả theo kinh nghiệm chủ quan của một số nhân vật, như Lạtma Lobsang Rampa ở Tây Tạng (Hình 2), Raymont Réant ở Pháp (Hình 3), Barbara Ann Brennan ở Mỹ (Hình 4)... Như sẽ thấy sau này, nhiều nhà nghiên cứu Tây phương, bị thu hút bởi hệ tư tưởng cổ Đông phương đã cố tìm cách "sản" cái vô hình của con người và đã chụp được một phần nào cấu trúc "vô hình" đó, trong ảnh chụp đã biểu hiện được một phần nào Đại Ngã của nhân thể.

40ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY

Có nhiều phương pháp tiếp cận, cảm nhận, nhận thức Đại Ngã. Trong các phần Cận Sinh học, Cận Tâm lý học, Cận Vật lý học... sau này (trong phần Kinh Dịch) chúng tôi sẽ giới thiệu qua các phần đó. Trong số các phương pháp đó, có phương pháp đặc biệt với mục tiêu làm năng lượng Kundalini hay luồng năng lượng Hỏa Hậu (còn bi ẩn !) ”bò lên" như một con rắn từ Luân xa 1 đến Luân xa 7 (hay huyệt Bách Hội) (Hình 6).

VIII - NGUYÊN LÝ THIÊN - ĐỊA - NHÂN HỢP NHẤT

Do sự tồn tại của Đại Ngã trong cấu trúc và Bản thể của mình, con người hợp với "Trời, Đất" thành Một. Đó là nội dung của nguyên lý Thiên - Địa - Nhân hợp nhất của Triết cổ Đông phương.

Về mặt sinh học, nguyên lý đó biểu hiện như sau (Hình 30) : Năng lượng của Trời đi xuyên qua Luân xa 7 Bách Hội, rồi chảy xuống theo con đường tủy sống. Mặt khác, năng lượng của Đất đi qua Luân xa 1, rồi chảy lên phía trên, cũng theo con đường tủy sống. Trong thuật ngữ Triết cổ Đông phương, Trời được xem là Dương, còn Đất là Âm. Như thế trong con người, thì Dương giáng, Âm thăng. Chính hai quá trình Dương giáng Âm thăng này của năng lượng Trời, Đất trong tủy sống của nhân thể đã tạo ra được mọi nguồn năng lượng cho sự sống của con người. Do các năng lượng này giao nhau, nên người xưa nói rằng con người là cái vạch nối giữa Đất và Trời.

Hiện tượng này cũng có một ý nghĩa khác : Đó là sự giao hòa Âm Dương, một lần nữa lại phản ánh luật phi bài trung của Triết học cổ Đông phương. Cha ông chúng ta thường nói đến các danh từ sau : Thiên bẩm, Thiên nhiệm, Thiên phú, Thiên tử, Thiên tài, Thiên tai, Thiên hạ, và phân biệt hai chữ Thiên tài với Nhân tài... Phải chăng đó chỉ là việc dùng chữ trong văn chương ? Hay đó chính là hệ quả tất yếu của nguyên lý Thiên - Địa -Nhân hợp nhất, mà trong những cuộc chiến đầu của nhân dân ta với ngoại xâm, đã hiện ra dưới phương châm : Thiên thời - Địa lợi - Nhân hòa ? Phải chăng các thuật ngữ trên là thuộc nền văn hóa truyền thống của nhân dân ta ?

_ Tất nhiên, một số câu hỏi như sau tự nhiên đặt ra : Nền văn hóa truyền thống Việt Nam đó đã mang trong lòng nó một Tinh hoa nào đó, hay đó chỉ là những biểu hiện của sự lạc hậu, thiếu văn minh ?

Và có những câu hỏi cần đặt ra một cách rất nghiêm túc : Những chiến công hiển hách của dân tộc chúng ta từ trước đến nay phải chăng là do những sức mạnh của một Tinh hoa nào đó của chính dân tộc chúng ta ? Nếu vậy, Tinh hoa đó là gì, và tìm ở nơi đâu ?

Theo một số tác giả (Nguyễn Việt Cường, Nguyễn Văn Việt...), một trong những vấn để có liên quan là vấn đề Địa Linh. Và Địa Linh sinh Nhân kiệt.

Trong Văn Miếu Quốc Tử Giám có đoạn :

41TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ CỦA ĐẤT Nước

NGUYÊN KHÍ VỮNG THÌ NƯỚC MẠNH VÀ THỊNH

NGUYÊN KHÍ YẾU THÌ NƯỚC YẾU VÀ SUY

CHO NÊN CÁC THÁNH ĐỂ, MINH VƯƠNG

KHÔNG AI KHÔNG CHĂM LO VIỆC

XÂY DỰNG NHÂN TÀI, BỒI ĐẮP nguyên KHÍ

VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM VIỆT NAM

Tất nhiên, hiền tài với nhân kiệt là đồng nghĩa. Còn Nguyên khí chính là bản thể của Địa Linh.

Đất nước chúng ta có những Địa Linh như Chùa Hương, Tam Đảo, Núi Tản Viên, Thất Sơn, Ngũ Hành Sơn, núi Yên Tử, Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây...

Sự nghiên cứu các Địa Linh này sẽ tiến hành như thế nào ? Và đặc biệt quan trọng là đề ra một cách thực nghiêm túc các nguyên tắc, phương pháp bảo vệ các Địa Linh đó.

ĐỊA LINH LIÊN QUAN ĐẾN núi và sông

Chẳng hạn, nguyên khí từ Trời xuống trên rặng núi Hymalaya theo hình xôóán lốc, xem như một anten. Dãy núi này vươn cao ở hai đầu, giữa là bình nguyên Tây Tạng. Về phía Ấn Đó là đỉnh Kailas, về phía Trung Hoa là đỉnh Cồn Luân. Thiên Nguyên khí sau khi xuống đỉnh Kailas, sẽ thấm vào một hồ tròn gọi là hồ Manasovara, nước hồ là môi trường hấp thu Nguyên khí đó. Nguyên khí này được bốn dòng sông Bramaputas, Indus, Kamakli, Stulej mang theo và tạo nên nền văn minh Ấn Độ.

Còn Thiên Nguyên khí xuất phát từ đỉnh Côn Luân sẽ thấm vào một hồ hình bán nguyệt, tên là Raskatal, và được hai dòng sông Hoàng Hà và Dương Tứ mang đi để tạo nên nền văn minh Trung Hoa.

Cuối cùng, dòng sông thứ năm xuất phát từ hồ Manasovara là Cửu Long Giang, đi băng qua Vân Nam, Lào, Campuchiê và chảy về Việt Nam suốt từ Bắc chí Nam, dọc theo dãy Trường Sơn, ở đó nó lại mang thêm Nguyên khí của dãy núi này, và tạo nên nền văn minh Việt.

Theo một số tác giả (như Vương Kim) thì các Địa Linh tạo nên bởi Cửu Long Giang là Thất Sơn (Châu Đốc), núi Dương Đông (Phú Quốc), núi Thạch Đông (Hà Tiên), núi Điện Bà (Tây Ninh),...

Các Địa Linh lại liên quan đến một hệ thống nào đó gọi là Hàng Rào Tâm linh, quan hệ hữu cơ đến các hiện tại, các anh hùng dân tộc, là một hệ thống Tinh hoa tạo nên nền văn hóa dân tộc và che chắn cho dân tộc...

Chiến lược giáo dục tương lai cho con em chúng ta sẽ liên quan đến các vấn đề phát hiện, bảo vệ và phát triển Tinh hoa trên như thế nào ?

42ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY

IX - VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TIẾP CẬN HỆ THỐNG CỦA TRIẾT CỔ ĐÔNG Phương CHO CÁC HỆ TIẾN HÓA TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI NGUYÊN LÝ THIÊN - ĐỊA - NHÂN HỢP NHẤT

A-VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TIẾP CẬN HỆ THỐNG

Vấn để phương pháp luận tiếp cận hệ thống này đáng lý ra phải để sau, sau khi trình bày một số cố gắng của một số nhà nghiên cứu Tây phương về Triết cổ Đông phương. Tuy nhiên, chúng tôi đặt vào sau mục Nguyên lý Thiên - Địa - Nhân hợp nhất chỉ do lý do liên tục trong ý nghỉ.

Khi nghiên cứu các hệ thống tiến hóa, một số nhà nghiên cứu Tây phương sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống (méthodologie d’approche systémique), có thể văn tát đơn giản như sau :

Mỗi yếu tố của hệ thống đang xét (chẳng hạn là con người của một cộng đồng nào đó) được xem vừa là một hệ thống nào đó của một số yếu tố "con" khác, tạo ra yếu tố đó, vừa lại được xem là một đơn vị (yếu tố) của một hệ thống "cao" hơn nào đó.

Chẳng hạn, nếu xét con người theo phương pháp luận này, thì con người, một mặt được xem là một hệ thống gồm nhiều hệ thống con là các lục phủ ngũ tạng của nhân thể của mình. Mặt khác, con người đó lại phải được xem là yếu tố thành viên của một hệ thống mẹ nào đó, chẳng hạn là của cộng đồng người Việt Nam...

B - PHƯƠNG PHÁP LUẬN TIẾP CẬN HỆ THỐNG VỚI TRIẾT CỔ ĐÔNG PHƯƠNG

Cũng tương tự như vậy, nhân loại hành tinh chúng ta vừa được xem là một hệ thống mẹ, bao gồm nhiều phần tử (yếu tố), chẳng hạn là các quốc gia khác nhau, lại vừa được xem là phần tử của một hệ thống mẹ cao hơn nào đó, chẳng hạn đó là hệ thống tất cả các sinh thể thuộc không gian xung quanh chòm Sao Bác Đẩu... Theo phương pháp luận này, Trời - Đất (tức Vũ trụ) là hệ thống mẹ cao nhất. Thế thì nguyên lý Thiên - Địa - Nhân hợp nhất sẽ hiện ra như thế nào dưới góc độ của phương pháp luận tiếp cận hệ thống này ?

Ý nghĩa này khá đơn giản : Nguyên lý Thiên - Địa - Nhân hợp nhất của Triết cổ Đông phương chính là cái lõi của một phương pháp luận tiếp cận hệ thống khi nghiên cứu con người và nhân loại nói chung. Nói cách khác, Triết cổ Đông phương - với mọi quan hệ giữa con người và Trời Đất - là một khoa học về hệ thống, đi theo xu hướng phương pháp luận tiếp cận hệ thống, trong đó Đất và Trời có những tham gia chủ yếu hay quyết định vào sự tiến hóa của nhân loại. Điều này được phản ánh rất rõ dường như trong mọi học thuyết cổ Đông phương, chẳng hạn là nguyên lý Dương xướng Âm họa trong Kinh Dịch.

Chúng ta hãy nói thêm về phương pháp luận tiếp cận hệ thống này (như quan điểm của nhà triết học Nga Tochoutchine chẳng hạn). Theo phương pháp luận này, cẩn xét, xác định ba loại cấu trúc sau :

43TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

aj Xét cấu trúc thực thể của đối tượng (structure substantielle), hay xa hơn. theo tinh thần của các nguyên lý của Triết cổ Đông phương, xét cấu trúc bản thể tstructure ontologiqueì của đối tượng.

b.) Xét cấu trúc chức năng của đối tượng (structure fonctionnelle).

C.I Xét cấu trúc genetic (structure génétique) của đối tượng. Nói nôm na là xét xem các xuất xứ nào đã sản ra đối tượng đang xét.

Ngoài ra, trong phương pháp luận tiếp cận hệ thống, cần phải xét mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn. Với một số tính chất trên, bạn đọc có thể vận dụng để tìm hiểu các cấu trúc thực thể, chức năng và genetic của các hình 5, 6, 7, 8.

X- TÍNH CÓ NHỊP ĐIỆU VÀ TÍNH XOẮN CỦA sự TIẾN HÓA THEO TRIẾT cổ ĐÔNG PHƯƠNG

A-TÍNH CHẤT CỦA CÁC QUY LUẬT CỦA sự TIẾN HÓA THEO TRIẾT CỔ ĐÔNG PHƯƠNG

Trước đây, chúng ta đã thấy quan điểm về tính xoắn của các hiện tượng, quá trình chẳng hạn của Swami Vivekananda. Nói chung, nền văn hóa cổ Đông phương quan niệm một Vũ trụ tiến triển một cách có nhịp điệu, tức là mang tính gần như tuần hoàn, và ngày càng hướng đến sự hoàn mỹ (nhớ lại những cơn xoắn lốc của Vivekananda).

Nhưng tất nhiên, các quy luật trong nền văn hóa cổ Đông phương đều mang tỉnh không chỉ Vật lý, mà cà Tâm linh, nghĩa là các quy luật trong Vũ trụ quan và nhân sinh quan của nền văn hóa đó đều mang tính Vật lý - Tâm linh. Thành thử có thể kết luận như sau :

Theo Vũ trụ quan và nhân sinh quan của nền Văn minh cổ 'Đông phương các quy luật chi phối nhân loại chúng ta, trơmj quy mồ lớn cũng như trong quy mô bé, đều mang TÍNH CHẤT VẬT I.Ý - TÂM LINH

Và biểu hiện dưới DẠNG XOẮN Lốc.

Kết hợp tính tuần hoàn có nhịp điệu và tính định hướng chung về phía hoàn thiện.

Tất cả các cấu trúc của thực tại trong triết cổ Đông phương phải ^dy dựng trên một số QUAN Điểm (TIÊN DỀ» THỐNG NHẤT.

'Đó [à biểu hiện của TÍNH CHẤT KHOA HỌC TIÊN ĐỀ NHẤT QUÁN của Triết học cổ 'Đông phương.

44ĐẠI CƯƠNG Đ ĐÔNG và tây
Hình 2. TIỂU NGÃ VÀ ĐẠI NGÃ THEO LOBSANG RAMPA (TÂY TẠNG)
Hình 2. TIỂU NGÃ VÀ ĐẠI NGÃ THEO LOBSANG RAMPA (TÂY TẠNG)
45TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY
Hình trong sách

2 -- 1

Hình 3. TIỂUNGÀĐẠINGÃCỦANHÂNTHỂTHEORAYMONDREANT(PHÁP)
HìnhphảibêntrêntrỏLuânxaBáchHội.Luânxachínhconngườisửdụngkhi
cần quanhệthôngtinnănglượngvớicáiMỘTtrongVũ trụ
HìnhbênphảiphíadướitrởcácgốccủacácLuânxatrongtủysống(dạidiệnphần

lớn cho Đại ngã).

46ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY
Hình trong sách

Hình 4. TIỂU NGÃ VÀ ĐẠI NGÃ CỦA NHÂN THỂ THEO BARBARA ANN BRENNAN (MỸ)

Các cơ thể vô hình của nhân thể :

- Các Có thể 7, 6, 5 thuộc bình diện Tiên thiên (Tâm linh, Đại ngã).

- Cơ thể 4 thuộc bình diện Trung gian - Các cơ thể 3, 2, 1 thuộc bình diện Hậu thiên (Vật lý, Tiểu ngã)

47TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY
Hình trong sách

Trung tâm tâm thần

Trung tâm Trung lâm ý chí cảm giác

Hình 5. CÁC LUÂN XA (ĐẠI HUYỆT) ĐẠI DIỆN CHO CÁC CƠ THỂ VÔ HÌNH (BARBARA ANN BRENNAN)

48ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY
Hình trong sách

Villd

Si & 8a

Hình 6. HIỆN TƯỢNG THẮNG CỦA KUNDALINI (LUỒNG HỎA HẬU) TRÊN CON ĐƯỜNG NHẬN BIẾT ĐẠI NGÃ. HỌC THUYẾT Về DÀ.

49TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

!;úng lương Tiên thiên (từ trờ..

Hình trong sách

Hệ thần kinh

Hình trong sách

Cực Cơ quan nội tiết

Hình 7. so ĐỒ Văn CHUYỂN VÀ CHUYỂN HÓA NĂNG LƯỢNG TIÊN THIỂN
Hình 7. so ĐỒ Văn CHUYỂN VÀ CHUYỂN HÓA NĂNG LƯỢNG TIÊN THIỂN

CHO ĐẾN MÁU NGƯỜI (BARBARA ANN BRENNAN)

50ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY
Hình trong sách

MẶT - TRÔI Năng lượng Prana (tủ Mật Trãi) tịt Luân xa Lá lách

Luân xa Luân Xa Thân Luân xa Luân xa tim vương mông kinh hệ yêt hầu rốn óc Bò phần Máu d'c óc hạ Bụng sinh dục thương và trung

: Hơi thở Xương thi mong Luân Xa Luân Xa Bách Hôi Ân Đường)

BÔ Ức : Lỗ chân lòng

Tri Bac Thiêng năng liêng các cơ quan bãi tiết

Hình 8. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC LUÂN XA VÀ CÁC CHỨC NĂNG KHÁC CỦA CƠ NÓI RIÊNG GIỮA CHỨC THẾ NĂNG SINH DỤC VÀ NÃO BỘ) (THÔNG THIÊN HỌC

51TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY
Hình trong sách
Hình trong sách
Hình trong sách

Hình 9. NHỮNG BIỂU TƯỢNG HÌNH HỌC (LÁ MEBIUS. CON DƯỜNG SỐ 8) CỦA TRIẾT cổ

ĐÔNG PHƯƠNG VỀ NHỊP ĐIỆU, TÍNH Tuần HOÀN TRONG sự TIẾN HÓA CỦA vũ TRỤ

(ỡ Việt Nam, G.S.. Lê Khánh Trai đã phát hiện tính chất tôpô Mebius của Triết cổ Đông phương từ năm 1968, Báo cáo tại Lữ, Hà Bắc)

52ĐẠI CƯƠNG Đ ĐÔNG và tây

B - BIỂU TƯỢNG CON ĐƯỜNG số 8 VÀ LÁ MEBIUS CỦA TRIẾT CỔ ĐÔNG PHƯƠNG

Tính tuần hoàn có nhịp điệu trong sự tiến hóa của Vũ trụ và tính MỘT của Vũ trụ đã dẫn các nhà Minh Triết cổ Đông phương đến một số biểu tượng hình học là con đường số 8, hay lá Mebius nếu xét vấn để rộng hơn, Chúng ta hãy lấy một băng giấy bình thường hình chữ nhật. Sau đó có hai cách xếp như sau :

I) Hãy gián hai mép của nó lại với nhau (Hình 9), như khi cuốn thuốc lá. Ta sẽ được một băng trụ. Bảng trụ này là một không gian hai chiều, có hai phía, phía trong và phía ngoài, nếu chúng ta bôi xanh một mặt tờ giấy trên trước khi gián mép.

2) Bây giờ cúng ta làm một cách khác. Trước khi gián hai mép lại với nhau, chúng ta hãy xoắn một mép một góc 180 độ (như khi vận chiếc áo đang ướt). Ta sẽ thu được một hình không gian hai chiếu, ở đó chỉ có một phía, không có phía trong và phía ngoài phân biệt nhau (Hình 9). Một không gian như thế gọi là một không gian một phía, hay gọi là lá Mebius (tên một nhà toán học đã tạo ra nó). Lá Mebius một phía này là biểu tượng của tính MỘT, tính Đơn nhất của Vũ trụ quan sâu sác nhất của Triết học cổ Đông phương. Hình ảnh đơn giản nhất của lá Mebius, khi chiều ngang của nó thu lại thành một đường hình học, là hình số 8. Hình số 8 trong Triết cổ Đông phương biểu thị tính tuần hoàn, tính có nhịp điệu. Sau này chúng ta sẽ thấy nhiều ứng dụng của các biểu tượng hình học này.

c - CON NGƯỜI LÀ MỘT HỆ THỐNG MỞ

Ngoài các nguyên lý và tính chất trên, trong các học thuyết Đông phương cổ, cần đặc biệt nhấn mạnh một hệ quả hết sức quan trọng của nguyên lý Thiên - Địa - Nhân hợp nhất và phương pháp luận tiếp cận hệ thống gắn bó hữu cơ với nguyên lý đó : đó là tính chất mở louvert) của con người, xem như một hệ thống nằm trong một hệ thống lớn hơn là Vũ trụ (tất nhiên, chúng ta cũng phải tính đến các cộng đồng khác nhau trong xã hội loài người, xem như những hệ thống tương đối lớn).

Và tất nhiên, do tính chất mở đó, thông tin trở thành nhu cầu sống còn của con người và các cộng đồng.

XI - QUAN ĐIỂM VỀ MỘT VŨ TRỤ CÓ TRẬT Tự, CÓ QUY LUẬT CỦA TRIẾT cổ ĐÔNG Phương

Trong thời gian gần đây, trong các nghiên cứu của một số nhà khoa học Tây phương, đã xuất hiện nhiều để tài về Ngẫu nhiên, về cái gọi là Hỗn mang (Chaos).

Từ đó đã xuất hiện nhiều tranh luận gay gắt Về mối quan hệ giữa Tất định (Déterminisme) và Hỗn mang (Chaos), mà chúng ta sẽ trở lại sau này, khi bàn đến khoa học Dự báo hay Tương lai học (Futurologie).

Thành thử, cần nêu rõ một số quan điểm của Triết cổ Đông phương về góc độ này. Triết học cổ Đông phương quan niệm một Vũ trụ có trật tự, chia thành nhiều

53

cõi khác nhau, trong đó sự sống được biểu hiện với nhiều mức độ khác nhau, các sinh vật trong mỗi cõi có những khả năng khác nhau...

Tuy nhiên, Triết học đó vẫn dựa vào tính MỘT của Vũ trụ. Dĩ nhiên, về mặt logic, chính cái MỘT này đảm bảo được tính chất có trật tự nói trên.

A - QUAN ĐIỂM MỘT VŨ TRỤ CÓ TRẬT Tự CỦA PHẬT GIÁO

Những bạn đọc đã nghiên cứu Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Siưamgama Sutra) (chẳng hạn do Hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh ấn hành, 1992) thấy quan điểm này khá rõ.

1) Có mười cõi Tiên và mười thứ Tiên, như Địa hành Tiên (chuyên dùng đồ bổ), Phi hành Tiên (chuyên dùng cỏ cây), Du hành Tiên (chuyên luyện đồ kim thạch, làm thuốc trường sinh), Thiên hành Tiên (chuyên luyện nước bọt), Thông hành Tiên (chuyên hấp thụ Tinh hoa của Trời Đất), Đạo hành Tiên (chuyên tập phù chú, chữa bệnh cho đời)...

2) Có sáu cõi Trời Dục giới, như Tứ Thiên Vương Thiên, Đạo Lợi Thiên, Tu Diệm Ma Thiên, Đâu Suất Đà Thiên, Lạc Hóa Biến Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên.

3> Có bốn cõi Sắc giới là Sơ Thiến, Nhịn Thiền, Tam Thiên và Tứ Thiền, trong đó Sơ Thiến, Nhị Thiến, Tam Thiển đều chia thành ba bậc, riêng Tứ Thiền chia làm bốn bậc... Ngang với cõi Tứ Thiên, còn có năm cõi khác gọi là Tính Cư Thiền, chỗ ở của các bậc thánh nhân...

4) Ngoài ra còn có những cõi Vô Sắc giới... như Không xứ, Thức xứ, Vô Sử Hữu xứ, Phi Tưởng Phi Phi Tướng xứ. Những cõi khác nhau có những đặc tính khác nhau về không gian, về thời gian, về các phương thức năng lượng, thông tin, các hình thái sinh học... khác nhau, từ đó suy ra những hình thái logic khác nhau...

Chẳng hạn, có cõi còn cần sử dụng đến năng lượng, ánh sáng Mặt Trời, có cõi lại tự mình có hào quang chiếu sáng... Có cõi ở đó tình dục biểu hiện bằng cách nắm tay nhau, hay nhìn nhau. II ■

Về thời gian, Phật giáo quan niệm năm các cõi bằng 360 ngày của cõi đó. Nhưng một ngày của một cõi Trời có thể bằng 50, 100 hay 200, 400, 800 năm của cõi Trần chúng ta... Sự khác nhau về thời gian này, theo ý kiến chúng tôi, không thể kết luận ngay chỉ là một điều huyền hoặc. Ngay trong lý thuyết tương đối, tính chất tương đối của thời gian cũng đã được chứng minh.

5) Trong Phật giáo, cũng để cập đến các cõi người. Phật giáo chia cõi người thành bốn cỗi :

- Cõi Tây Ngưu Hóa Châu. Cõi này không chú trọng đến việc học hành, chi chú trọng đến việc làm giàu, mua bán, đổi chác. Họ thường dùng "con trâu" để trao đổi, mua bán.

- Cõi Diêm Phù Đề hay Nam Thiên Bộ'. Châu. Cõi này có phân chia đảng cấp rất mạnh, có nhiều sự chênh lệch về tuổi thọ, về tính tình, trí tuệ, sức khỏe, khả năng, giàu nghèo... Chủ yếu cõi này dùng vàng (tức là diêm phù đế) làm tiền để tiêu. Cõi Trần chúng ta thuộc cõi này.

54ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY

- Coi Bắc Cu Lô Châu. Cõi này gồm những người chưa đủ phúc đức để lên cõi Trời, nhưng so với cõi Diêm Phù Đế thì có trình độ hơn. Họ đến đây xem như à tại một chặng đường trung gian.

- Cõi Đông Thắng Thần Châu. Cõi này không có tư hữu. Mọi người đều bình đẳng với nhau về quyền lợi, tài sản. Không có phân biệt giai cấp. Mỗi người đều lấy sự học hành, văn hóa, đạo đức, triết học làm lẽ sống. Người nào học cao thì được đứng đầu trong một nước của cõi đó, theo cách quần chúng suy tôn. Trên đây là một số thông tin trích từ đạo Phật về quan điểm trật tự của tôn giáo đó để bạn đọc tham khảo.

B. QUAN ĐIỂM VŨ TRỤ TRẬT Tự THEO LÃO GIÁO

Chúng ta chuyển sang Lão giáo, Cũng như Phật giáo, Lão giáo cũng quan niệm một Vũ trụ có tôn ti, trật tự. Theo Lão giáo, Vũ trụ có 36 tầng Trời như sau :

2. Thanh Vi Thiên 1. Đại Là Thiên

4. Đạo Xích Thiên 3. Vũ Dư Thiên •

6. Phạm Độ Thiên 5. Cổ Tiêm Thiên

8. Thường Dung Thiên 7. Ngọc Long Thiên

10. Hàn Dung Diêu Thành Thiên 9. Tú Lạc Cẩm Thượng Thiên

12. Hạo Đình Tiêu Độ Thiên 11. Uyên Thông Nguyên Động Thiên

14. Thượng Thiệt Nguyên Lạc Thiên 13. Vô Cực Đàm Thể Thiên

16. Thái Hoàng ông Trọng Thiên 15. Vô Tư Giang Điền Thiên

17. Thủy Hoàng Hiếu Mang Thiên 18. Hiến Định Cực Phong Thiên

20. Nguyệt Tải Khổng Thăng Thiên 19. Thái An Hoàng Nhai Thiên

22. Huyền Minh Cung Khánh Thiên 21. Thái Hoán Cực Dao Thiên

23. Quán Minh Đoan Tính Thiên 24. Hư Minh Đường Diệu Thiên

25. Trúc Lạc Hoàng Gia Thiên 26. Diệu Minh Tông Phiêu Thiên

27. Huyền Minh Cung Hoa Thiên 28. Xích Minh Họa Dương Thiên

29. Thái Cực Mộng Ế Thiên 30. Hư Vô Bình Dục Thiên

32. Quang Minh Văn Học Thiên 31. Thất Diệu Mã Di Thiên

34. Thánh Minh Hà Động Thiên 33. Huyên Thai Bình Dục Thiên

36. Thái Hoàng Hoàng Tăng Thiên 35. Thái Minh Ngọc Hoàng Thiên

c. QUAN ĐIỂM MỘT vũ TRỤ có TRẬT Tự CỦA THÔNG THIÊN HỌC (THÉOSOPHIE)

Theo Thông thiên học, Vũ trụ gòm bảy cõi như sau :

1) Cõi Adi, gồm 7 cõi con

2) Cõi Anoupadaka, 3) Cõi Akasha, -

55TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY
4CõiVayou,
5CõiAgni,
6CõiApas,
7CõiTrần,

Các cõi con trong cõi Trần là cõi siêu rắn, cõi rắn, cõi chất lưu, cõi khí, cõi plasma... Như thế, theo Thông Thiên học, Vũ trụ gồm tất cả 7 X 7 = 49 cõi con. Cuộc sống trong Vũ trụ có thể ở dạng hữu hình (Roupa) hay vô hình (Aroupa).

D - CHÂN SƯ C.JANARAJADASA NÓI VỀ CÁC CÕI GIỚI VÔ HÌNH

Nhà Triết học và Thông Thiên học nổi tiếng C.Jananrajadasa có đoạn nói về các cõi giới vô hình như sau :

"Đối với thế giới rộng lớn hơn và vô hình đang bao quanh chúng ta, một vấn để mà chúng tôi đề cập đến không phải theo như lời người khác nói, mà một phần là theo các kinh nghiệm riêng và trực tiếp của chúng tôi. Có gỉ đặc biệt không trong não bộ của chúng tôi, chúng tôi không biết. Nhưng một sự kiện luôn luôn thường trực đối với ý thức của tôi là có tồn tại một thế giới mà mắt thường không trông thấy được - gọi là vô hình - bao quanh chúng ta, ở mọi phía, đi xuyên qua, thấm vào và bao bọc mọi sự vật, một thế giới hết sức khó tả. Thế giới này trong thấy không phải bằng con mắt. Các con mắt mở hay nhấm, điều này không gì quan trọng. Hiện tượng nhỉn thấy bằng mắt vật lý và hiện tượng trông thấy một cách nội tại này là độc lập với nhau, và tuy cả hai hiện tượng trên hiện ra đồng thời với nhau. Các con mắt vật lý của chúng tôi nhìn vào mảnh giấy chúng tôi đang viết và trong lúc đó thì có một cái gì đó trong bản thân - chúng tôi không biết gọi như thế nào - lại nhìn thấy thế giới vô hình, ở bên trên, ỏ bên dưới và đi xuyên qua tờ giấy, cái bàn, gian phòng đang ở... Thế giới này rất sáng, và dương như mỗi một điểm của thế giới đó có một ánh sáng riêng của nó, nhưng lại không thuộc loại ánh sáng vật lý. Không gian thế giới này chứa đầy các chuyển động, nhưng lại là một chuyển động hiện ra một cách run rẩy và rất khó tả, gợi ý chúng ta quan niệm một chiều thứ tự nào đó. Chúng tôi - với tất cả các uy tín mà chúng tôi có được, với lương tâm của mình, ý thức của mình, với tất cả những hiểu biết của mình - khẳng định rằng thế giới này là con thực sự hơn cả thế giới vật lý, và mỗi khi tôi nhìn thế giới đó rồi lại nhìn thế giới của Quả Đất, của bầu trời, và của những con người đang sống bằng các mát vật lý của 4nỉnh, thì chúng tôi thấy thế giới thứ hai này dường như chi là một hiện tượng hoàn toàn hoang tưởng, một Maya (Maya có nghĩa là Vô minh, NHP) và không còn có những phẩm chất cho phép chúng tôi gán cho cái từ : có thực. Mỗi khi chúng tôi so sánh thế giới của chúng ta với sự tồn tại mạnh mẽ này của cái phần đơn giản đó là các cõi giới vô hình, thì tưởng chừng thế giới chúng ta là ngỡ ngàng như một giấc mộng.

Tuy nhiên rất rõ ràng là thế giới vật lý của chúng ta là có thực. Và trong lúc này, nó là khá thực đối với tôi, ở chỗ tôi đang viết những dòng chữ này trên các dãy núi Java, ở chỗ nhiều con muỗi đang đốt chúng tôi, và cũng ở chỗ tôi đang có một ý thức khó chịu về cái đốt đó.

56ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY

Nhưng, những kinh nghiệm thu thập được từ lâu cho biết rằng thế giới vật lý chúng ta chỉ là một mảnh của thế giới thực sự. đi xuyên qua thế giới vật lý này. Và ngoài tầm của thế giới vật lý. còn có nhiều thế giới vô hình nữa. Mỗi một thế giới đó đều là vật chất, nghĩa là đó không phải là chỉ là một quan niệm đơn thuần của tinh thần, mà là được tạo ra từ vật chất. Tuy nhiên, vật chất của các thế giới vô hình này về phẩm chất cũng như về bản chất là tinh tế hơn nhiều so với loại vật chất mà chúng ta đã quen thuộc. Tất cả các thế giới vô hình đều đang ở chung quanh ta và ngay bây giờ. Trong không gian, các thế giới đó không ngăn cách chúng ta. Nhưng làm thế nào mà trong gian nhà chúng ta, trong các khu vườn chúng ta, trong đường sã và đường phố chúng ta, lại có nhiều thế giới như thế ? Làm sao mã nhiều thế giới khác nhau như thế lại có thể cùng tồn tại trong cùng một không gian ? Lý do là ở chỗ mỗi một thế giới đều được tạo ra bởi một thứ vật chất tinh tế hơn thế giới nằm ngay dưới. Tỉ như cát, nước và khí có thể ở trong cùng một binh, do nước thì tinh tế hơn cát, còn khí thì tinh tế hơn nước". (Theo trình tự trên của các cõi Akasha, Vayou, Agni, Apas, Vật lý, thì vật chất Apas tinh tế hơn vật chất Vật lý, còn vật chất Agni thì tinh tế hơn vật chất Apas,... vật chất Akasha tinh tế hơn vật chất Vayou. Đối với các cõi Adi, Anoupadaka... chúng tôi chưa có điều kiện nghiên cứu, NHP).

Nhân loại đang đứng trước những bài toán lớn về vũ trụ quan. Một vấn để lớn đặt ra là : Các vũ trụ quan nói trên, của Phật giáo, Lão giáo, Thông thiên học... là đúng hay sai ? Ngày trước, chủ nghĩa Duy lý (Rationalisme) cho rằng những vũ trụ quan đó chỉ là những điều hoang tưởng, bịa đặt của các tôn giáo khác nhau, mà khoa học thì chống tôn giáo, vì tôn giáo là phản khoa học !... Một số nhà khoa học cho rằng các quan điểm trên là trái với Thiên văn học hiện đại chẳng hạn, cũng như trái với thuyết Darwin...

Thực vậy, các quan điểm đó là hoàn toàn trái với học thuyết Darwin, và cũng không bao giờ các trang bị Thiên văn học hiện đại - dựa vào các nguyên lý vật lý - lại có thể cho phép chúng ta phát hiện được các cõi khác nhau đó, nếu có. Vấn để hiện ra dưới những góc độ khác, dưới những phương pháp luận, cơ chế... khác, nhưng lại sâu hơn, với những tầm triết học khác. Sự tiến hóa của nhân loại không cho phép các tư tưởng khoa học dừng lại, bất cứ nơi đâu, mà phải ngày càng đi sâu vào các cõi tồn tại mới, những cái còn chưa biết với những nhận thức luận, phương pháp luận mới, cơ chế mới...

Chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng với chủ nghĩa Duy lý thì không bao giờ khoa học chứng minh được, làm sáng tỏ được biết bao nhiều hiện tượng kỳ lạ về sự sống đang hằng ngày, hàng giờ diễn ra xung quanh chúng ta.

Thuyết Tất định (Déterminisme), quan điểm Quy tụ (Réductionisme) của Laplace đã thất bại, đơn giản chỉ vì tính cơ giới nghèo nàn của chúng... Đó đã là một trong những bài học lớn của lịch sử nhận thức khoa học nhân loại. Và còn biết bao nhiều bài học khác, xung quanh lý thuyết Gen, lý thuyết Tương đối...

Theo sự hiểu biết của chúng tôi, thì cõi Apas chính là chân không của cõi vật lý, cõi Agni là chân không của cõi Apas... Còn cõi Adi là thuộc một loại mã một số nhà khoa học (như Okun) gọi là chân không nguyên thủy. Sau này sẽ thấy rằng vật lý học hiện đại đang dần dần đi vào cái mà trước đây họ gọi là "cái không có gỉ", mà trên thực tế, họ đã đi vào được với một số bước... Cái ngày trước người ta

57TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

cho là không tồn tại (chân không), thì nay đã trở thành những điểm xung yếu nhất của sự tổn tại !

Nói cho cùng, có thể các quan điểm trên là những định hướng cơ bản, nghiêm túc và sáng suốt của nhiều nhà hiển triết, nhiều nhà tư tưởng nhiều thời đại khác nhau của lịch sử đã để lại cho hậu thế. Cần có những tiếp cận trân trọng đối với các quan điểm này, trước khi thừa nhận hay phủ nhận. Thực ra, những quan điểm này phần lớn xuất xứ từ một hình thái nhận thức luận hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa Duy lý, đó là nhận thức luận Minh triết, một hình thái nhận thức luận mà trong tương lai chúng ta phải khám phá cho được cơ chế. Đồng thời cần trở lại phần Sáng tạo trước đây đã nói khi trình bày các tư tưởng của Lão Tử.

Sự đối lập này giữa Khoa học hiện đại và Triết cổ Đông phương nằm tại nơi nào ? Khoa học hiện đại xuất xứ từ chủ nghĩa Duy lý thiên cận của nền văn minh Tây phương, một nền văn minh đã vội tuyệt đối hóa các thành tựu ồ tắm vật lý, mà không thấy được sự hạn chế à tầm triết học của nó, và đã chỉ dựa vào một phương pháp luận thực nghiệm và phương pháp luận khách quan, bắt đầu từ các công trình của Galilée... Và đồng thời dựa vào một hình thái toán học đã trở thành bất lực khi cần đi vào cấu trúc tinh thần của con người, là toán học kinh điển với nguyên lý bài trung của nó. Nói nghiêm túc, thời đại chúng ta đang chuyển sang một phương pháp luận nhận thức khác, là phương pháp luận tích hợp (integration) phương pháp luận chủ quan với phương pháp luận khách quan sẵn có.

Trong lịch sử toán học thế giới, đang dần dần xuất hiện một hình thái toán học khác là toán tập mờ (La théorie des ensembles flous), sáng tạo bởi nhà toán học L. Zadeh năm 1965 (California). Chúng ta đang đứng trước những thay đổi vũ trụ quan sâu sắc...

Còn Tôn giáo ? Theo chúng tôi hiểu thì Tôn giáo (theo đúng nghĩa của nó) là con đường dẫn đến mục tiêu sau : Nhận thức được cái MỘT hay cái Đại Ngã trong mỗi một chúng ta, hay là nhận thức được nguyên lý Thiên - Địa - Nhân hợp nhất một cách trọn vẹn... Cái MỘT này có thể hiểu theo những hình thức khác nhau tùy từng người một (Thượng Đế, Trời, Thiên nhiên, Bản thể...). Con đường này là con đường mang tính nhân văn sâu sắc nhất, ở đây chẳng có gì là sai trái. Tôn giáo là hướng về Bản thể, Tôn giáo không thể đồng nhất với các nghi lễ, với các hành lễ...

E - VỀ MỘT Cơ CHẾ THÔNG TIN PHỔ QUÁT CỦA vũ TRỤ

Các quan điểm khác nhau nói trên tập trung vào một sự tồn tại một Trật tự nào dó trong Vũ trụ, nghĩa là Vũ trụ không mang tính hỗn mang về cơ bản. Mặt khác, cũng theo quan điểm về tính trật tự phổ quát đó, Vũ trụ tự nó phải là một hệ thống tự điều khiển, để đảm bảo tính MỘT của nó. Và trong trạng thái tự điều khiển của mình, trước tính mênh mông của ngày không gian vật lý (chưa nói đến các loại không gian khác, nếu có), rộng đến hàng tỉ năm ánh sáng, rõ ràng khái niệm tốc độ ánh sáng của vật lý học hiện đại là hoàn toàn bất lực. Chưa nói đến việc khái niệm tốc độ liệu có tồn tại hay không trong các loại không gian khác, thời gian khác ! Chưa nói đến khả năng nhiều cõi không có... không gian và thời gian !

58ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY

Tất nhiên, giữa các quan điểm nói trên, có nhiều điểm không hoàn toàn giống nhau, không thống nhất với nhau. Nhưng nói chung, chúng ta có thể rút ra những đặc điểm sau của vũ trụ quan cổ Đông phương :

TÍNH TỰ ĐIỀU KHIỂN ĐƠN NHẤT - TÍNH CÓ TRẬT TỰ - ĐA DẠNG

NHỮNGVẤNĐỀVỀ
KHÔNGGIAN,THỜIGIAN,
TỐCĐỘTHÔNGTIN,
NĂNGLƯỢNG

XII - TAM TÀI VÀ THẤT TINH Theo hệ tư tưởng về Trật tự trong Vũ trụ, về tính có điều khiển để đảm bảo cái MỘT trong Vũ trụ quan của Triết học cổ Đông phương, xuất hiện các biểu tượng gọi là Tam tài và Thất tinh.

A - TAM TÀI Tam tài hiểu là Bi, Trí, Dũng, hoặc là Brahman, Vishnou, Civa trong Ấn Độ giáo, hay là Đức Chúa Cha (Ý chí - Quyến lực), Đức Chúa Con (Bác ái - Minh triết), Đức Thánh Thần (Thông tuệ tích cực) trong Cơ Đốc giáo, hay là Đức Bàn Cổ (Manou), Đức Phật (Christ), Đức Văn Minh Bồ Tát (Mahachohan) trong Thông thiên học... (Hình 10).

Hình trong sách

Hình 10. TAM TÀI VÀ THẤT LINH

59TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

B - THẤT TINH

Thất tỉnh trỏ 7 ngôi Sao của chòm Sao Bắc Đẩu (Hình 10). Theo quan điểm của Triết cổ Đông phương, chòm Sao Bắc Đẩu có ý nghĩa sâu sắc đối với cuộc sống của nhân loại chúng ta.

Chúng ta biết rằng tại các Kim tự tháp Ai Cập cũng có những biểu hiện kỳ lạ của Sao Bắc Đẩu. Mặt khác, trong các học thuyết của Cổ Đông phương như Tử Vi, Độn Giáp, Thái Ất, cổ nhân cũng đã sử dụng khá nhiều tên của các sao chòm Sao Bác Đẩu, như Tham lang, Vũ khúc, Văn khúc, Liêm trinh, Cự môn...

XIII - Dự BÁO CỦA NHÀ TIÊN TRI ĐÔNG PHƯƠNG ẤN Độ BABU

Nhà Tiên tri Ấn Độ Babu cách đây vài chục năm đã dự báo như sau qua cuộc nói chuyện với nhà báo Paul Brunton {L’ỉnde secrète, Paul Brunton, hay là Đông phương huyền bí, bản dịch của Nguyễn Hữu Kiệt) :

"Ấn Đó là một nước nghèo, dân tộc này đã đắm chìm trong ngủ mê, bất động. Tuy nhiên việc thịnh hay suy của Trời, Đất là nối tiếp nhau như ngày và đêm, Âm Dương vận hành theo định luật tuần hoàn. Lịch sử các nước khác cũng không thể nằm ngoài quy luật này được. Ấn Độ đang ở thời suy vong, nhưng có lúc nó cũng sẽ quật cường, khi nào những hoài bão tinh thần cao cả của nó từ thuở xưa được đánh thức dậy trong lòng người, để mở màn cho một giai đoạn tích cực hoạt- động và phục hưng xứ sở.

Ngày nay châu Âu đang sống mạnh với những hoạt động thực tế, nhưng phong trào duy vật mãnh liệt của nó có lúc sẽ phải trôi qua, và nó sẽ quay đầu trở về với những lý tưởng cao cả hơn. Nó sẽ đi tìm những hoạt động tâm linh và những hoài bão tinh thần... Bởi những lẽ đó, những giáo lý về Triết học và Tâm linh của Ấn Độ sẽ tràn qua Tây phương như một luống sóng mới. Nhiều tác giả đã phiên dịch vài bộ sách bút tự Phạn ngữ và Thánh kinh của Ấn Độ ra các sinh ngữ Tây phương. Nhưng vẫn còn nhiều sách vở, tư liệu hãy còn được giữ gìn trong các thư viện bí mật, ẩn trong các hang núi vùng sơn cước hẻo lánh của Ấn Độ, Nepal và Tây Tạng. Những sách đó cũng phải có ngày được tiết lộ ra cho thế giới biết.

Không bao lâu, sẽ đến lúc mà nền Triết học uyên thâm và nền Đạo lý cổ truyền của Ấn Độ sẽ phối hợp với những khoa học thực tế của Tây phương. Những điều huyển bí của các thời cổ xưa phải được phổ biến để đáp ứng lại với những nhu cầu của thế hệ này... Trước khi thế kỷ này kết thúc, Tây phương sẽ khám phá và nhìn nhận những mãnh lực vô hình trong Trời, Đất, ảnh hưởng đến sinh hoạt của con người và vạn vật."

Nguyễn Hoàng Phương, Tích hợp đa văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1996. Bản số hóa từ ảnh quét; văn bản do OCR nên có thể còn sai sót — bấm vào số trang trong bài để đối chiếu ảnh quét nguyên bản.

Trong mục này