TH Tích hợp đa văn hóa Đông Tây

Tập IV — Cơ sở Thái Ất — học thuyết dự báo chung cho cộng đồng, Thiên cơ

Chương 39

Tính đa tiêu chuẩn của học thuyết Thái Ất. Minh họa. Tiên tri

Trang 554–566 của bản in·Xem ảnh quét
554NHÂN THỂ - THÁI ẤT

TÍNH ĐA TIÊU CHUẨN CỦA HỌC THUYẾT THÁI ẤT. Minh HỌA. TIÊN TRI

I - TÍNH ĐA TIÊU CHUẨN của những bài Toán TRONG HỌC THUYẾT THÁI ẤT. TÍNH NGHỆ THUẬT CHỦ QUAN

Những bài toán trong học thuyết Thái Ất, cũng như trong học thuyết Độn Giáp, là những bài toán đa tiêu chuẩn, trong đó nhiều tiêu chuẩn lại có thể đối kháng nhau. Và trên nguyên tắc, không một tiêu chuẩn nào lại ' tiêu diệt" được hoàn toàn mọi tiêu chuẩn khác. Phải dung hòa trong những mức độ cần thiết nào đó để tìm ra giải đáp.

Nguyên lý bài trung nhầm lẫn ở chỗ đó. Một đầu óc cơ giới ở đây chỉ mang đến thất bại. Hơn nữa, đây cũng là đất dụng võ của phương pháp luận chủ quan, tức là của tài năng riêng trong việc đánh giá (estimation) các yếu tố khác nhau tham gia vào hiện tượng hay quá trình. Đây là một nghệ thuật, tìm ở đây một cách giải quyết "rành rành" như trong vật lý học là một điều không tưởng ỉ

Các tham số trong học thuyết Thái Ất là :

- Vị trí của các đối tượng với những quan hệ khác nhau, nhưng lại có lúc khác với đối tượng này, khắc với đối tượng kia (như Bách và Phu., chẳng hạn).

- Các ý nghĩa khác nhau của các con số : Vô Địa, Vô Thiên, Vô Nhân, Hòa, Bất Hòa... Và ở đây cũng thế, các con số có thể dẫn tới những tác động khác nhau, có ảnh hưởng trái ngược nhau trên một đối tượng xác định nào đó.

- Ý nghĩa của các Sao Thái Ất, Văn Xương, Thủy Kích, Nhị Thập Bát Tú... Những ý nghĩa này, nói chung cũng không cùng đi theo một hướng như nhau, như lành với Ngũ Phúc và dữ với Tứ Thần Thiên Ất ; Địa Ất, Trực Phù. (Như trong Tử Vi, với các Sao hung, cát).

- Ý nghĩa "trừng phạt, khen thưởng" của Sao Đại Du Thái Ất...

Cần lưu ý một lần nữa là : học thuyết Thái Ất, cũng như học thuyết Độn Giáp về cơ bản là các điều kiện về môi trường Tâm - Sinh - Lý chung cho tất cả mọi

555TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

người, mọi cộng đồng. Và việc những tình huống chung đó - tình huống bên ngoài đó - sẽ 'rơi" vào cộng đồng nào, cá nhân nào (nước có đạo lý, nước vồ đạo, nhà vua có đức độ hay vô đạo) cũng là một bài toán hết sức khó. ngoài một số thông tin về Trung Tâm (Trung Cung, Thủ đô, phòng tiếp khách...) và phương hướng được xác định trên Bát Quái Đồ.

Lại một nhân tố cực kỳ quan trọng nữa là : Tại mỗi thời điểm xác định luôn luôn tồn tại những cái khuôn (blueprint) xác định, ảnh hưởng chủ yếu đến hoạt động của con người hay cộng đồng... (Tượng - Hình, Xướng - Họa), theo những cơ chế cũng xác định.

Đó là vài lời nói qua về loại bài toán đa tiêu chuẩn của Triết cổ Đông phương nói chung và của học thuyết Thái Ất nói riêng.

Có thể lấy ví dụ toán học sơ cấp như sau để minh họa tính chất chủ yếu của bài toán đa tiêu chuẩn. Ba anh em chia nhau một tiền thưởng chẳng hạn. Có ba khả năng phân chia như sau :

1) Anh trưởng > Trung nữ > Em út, 2) Em út > Trung nữ > Anh trưởng, 3) Trung nữ > Em út > Anh trưởng.

Ba khả năng này, hay theo thuật ngữ toán học, ba tiêu chuẩn này, đều có lý của chúng. Thật là một bài toán hoàn toàn không máy móc, nhưng lại hết sức gần cuộc sống bình thường của chúng ta. Nguyên lý bài trung ở đây đã tỏ ra hoàn toàn bất lực !

(Trong phần Phụ Lục toán học chúng tôi có đưa ra một phương pháp giải loại bài toán này bằng tập mờ).

II - HỌC THUYẾT THÁI ẤT VÀ MỘT số sự KIỆN CHIẾN TRANH, CÁCH MẠNG LỊCH sử

Chúng ta hãy so sánh một số sự kiện chiến tranh, cách mạng trong những thế kỷ 19, 20 và học thuyết Thái Ất.

A-CUỘC CÁCH MẠNG PHÁP 1789. DƯƠNG cục 34

Thái Ất tại Mão 4, Văn Xương tại Mùi, Thủy Kích tại Mão 4, Chủ toán = 26, Chủ Đại Tướng tại Đoài 6, Chủ Tham Tướng tại Khảm 8, Khách toán = 4, Khách Đại Tướng tại Mão 4, Khách Tham Tướng tại Ly 2.

B-CÁC CUỘC CÁCH MẠNG Áo, HUNG, ĐỨC, Ý CÁC NĂM 1848 - 1849, NĂM 1849, DƯƠNG cục 22

Thái Ất tại Tốn 9, Văn Xương tại Kiến 1, Thủy Kích tại Mùi, Chủ toán = 16, Chủ Đại Tướng tại Đoài 6, Chủ Tham Tướng tại Khảm 8, Khách toán = 30, Khách Đại Tướng tại Cấn 3, Khách Tham Tướng tại Tốn 9.

556NHÂN THỂ - THÁI ẤT

C-CÁCH MẠNG 1959 - 1960 TẠI Ý, NĂM 1960 DƯƠNG cục 33

Thái Ất tại Cấn 3, Văn Xương tại Ly 2, Thủy Kích tại Cấn 3, Chủ toán = 24, Chủ Đại Tướng tại Chấn 4, Chủ Tham Tướng tại Ly 2, Khách toán = 3, Khách Đại Tướng tại Cấn 3, Khách Tham Tướng tại Tốn 9.

D-CÁCH MẠNG NGA 1905 - 1907, NĂM 1907, DƯƠNG cục 8

Thái Ất tại Cấn 3, Văn Xương tại Sửu, Thủy Kích tại Khôn 7, Chủ toán = 1, Chủ Đại Tướng tại Kiền 1, Chủ Tham Tướng tại Cấn 3, Khách toán = 22, Khách Đại Tướng tại Ly 2, Khách Tham Tướng tại Đoài 6.

E-ĐẠI CHIẾN THẾ GIỚI THỨ NHẤT 1914-1917, NĂM 1917, DƯƠNG cục 18

Thái Ất tại Khôn 7, Văn Xương tại Khôn 7, Thủy Kích tại Khảm 8, Chủ toán = 7, Chủ Đại Tướng tại Khôn 7, Chủ Tham Tướng tại Kiền 1, Khách toán = 26, Khách Đại Tướng tại Đoài 6, Khách Tham Tướng tại Khảm 8.

F-ĐẠI CHIẾN THẾ GIỚI THỨ HAI 1941-1945, NĂM 1945, DƯƠNG cục 46

Thái Ất tại Tốn 9, Văn Xương tại Dần, Thủy Kích tại Kiền 1, Chủ toán = 5, Chủ Đại Tướng và Chủ Tham Tướng tại Trung cung 5, Khách toán = 16, Khách Đại Tướng tại Đoài 6, Khách Tham Tướng tại Khảm 8.

G - NĂM 1993, DƯƠNG cục 22

Thái Ất tại Tốn 9, Văn Xương tại Kiền 1, Thủy Kích tại Mùi, Chủ toán = 16, Chủ Đại Tướng tại Đoài 6, Chủ Tham Tướng tại Khảm 8, Khách toán = 30, Vô Nhân, Khách Đại Tướng tại Cấn 3, Khách Tham Tướng tại Tốn 9.

Sao Chủy : Có Tướng làm phản.

H-NĂM 1994, DƯƠNG cục 23

Thái Ất tại Tốn 9, Văn Xương tại Kiến 1, Thủy Kích tại Thân, Chủ toán = 16, Chủ Đại Tướng tại Đoài 6, Chủ Tham Tướng tại Khảm 8, Khách toán = 23, Số Vô Địa, Chủ Đại Tướng tại Cấn 3, Khách Tham Tướng tại Tốn 9.

Sao Sâm : Cung Thất có biến động, Tướng Ta có điều lo lắng.

(Về các năm 1993, 1994 bạn đọc có thể liên hệ trực tiếp với tình hình thế giới hiện nay. Đã và đang có rất nhiều biến động quan hệ đến "Vô Địa, Vô Nhân” và đến các tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng, phá thủ tướng, như ở Burundi, Rwanda, Yemen, Italia, Nhật, Haiiti, Nga, Ý, Campuchia...).

557

III - MỘT SỐ MINH HỌA CỦA LÊ QUÝ ĐÔN VÀ CHUYÊN GIA TRUNG Quốc

Sau đây chúng tôi trích dẫn một số minh họa rút ra từ sách Thái Ất di giản lục của Lê Quý Đôn và sách Thái Ất thống tông số đai toàn với lời tựa của Nam Hoài Cẩn.

Bạn đọc cũng có thể có những kết luận khác với các tác giả các cuốn sách đó. Tình hình này là bình thường, cũng như các lương y khác nhau có thể có những kết luận khác nhau trên cùng một bệnh nhân ĩ

Thế mới hiểu được chân lý phương Đông không đi theo con đường cơ giới ! Đây là một nghệ thuật thực sự, dự báo Đông phương thuộc phần "mềm" của học thuyết Thái Ất.

A- NĂM NHÂM THÌN, NĂM THỨ 15 NIÊN HIỆU QUANG HUNG, 1592

Cục

A = 10.155.509, c = 53 Dương Cục.

VỊ trí

Sao Thái Ất tại Ly 2, Sao Văn Xương tại Khôn 7, Sao Thủy Kích tại Hợi, Chủ toán = 38, Chủ Đại Tướng tại Khảm 8, Chủ Tham Tướng tại Mão 4, Khách toán = 25, Khách Tham Tướng tại Trung Cung, Khách Đại Tướng tại Trung Cung.

Quan hệ

Sao Văn Xương : Ngoại Cung Bách, Chủ Tham Tướng : Phát, Chủ Đại Tướng : Cách, Khách Tham Tướng, Khách Đại Tướng : Không ra khỏi Trung Cung, Chủ toán : Trường Hòa.

Năm đang xét là năm Lý Địa, chủ về Thủy tai (do năm Nhâm thuộc Thủy).

Sao Văn Xương ngoại Bách, có thể có công kích từ ngoài vào, Chủ Đại Tướng lại gặp Cách, điều bất lợi.

Thái Ất ở Thiên Ngoại Ly 2, Chủ đánh trước là lợi, đánh sau là bất lợi, Tuy nhiên Chủ Tham Tướng lại Phát, Chủ toán là Trường hòa, mọi việc đều sẽ tốt đẹp, quan quân đều sẵn sàng

Lịch sử

Năm đó, Mạc lại đánh. Tướng Mạc là Bùi Văn nhập thành, Vương xin cầu viện. Minh Thành Tổ cho quan đến cứu lấy Kinh Thành.

Mạc lại nổi dậy. Vương sai Tướng đi đánh, Mạc thua chạy. Vương đánh lần nữa mới thắng hoàn toàn.

558NHÂN THỂ - THÁI ẤT

B - NẲM KỶ HỢI, NIÊN HIỆU QUANG HƯNG THỨ 22

Cục

A = 10.155.516. c = 60, Dương Cục, Lý Nhân.

VỊ trí

Thái Ất tại Mão 4, Văn Xương tại Hợi, Thủy Kích tại Tuất, Chủ toán = 12, Chủ Đại Tướng tại Ly 2, Chủ Tham Tướng tại Đoài 6, Khách toán = 13, Khách Đại Tướng tại Cấn 3, Khách Tham Tướng tại Tốn 9.

Quan hệ

Chủ Đại Tướng : Phát, Chủ toán : Hạ Hòa, Vô Địa, Khách Đại Tướng : Nội Cung Bách, Khách Tham Tướng : Ngoại Cung Bách, Khách toán : Tạp Trùng Dương.

Sao Thái Ất tại Mão 4 là Cung Thiên Nội, lợi cho Chủ (nhà vua). Chủ Đại Tướng lại Phát. Chủ toán lại Hạ Hòa.

Khách Đại Tướng Nội Cung Bách, Khách Tham Tướng Ngoại Cung Bách. Đó là hiện tượng Đề - Hiệp họ cùng nhau âm mưu nghịch, đại thần nghịch mạnh.

Nhưng Khách toán là Tạp Trùng Dương, xấu cho Khách.

Tuy Sao Thái Ất bị Để - Hiệp, nhưng do Cung 4 là Thiên Nội lợi cho Chủ, lại có Chủ toán Hạ Hòa thành thử Chủ có thể chống đỡ nổi.

Lịch sử

Năm ấy Thành Tổ phong Vương vị. Đến mùa thu, Thế Tổ mất, bỏ Thái Tử, lập con thứ.

Năm sau, Đại Tướng Nguyễn Hoàng đi Nam. Phan Ngạn và Bùi Văn Khuê làm phản. Xe giá phải chạy sang phía Tây. ■

Nhưng hai giặc trên rồi cũng bị bại vong.

c - NĂM NHÂM TÝ, NIÊN HIỆU VĨNH KHÁNH NĂM THỨ Tự, 1732

Cục

A = 10.155.649, c = 49 Dương Cục, Lý Thiên.

VỊ trí

Sao Thái Ất tại Kiến 1, Sao Văn Xương tại Tốn 9, Sao Thủy Kích tại Thìn, Chủ toán = 24, Chủ Đại Tướng tại Mão 4, Chủ Tham Tướng tại Ly 2, Khách toán = 25, Khách Đại Tướng và Khách Tham Tướng đều ở Trung Cung.

Quan hệ

Văn Xương Cách, Chủ Đại Tướng Phát, Chủ Tham Tướng Phát, Khách Đại Tướng, Khách Tham Tướng không rời khỏi Trung Cung.

Chủ toán Trường Hòa, Tập Trùng Âm.

559TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Sao Thái Ất ở Cung Đơn Dương, bất lợi cho Chủ. Chủ toán lại Tạp Trùng Âm. tức là có tai biến.

Trong ngoài có mưu ám.

Văn Xương cùng Thái Ất đối đầu nhau, kẻ bầy tôi hung dữ.

Nhưng Chủ toán là Trường Hòa, Chủ sẽ thắng, bầy tôi bị giết.

Lịch sử

Năm ấy Hôn Đức Công (tức là Lê Duy Phương, hiệu Khánh Đức) bị phế. Thuần Tôn lên ngôi, các tướng đều bị tội, bị giết.

D- NĂM ẤT MÃO, NIÊN HIỆU VĨNH HỰU NĂM THỨ NHẤT, 1735

Cục

A = 10.155.652, Dương Cục 52 Lý Thiên.

Vị trí

Thái Ất tại Ly 2, Văn Xương tại Mùi, Thủy Kích tại Dậu

Chủ toán = 39, Chủ Đại Tướng tại Tốn 9, Chủ Tham Tướng tại Khôn 7, Khách toán = 31, Khách Đại Tướng tại Kiến 1, Khách Tham Tướng tại Cấn 3.

Quan hệ

Văn Xương Ngoại Thời Bách, Chủ Đại Tướng Nội Cung Bách, Chủ Tham Tướng Ngoại Cung Bách, hai Tướng này Đề - Hiệp, Khách Tham Tướng Phát, Khách Đại Tướng Phát, Chủ toán Trùng Dương, Khách toán Tạp Trùng Dương, Sao Thái Ất ở Cung 2 là Dịch Khí, Văn Xương Ngoại thời Bách là có tai biến cấp bách, Khách Đại, Tham Tướng Đề - Hiệp là bề tôi ở dưới chuyên quyền, đại thần âm mưu đen tối.

Sao Thái Ất ở Thiên Nội 2, trợ khách, khách đánh sau thì lợi.

Lịch sử

Năm ấy vua Thần Tôn mất, Thái tử không được lập, nhưng em là Ý Tôn được lên ngôi. Tuy nhiên, vài năm sau, Hoàng Thượng lại chính ngôi, nghĩa là hành động sau là tốt.

560NHÂN THỂ - THÁI ẤT

E-NĂM GIÁP THÂN, NIÊN HIỆU PHÚC THÁI NĂM THỨ HAI, 1644

Cục

A = 10.155.561, Dương Cục 33.

VỊ trí

Thái Ất tại Cấn 3, Văn Xương tại Ly 2, Thủy Kích tại Cấn 3, Chủ toán = 24. Chủ Đại Tướng tại Chấn 4, Chủ Tham Tướng tại Ly 2, Khách toán = 3. Khách Đại Tướng tại Cấn 3, Khách Tham Tướng tại Tốn 9.

Quan hệ

Thủy Kích Yêm, Chủ Đại Tướng Ngoại Cung Bách, Chủ Tham Tướng Phát, Khách Đại Tướng Tù, Khách Tham Tướng Phát, Chủ toán Tạp Trùng Âm, Vô Địa, Khách toán : Đơn Dương, Vô Thiên.

Năm này Thái Ất cùng Thủy Kích, Khách Đại Tướng đồng Cung, nghĩa là có Yêm và Từ.

Khách Đại Tướng phạm Thái Ất là có họa bôn tẩu, bại vong, thoán đạt.

Thủy Kích Yêm Thái Ất tức là Âm thịnh Dương suy, cương kỷ nhà vua mất, bầy tôi mạnh, vua yếu, thân chết, nước mất.

Tuy nhiên, chủ toán là Thiên nội, lợi cho chủ.

Còn chủ toán lại dài, khách toán lại ngắn, kẻ giặc sẽ bại.

Chủ toán Vô Địa, lại Tù, Yêm, đất có nhiều thay đổi lạ thường.

Khách toán Vô Thiên lại có Yêm, Tù, trên trời có những biến đổi lạ thường.

Lịch sử ở nước Đại Minh, bọn giặc cỏ xâm phạm Bắc Kinh, vua Hoài Tôn thắt cổ chết. Trung Quốc loạn lớn. Lý Tự Thành cướp ngôi.

Tướng cũ nhà Minh là Ngô Tam Quế xin quân Triểu nhà Thanh về đánh trả. Nhưng Tự Thành đánh cho Quế thua to, Quế phải chạy về Thiểm Tây, nhà Thanh bèn đóng đô ở nước Yên. Vua Thế Tôn vào, lên ngôi. Đó là cái nghiệm : hậu ứng sẽ thắng.

F- NĂM ẤT DẬU, NIÊN HIỆU PHÚC THÁI NĂM THỨ BA, 1645

Cục

C = 3, Dương Cục, VỊ trí

Thái Ất ở Chấn 4, Văn Xương ở Mùi, Thủy Kích ở Chấn 4,

561TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Chủ toán = 26. Chủ Đại Tướng ở Đoài 6, Chủ Tham Tướng ở Khảm 8, Khách toán = 4, Khách Đại Tướng ở Chấn 4, Khách Tham Tướng ở Ly 2.

Quan hệ

Thủy Kích Yêm, Chủ Đại Tướng Cách, Chủ Tham Tướng Phát, Khách Đại Tướng Tù, Khách Tham Tướng Phát, Thủy Kích và Khách Đại Tướng Quan, Chủ toán Trường hòa, Khách toán Đơn Âm, Vô Thiên.

Năm này có hiện tượng Quan. Yêm, Tù, tức là có lấn áp, tranh giành.

Thủy Kích Yêm lấn áp Thái Ất, Chủ Đại Tướng tuy Cách, nhưng Chủ Tham Tướng lại Phát, Chủ toán lại Trường hòa, nghĩa là thuận lợi. Chủ toán lại Thiên Nội, lợi cho chủ.

Cung Chấn 4, chung cho Thái Ất, Thủy Kích và Khách Đại Tướng là Cung Tuyệt Khí : hung họa khá nặng, có hiện tượng diệt cũ thay mới.

Lịch sử

Thủy Kích ở Chấn, tức là Đông Mộc, năm ấy Đông di có binh nổi dậy. Hoàng Tô mở Phủ Tiết chế, Phù Quận Công và Hòa Quận Công (tức là Hoàng Ngũ Phúc) mưu làm loạn. Phủ Tiết chế biết trước, đánh tháng, bình được.

G- NĂM CANH THÌN, NIÊN HIỆU CẢNH HƯNG NĂM THỨ HAI MƯƠI, 1760

Cục c = 5, Dương Cục, Lý Địa.

Vị trí

Thái Ất ở Ly 2, Văn xương ở Kiền 1, Thủy Kích ỏ Dần, Chủ toán = 25, Chủ Đại, Tham Tướng đều ở Trung Cung, Khách toán = 14, Khách Đại Tướng ớ Chấn 4, Khách Tham Tướng ở Ly 2.

Quan hệ

Thái Ất ở Thiên Ngoại, trợ khách. Chủ cần ra quân trước. Chủ toán dài, khách toán ngắn, lợi cho chủ.

Khách Đại Tướng Ngoại Thời Bách, Khách Tham Tướng Tù. Tình hình phức tạp.

Lịch sử

Năm đó, Đại Thanh đánh rợ Tây Phiên, trước bại sau thắng, mở đặt ra muôn dặm.

562NHÂN THỂ - THÁI ẤT

IV - TIÊN TRI

Trong các hiện tượng dự báo, hiện tượng tiên tri đóng một vai trò xác định, đôi khi lại kỳ diệu. Trong phần này chúng tôi không bàn đến cơ chế của tiên tri, nếu quả thực có một cơ chế như thế. Và nếu quả thực có một cơ chế như thế, thì theo quan điểm chúng tôi, cơ chế này không thể tách rời khỏi các cấu trúc chức năng và bản thể genetic của các cơ thể vô hình của nhân thể, trong quan hệ Thiên - Địa - Nhân hợp nhất.

Tiên tri không phải là sản phẩm của Duy lý, điều này hiển nhiên. Vì sao ? Vì tiên trí là một phương pháp nhận thức trực tiếp, mang tính toàn thể. Chừng nào chúng ta chưa hiểu được bản thể của chúng ta thì chừng ấy chúng ta không thể nào hình dung được cơ chế của tiên tri.

Bây giờ chúng ta hãy nói tới hai nhà tiên tri nổi tiếng trong và ngoài nước.

A-TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những danh nhân xuất chúng của Việt Nam. ông sinh năm Tân Hợi, 1491, năm Hồng Đức thứ 21 triều Lê Thánh Tông. Ông quê ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Cha ông là Văn Định, có trình độ học rộng tài cao. Mẹ ông cũng là một người có học vấn.

Thuở nhỏ, Nguyễn Binh Khiêm đã nổi tiếng thồng minh, và đã được mẹ đem thơ quốc âm dạy cho học.

Lớn lên, ông theo học một người thầy nổi tiếng là Bảng Nhãn Lương Đắc Bằng, cụ Bằng là người tinh thông Dịch lý và dạy ông về khoa Thái Ất Thần Kinh.

Đến năm 45 tuổi, ông đỗ Tiến sĩ.

Ông là một nhà thơ, một triết gia, đồng thời là một nhà tiên tri vĩ đại.

Có thể dẫn ra một số thành quả tiên tri của ông như sau :

1. Năm 1568, Nguyễn Hoàng đến hỏi ông về đất dung thân. Ông trả lời :

"Hoành Sơn nhất đái, Vạn đại dung thân".

Sau đó Nguyễn Hoàng nghe lời ông, đi vào trấn thủ Thuận Hóa, từ đèo ngang trở vào trong và dựng lên nhà Nguyễn.

2. Trong cả tập Sấm ký gồm 58 khổ thơ của ông, có một đoạn :

"Long vĩ Xà đầu khởi chiến tranh, Can qua xứ xứ khổ đao binh, Mã đề Dương cước anh hùng tận, Thân Dậu niên lai kiến thúi bình".

Đó là các câu tiên tri về Thế giới Đại chiến lần thứ hai.

Như đã biết, cuộc Đại chiến này mở rộng vào cuối năm Rồng (Long vĩ là đuôi Rồng) là năm Canh Thìn (Thìn = Rồng) 1940 và đầu năm Rắn (Xà đầu là đầu Rắn) là năm Tân Tị 1941.

563TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Lúc đó thì :

"Khấp thiên hạ khổ vì đao binh".

Đến tháng 01 năm 1943 là cuối năm Ngọ (Mã đề là chân Ngựa) Nhật Bản bắt đầu bị tấn công từ phía Liên Xồ tại Lêningrad. Rồi đến cuối năm Mùi (Dương cước là móng Dê) phát xít Hitler bắt đầu núng thế : "Chân Ngựa, móng Dê anh hùng tận".

Chiến tranh kết thúc vào cuối nầm Giáp Thân, đầu năm Ất Dậu, thế giới trở lại hòa bình : "Thân Dậu rồi ra mới thái bình".

Người ta còn nói đến nhiều việc tiên tri khác trong các khổ thơ trên của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Có việc "đại sự", có việc liên quan đến cá nhân hay số phận của một làng xóm nào đó...

B - NOSTRADAMUS Nhà tiên tri Nostradamus tên là Michel de notre Dame, sinh ngày 14 tháng 12 năm 1503 tại Saint Remy de Provence. ông gốc Do thái, nhưng theo cha mẹ nhập Đạo Thiên Chúa. Thuở nhỏ, ông rất thích Thiên văn học. ồng lại biết sử dụng Chiêm Tinh học. ông cũng là một bác sĩ giỏi.

Ông đã có một tập thơ tiên tri gồm 727 khổ thơ bằng tiếng Pháp với 3.024 câu.

Một ví dụ :

Bài thơ tứ cú mà những người nghiên cứu cho là nói về số phận của nhà vua Henri II ; "Con sư từ trẻ sẽ thắng cơn già, Trong một trận duy nhất trển cánh đồng như chiến trường Trong cái long hằng vàng nó SẼ đâm vào mắt, Hai vết thương, rồi chết làn khốc". Mùa Xuân năm 1559, trong một trận đấu thương mừng lễ cưới hai con gái cùng một lúc, vua Henri II bị cây thương của Bá Tước Gabriel de Mongomery đâm vào mũ giáp mạ vàng - giống như mô hình cái lồng - chọc vào mắt của Henri, đồng thời có một mảnh văng ra làm Henri bị thương cả nơi cổ họng. Như vậy là nhà vua bị hai vết thương. Mười ngày sau, nhà vua mất.

Nostradamus còn tiên tri nhiều về thời cuộc... Người ta đã viết cả một cuốn sách dày về ông.

c - CÁC NHÀ TIÊN TRI TỪ XA XƯA

Trong lịch sử nhân loại đã xuất hiện rất nhiều nhà tiên tri khác... Có những nhà tiên tri xuất hiện trong các tôn giáo... Cũng có nhiều nhà tiên tri để lại các dự báo của mình trong các hang, động hoàn toàn bí mật ở nhiều địa danh tại phương Đông... Gần đây, báo chỉ có đưa tin một số nhà khảo cổ tìm thấy một bản thảo cách đây 2000 năm trong một ngôi mộ cổ ở Trung Hoa. Theo bản tin thì bản thảo này gồm 48 dự báo lớn, trong số đó 20 dự báo đã được kiểm chứng trong lịch sử. Chẳng hạn các dự báo đó nói về số phận của Jesus, sự sụp đổ của Đế chế La Mã, về bom nguyên tử trên đất Nhật, sự tan rã của Liên Bang Xô viết...

564NHÂN THỂ - THÁI ẤT

(trang để trắng trong bản in)

565TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

PHẦN HAI

VỀ TƯƠNG LAI HỌC ĐÔNG và TÂY

566NHÂN THỂ - THÁI ẤT

(trang để trắng trong bản in)

Nguyễn Hoàng Phương, Tích hợp đa văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1996. Bản số hóa từ ảnh quét; văn bản do OCR nên có thể còn sai sót — bấm vào số trang trong bài để đối chiếu ảnh quét nguyên bản.

Trong mục này