TH Tích hợp đa văn hóa Đông Tây

Tập IV — Cơ sở Thái Ất — học thuyết dự báo chung cho cộng đồng, Thiên cơ

Chương 40

Về các khoa học dự báo Đông và Tây

Trang 567–592 của bản in·Xem ảnh quét
567TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Chương 40 VỀ CÁC KHOA HỌC DỰ BÁO ĐÔNG VÀ TÂY

Chúng ta đã trình bày các khoa dự báo cổ Đông phương là các học thuyết Độn Giáp, học thuyết Thái Ất, và đã chứng tỏ được các học thuyết đó tuân theo nguyên lý đường xoắn ốc, còn các tính tuần hoàn làm cơ sở cho tính xoắn đó lại suy từ chính các cấu trúc của Kinh Dịch : Âm Dương, Tứ Tượng, Ngũ Hành, Bát Quái, Cửu Cung. Tất nhiên, để được chặt chẽ hơn, cần phải nghiên cứu sự phối hợp các cấu trúc đó một cách chi tiết hơn, trong đó vấn để thời gian có vai trò rất lớn. Điều này không phải có thể tiến hành ngay được. Nhưng ở đây chúng tôi muốn trở lại một lần nữa tính xoắn ốc đó, biểu hiện trong lịch sử nhân loại, dựa vào các nghiên cứu của tác giả Michio Kushi trong cuốn sách Le Livre de la Macrohiotique.

I- CON ĐƯỜNG XOẮN ỐC CỬA LỊCH SỬ LOÀI NGƯỜI Theo các bảng sau, trên đại thể, dựa vào tài liệu trên, ta thấy rằng sự tiến hóa của nhân loại mang tính tuần hoàn hay chính xác hơn, tính xoắn ốc, do những biến đổi trong giai đoạn hiện đại đã xảy ra rất nhanh chóng, chỉ trong một thời gian bằng một phần trăm của toàn bộ lịch sử, như Ikeda đã nêu lên trước đây. DƯƠNG NGHI : SỰ THỐNG NHẤT (THỐNG TRỊ) BẰNG SỨC MẠNH VẬT CHẤT

THỊNH SUY KHỞI SỰ CẢI CÁCH THỐNG TRỊ || THỐNG TAI'I THƯƠNG MẠI suY sụp Khởi đầu Cài cách Ai Cập Vương Hy lạp Hòa Bình Từ - 3000 của sự các xã hội Trung Hoa quyền La mã đến - 400 bành trướng cổ Đông Ấn Độ lãnh thổ phương Cải cách Phong trào Chế độ Cách Chủ nghĩa Từ 1600 Tôn giáo thuộc đa Quân chủ mạng nhân văn đến 1900 Công nghệ Cách mạng Pháp

568NHÂN THỂ - THÁI ẤT

Từ ? đến - 3000

THỊNH

Ý THỨC Ý THỨC

HỆ I HỆ II

Các Đế Phong chế Từ-400 trào đến 1600 chùng tộc chủng tộc

Tây

Phong Chủ Chủ nghĩa Đế trào Dân quốc Từ 1900 chủ hội

đến nay

ÂM DƯƠNG ÂM

SUY

Ý THỨC SUY TÀN CHINH ‘ CHINH

HỆ III PHỤC I PHỤC II

Phong Ngoại Chinh Sự suy trào xâm phục các tàn của

Mông cồ. thế giới Thiên Thiên

Chúa ỏ mới Thập tự Chúa Giáo

Tây chinh phưởng

Chủ Các cuộc "Chinh Sự suy nghĩa xã Đại chiến đồi đạo phục" Vũ

Thế giới hội trụ ? Làm lý. Con lần thứ "chúa tể" người dối nhất và đầu với Vũ Trụ và thứ hai cải tạo Thiên

Vũ Trụ ? nhiên, chơi với lửa !

DƯƠNG ẪM DƯƠNG

569TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

II - SO SÁNH HAI QUAN ĐIỂM đông tây VỀ KHOA Dự BÁO

Trong lúc từ xa xưa tại Đông phương, đã xuất hiện các khoa dự báo - vạch quỹ đạo của con người và cộng đồng, cùng với các nguyên tắc xử thế (theo thuật ngữ hiện đại thì đó là các quyết định - đécỉsionì tối ưu (optimum) - là các khoa Tử Vi. Dộn Giáp, Thái Ất. thì tại Tây phương đã dân dấn xuất hiện một khoa học tương tự như thế gọi là Tương lai học (Science prospective hay Futurologie).

Một câu hỏi để ra : Hai khoa học Đông Tây và Kim Cổ đó giống nhau và khác nhau như thế nào ?

A - KHOA Dự BÁO TÂY PHƯƠNG

1. Đối tượng của khoa dự báo Tây phương - Dự báo các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, - Dự báo về tài nguyên thiên nhiên, - Dự báo về dự trữ vật chất, - Dự báo về các nhu cầu xã hội, về các điều kiện xã hội, tức là về các điều kiện phát triển kinh tế quốc dân...

Khoa dự báo giải quyết các vấn để cơ bản sau :

- Xác định các xu thế phát triển của kinh tế, khoa học và kỹ thuật, - Chỉ ra những nhân tố cụ thể quyết định các xu thế đó, - Chỉ ra những phương hướng nghiên cứu tương lai của các ngành khoa học cơ bản và ứng dụng.

- Xác định những quy luật và đặc điểm của sự phát triển kinh tế, xã hội, khoa học, kỹ thuật theo các kết quả dự báo, nhằm tìm những quyết định tối ưu...

Sau khi hoàn thành dự báo, thì cần lập các kế hoạch thực hiện...

2. Các phương pháp dùng trong khoa dự báo Tây phương

Đó là các phương pháp sau :

- Phương pháp ngoại suy và nội suy, - Phương pháp mô hình hóa, mang tính toán học (phương trình, ký hiệu logic) hay vật lý học, - Phương pháp dựa trên lý thuyết xác suất, thống kê, - Phương pháp dựa trên cơ sở phân tích logic lịch sử, - Phương pháp dựa trên nguyên lý loại suy hay phương pháp tương tự (analogie), - Phương pháp dựa trên các đánh giá của các chuyên gia...

570NHÂN THỂ - THÁI ẤT

Ví dụ

Để hình dung phần nào Khoa dự báo Tây phương, có thể đưa ra kết quả đơn giản sau về số lượng thông tin - tri thức khoa học. Các nhà khoa học Tây phương tìm được công thức sau về đại lượng đó :

I = L {I - exp[-qN(1exp (ct)/cL]}, trong đó - z là lượng thông tin cần xác định, - í là thời gian, - Nn là số lượng các nhà bác học đang làm việc tích cực tại thời điểm đang xét.

- c là hệ số về hướng, - ợ là hệ số hiệu suất của một nhà bác học trong đơn vị thời gian, - L là giới hạn bão hòa (tức là giới hạn trên của số lượng các nhà bác học)...

Để tìm được công thức trên, người ta đã dựa vào toán học giải tích (đạo hàm, tích phân, phương trình vi phân).

Một ví dụ đơn giản khác là phương trình sau, gọi là phương trình G.Sauber, để tính độ tăng của các thông số khoa học kỹ thuật (phương trình vi phân) :

dy/(l-y)dx = nxnH.

Chúng tôi chỉ đưa ra một số ví dụ khá đơn giản để bạn đọc hình dung con đường đi của khoa học dự báo Tây phương.

Điểm nổi bật nhất của khoa dự báo Tây phương hoặc là không kể đến tác động của bình diện Tiên Thiên (Trời) hoặc xem đó là một yếu tố rất phụ. Nói chính xác hơn, khoa dự báo Tây phương không đặt con người vào trong một tổng thể (Trời) có những quy luật xác định, và các quy luật này có khả năng khống chế, chi phối các quy luật, các hoạt động trên hành tinh chúng ta.

Mặt khác, khoa dự báo Tây phương dựa chủ yếu vào Duy lý, các yếu tố trực giác, Minh Triết không được coi trọng bằng.

Chúng ta chuyển sang khoa dự báo Đông phương.

B - KHOA Dự BÁO ĐÔNG PHƯƠNG

Chúng ta đã nói nhiều về các khoa dự báo Đông phương. Các khoa dự báo này dựa vào tính có nhịp điệu, tính tuần hoàn Âm Dương, kéo theo tính xoắn ốc, tính Thành, Thịnh, Suy, Hủy hay tính Sinh, Trưởng, Hóa, Thâu, Tàng của mọi hiện tượng, tính không gian, thời gian trong vòng quay tuần hoàn của Trời Đất.

Tất cả các điều đó được mô tả bởi vòng Bát Quái, hay của Cửu Cung, và đặc biệt trong một sự hài hòa giữa con Người với Trời Đất, ba nhân tố (Tam Tài) này hợp nhất lại với nhau, trong đó Trời xem là nhân tố quyết định (Dương xướng, Âm họa).

Về mặt phương pháp luận, các khoa dự báo Đông phương lại dựa vào Minh Triết, vào các kinh nghiệm bản thể, dựa vào mọi tiềm năng của con người, cả của Tiểu Ngã, cả của Đại ngã.

571TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Nhưng các khoa dự báo Đông phương lại có thể diễn đạt bằng công cụ toán tập mờ, do ngay từ lúc đầu, Âm cũng mờ, Dương cũng mờ... và điều này tạo chu khoa dự báo Đông phương một đặc tính logic nào đó.

Thành thử, các khoa dự báo Đông phương có khả năng tiến dần đến một sự tích hợp nào đó những đặc tính của cả hai nền văn minh Đông - Tây, Kim - Cổ, có triển vọng tạo nên được một khoa học vững vàng cho tương lai.

Cuối cùng, khoa dự báo Đông phương có liên quan cấu trúc đến mô hình nhân thể, được xem là một cấu trúc hoàn chỉnh, còn khoa dự báo Tây phương thì hoàn toàn khác với cấu trúc nhân thể, mô hình Tương lai học và mô hình nhân thể theo con mắt các nhà khoa học Tây phương là không trùng nhau.

Có thể tóm tắt sự khác nhau giữa hai loại dự báo đó theo bảng sau.

KHOA Dự BÁO Tây PHƯƠNG KHOA Dự BÁO ĐÔNG PHƯƠNG

1) Nhân tố Thiên không có vai trò 1) Nhân tố Thiên là cơ bản, chủ đạo đáng kể

2) Được xây dựng trên phương pháp 2) Được xây dựng trên phương pháp luận Duy lý. Minh Triết không có vai luận Duy lý mờ. Minh Triết đóng vai trò đáng kể. trò bậc nhất.

3) Khoa dự báo Tây phương và khoa 3) Khoa dự báo Đông phương được học nhân thể theo hai mô hình khác xây dựng với mô hình tương tự như mô hình nhân thể. * nhau.

c - NHŨNG XU HƯỚNG LỚN TỪ KHOA Dự BÁO TÂY PHƯƠNG

Sau đây chúng tôi trích một số ý kiến của nhiều nhà tương học Tây phương, căn cứ vào các bài báo sau :

- De 1’anticipation à 1’action (Từ sự nhìn trước đến hành động) của Michel Godet, - La Prospective : une indiscipline intellectuelle (Khoa học dự báo là một sự vô kỷ luật của trí tuệ), của Michel Godet, - Les réfleions prospectives (Các suy nghĩ về dự báo) của Bernard Cazes, - Hasard ou Déterminisme ? (Ngẫu nhiên hay Tất định ?) của Pessis -Pasternak, - La revanche du Chaos (Sự phục thù của Hỗn mang) của Pierre Thuỉllier, - Le Chaos déterministe (Cái Hỗn mang mang tính tất định) của Hermann Haken và Arne Wunderlin (Tác giả xin trân trọng cám ơn ông Đặng Mộng Lân đã giới thiệu những tài liệu này).

Trên những nét lớn, khoa dự báo Tây phương đã xây dựng được các "Kiểu thay đổi" (Dịch) sau : (các nhà dự báo Tây phương hiện nay đã có phần nào "nhìn" sang Đông phương).

572NHÂN THỂ - THÁI ẤT
Ảnh quét trang 572
Ảnh quét trang 572 — Bảng trên trang này chưa dựng lại được chính xác theo cột, nên hiển thị nguyên ảnh quét để số liệu đọc đúng.
573TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

2. Nền văn minh giảm nhưng nhân loại tiến bộ

Trạng huống này được gọi là sự tiến bộ ngược chiều và có nghĩa là con người sẽ đạt một xã hội tiến bộ cao hơn một sự tiến bộ văn minh. Hay, nói cách khác, để nhân loại được tiến bộ hơn (về mặt đạo đức) thì, nếu cần, có thể phải từ bò một phần hay toàn phần nền văn minh (Tây phương) hiện đại. Đó là luận thuyết mà Fourrier đã đưa ra ở thế kỷ trước và hiện nay lại được đưa ra trong cái gọi là "dự báo trên tình cảm sinh thái" của Kurt Schumacher ông này nói : "ít mà đẹp" (Small is beautiful). Ngoài ra, nhiều báo cáo ở Câu lạc bộ Roma cũng để cập đến xu hướng này (với Peccei, xem Phần Đại cương).

3. Nền văn minh tăng nhưng nhân loại thoái bộ

Trạng huống này ngược với trạng huống trên. Các nhà dự báo theo quan điểm này cho rằng nếu nền văn minh hiện nay cứ tiếp tục thì sẽ xảy ra một sự thoái bộ. Các tác giả của xu hướng này như Tocqueville Coutnot, Schumpeter cho rằng nền văn minh của chủ nghĩa tư bản hiện nay sẽ tạo ra một sự thoái hóa về văn hóa.

4. Nền văn minh giảm và nhân loại thoái bộ

Trạng huống này là ngược với trạng huống 1). Tương lai sẽ suy tàn, mà nguyên nhân là sự phân ra các lực lượng bên trong và những hành động của bọn "dã man" bên ngoài (sự sụp đổ của Roma).

5. Tính chất của phần trung tâm

Các trạng huống khác nhau trong phần trung tâm này là khá đa dạng. Chúng thỏa mãn cả những người đang ca tụng ngày mai, cả những người bi quan, bị ám ảnh bởi những sự sụp đổ trong tương lai, cả những người tôn thờ máy móc, cả những người ghét bỏ tính cơ giới, cả những người tôn thờ tính động lực khách quan của xã hội, cả những người theo chủ nghĩa duy ý chí.

Bây giờ chúng ta chuyển sang phần ngoại vỉ, xem không quan trọng bàng phần

Hình 124d. PHẦN TRUNG TÂM VÀ PHẦN NGOẠI VI TRONG KHOA Dự BÁO TÂY PHƯƠNG
Hình 124d. PHẦN TRUNG TÂM VÀ PHẦN NGOẠI VI TRONG KHOA Dự BÁO TÂY PHƯƠNG
574NHÂN THỂ - THÁI ẤT

E - PHẦN NGOẠI VI

1. Các ức đoán không có tính nghịch ngợm (conjectures sans malỉces)

Đó là những hình ảnh của tương lai mà khi đưa ra, tác giả không có dụng ý vé văn học hay triết học. Mục đích của họ chỉ là để kể cho bạn đọc những cái gì có thể xảy ra trong tương lai xa hoặc gần.

Từ năm 1901. H.G. Wells đã viết theo yêu cầu của bạn đọc về những hệ quả lâu dài của "các tiến bộ khoa học và cơ học". Cũng như năm 1913, nhà văn Conan Doyle đã cho xuất bản một câu truyện minh họa sự nguy hiểm gây ra bởi một sự phong tỏa ngầm dưới biển đối với Grande Bretagne.

2. Đảo tưởng (úủchronie)

Đảo tưởng là một từ mới do Renouvier để xuất năm 1876, dựa vào từ ảo tưởng (Utopie) để chỉ hình ảnh của tương lai mà ta có thể có, nếu tiến trình lịch sử diễn ra theo chiều hướng khác với chiều hướng đã biết, và ta hãy phân tích xem giả định này liệu sẽ dẫn đến những hậu quả đáng kể như thế nào. Ví dụ về đảo tưởng : Nếu Grouchy đến Waterloo đúng giờ thì tình hình liệu xảy ra thế nào ? Hay nếu Napoleon có hạm đội của Louis XVI ?

3. Các chu trình dài (longs cycles)

Quan điểm này biểu hiện quan niệm cho rằng những biến đổi của lịch sử xày ra không phải theo một chiều, theo chiều một sự tiến bộ liên tục hay chiều một sự thoái bộ liên tục, nhưng lại gồm những giai đoạn thăng trầm được biết trước, những giai đoạn này đều có khoảng thời gian như nhau (tuần hoàn).

Ví dụ là các chu trình dài hai đoạn của Kondratieff, trong đó sản lượng và giá cả là những nhân tố tàng và giảm nối tiếp nhau. Một kiểu chu trình dài khác là luận thuyết của Sorokin : Lịch sử các nền văn minh diễn ra theo nhịp độ ba, với ba phong cách văn hóa (trois styles culturels) là Thuyết Duy Cảm (Sensualisme), Thuyết Duy Linh (Spiritualisme), Thuyết Duy Tâm (Idéalisme). Ba phong cách này nối tiếp nhau qua các thế kỷ, song, khác với tiến hóa luận, không một phong cách nào bị mất hẳn.

Nhân đây, chúng tôi xin trình bày rõ hơn những hiểu biết của mình về "các khoảng thời gian Âm hay Dương". Tất nhiên, các học thuyết cổ Đông phương là thuộc loại có chu trình dài này. Với các tác giả Tây phương trên, các học thuyết này không được xếp vào phần trung tâm mà chỉ vào phần ngoại vi.

Như đã phân tích trên đây, khoa dự báo Tây phương không kể đến nhân tố Thiên, nên không quan niệm hành tinh chúng ta là một cộng đồng được (hay bị) điều khiển "từ xa” theo một chương trình xác định, có những nhịp điệu Âm, Dương với những khoảng thời gian dài như nhau.

Quan niệm hay xác định thế nào là Âm, thế nào là Dương là một vấn để khá tế nhị, vì... trong Âm có Dương và trong Dương có Âm, từ đó vấn để tính khoảng thời gian Âm hay Dương không phải đơn thuần mang tính cơ giới. Trong quan niệm

575TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

trên của Mìchio Kushi, ông đã tính các khoảng thời gian theo cách nhận định riêng của mình.

Mặt khác, tính tuần hoàn không có nghĩa là một hiện tượng xác định nào đó. với những nhân tố xác định nào đó, lại cứ xuất hiện sau một khoảng thời gian xác định. Tính tuần hoàn ở đây nhằm vào các tính chất (định tính) của hiện tượng, chẳng hạn là tính chất suy đổi của một triều đại nói chung nào đó, hay là tính chất tranh chấp nói chung nào đó giữa các lực lượng trực đối nhau.

Lấy một hiện tượng cụ thể nào đó ra để minh họa là một điều thường tỉnh, nhưng Liệu hiện tượng đó đã là điển hình đúng đắn cho quan điểm Âm Dương đang xét hay không, để chứng minh một luận điểm nào đó về thời gian của Âm hay Dương ?

Hơn nữa, trong các khoảng thời gian Âm Dương "lớn", lại có thể có những khoảng thời gian Âm Dương "bé" hơn, và lại có những khoảng Âm Dương còn "bé" hơn nữa... ! Lấy các khoảng Âm Dương nào trong số đó để minh họa hay chứng minh ?

Một khía cạnh khác của vấn đề : Nếu dự báo Đông phương, dựa trên các khoảng Âm Dương dài như nhau, đã tỏ ra được chứng minh một phần nào, chẳng hạn qua một số cuộc cách mạng trong các thế kỷ 19, 20 (xem chương trước) thì chúng ta sẽ phải chọn những kết luận nào ?

Tất nhiên, nếu có nhiều chương trình đẫm lên nhau, do những sự tranh chấp nào đó "từ trên", thì rõ ràng bài toán thời gian - và từ đó tính đúng đắn của học thuyết đang xét - là một vấn để hoàn toàn không đơn giản, nghĩa là phải đặt lại một cách nghiêm chỉnh.

Dự báo Đông phương có tính bao quát. Kinh nghiệm cho thấy rằng nhìn càng bao quát, càng rộng thì quan điểm càng tránh được những sai lệch do tính phiến diện gây nên. Chính vì thế mà cha ông chúng ta, khi tạo dựng các học thuyết cổ Đông phương, trước hết đã cố đi tìm cái rộng nhất của Vũ trụ, rồi từ đó tìm cách từ từ ”đi xuống" sau. Theo chúng tôi, đây là một phong cách nghiên cứu vừa khoa học, vừa khôn ngoan.

Nhưng tất nhiên, để tìm được cái rộng đó, cha ông chúng ta đã đi theo một phương pháp luận khác với phương pháp luận của các nhà khoa học Tây phương. Thành thử, nói thật nghiêm túc, để xác định được tính đúng sai của một học thuyết, trước hết phải đánh giá cho được phương pháp luận được sử dụng trong học thuyết đó. Điều này lại cũng hoàn toàn không gian đơn, do phương pháp luận con người sử dụng lại phụ thuộc vào các quan điểm về bản thể của nó. Và các quan điểm về bản thể này lại phụ thuộc vào sự phát triển của các khả năng nhận thức, tùy thuộc vào chỗ nhân thể đã được phát triển đến mức nào...

Đến đây, phải chăng chúng ta cần nhấc lại câu châm ngôn nổi tiếng của Socrate cùng với câu đạo của Gilbert Durand :

"HAY Tự HIỂU CHÍNH MÌNH, Rồi SẼ HIỂU THÁNH, THẦN, HIỂU VŨ TRỤ (SOCRATE),

"HÃY HIỂU THÁNH, THẦN, HÃY HIỂU vũ TRỤ, Rồi SẼ Tự HIỂU CHÍNH MÌNH (GILBERT DURAND).

576NHÂN THỂ - THÁI ẤT

Thánh, Thần như thế nào thi chưa khảng định được, nhưng Vũ trụ thì không thế nào phủ nhận được với các quy luật tất yếu của nó. Khi nào chúng ta hiểu được chính minh, bàng một phương pháp nào đó, thì chúng ta sẽ tránh được những sai lầm nói chung, và nói riêng nhưng sai lâm trong khoa dự báo. do những gì đã và sẽ xảy phải được xem là kết quả "giao thoa" giữa những nhiễu tác động do chúng ta sản ra và những quy luật tất yếu của Vũ trụ, hay nói chính xác hơn, đó là những kết quả làm nhiễu ít nhiều các quy luật phổ quát của Vũ trụ bởi các hoạt động của chúng ta.

Bây giờ chúng ta tiếp tục theo dõi các suy nghỉ của các nhà khoa học Tây phương về tương lai học.

F-CÁC QUAN HỆ Bổ SUNG GIỮA PHẦN TRUNG TÂM VÀ PHẦN NGOẠI VI

Theo tác giả Bermard Cazes, hai phần trung tâm và ngoại vi có quan hệ bổ sung cho nhau, nếu xét đến cùng. Ông cho rằng mối quan hệ này tương tự như mối quan hệ giữa Trời và Đất, hay nói chính xác hơn, mối quan hệ giữa "trời là thế giới các biểu tượng (symboles) và ý nghĩa (significations), và đất là thế giới các mối quan hệ nhân quả (relations de causalỉté). Theo ông. "trời” là nơi của những tín ngưỡng (croyances), hy vọng và sợ hãi (craintes) trước tương lai, nhưng lại không có ý nghĩa khoa học nào cả, theo cách hiểu của Karl Popper, vì những điều đó không thể bác bỏ được... vì không thể dựa vào đó để công nhận hay phủ nhận tiến hóa luận xã hội... Mặt khác, "đất" của dự báo là nơi chọn lựa các hình ảnh của tương lai, tuy nghèo nàn về biểu tượng và không có mục đích sâu xa gì, nhưng trái lại, "đất" lại có tính chất khoa học ở chừng mực chúng phản ánh một cái nhìn (bộ phận) có tính tất định về Vũ trụ. •

Đối với các ức đoán không nghịch ngợm, thì chúng không khác gì là các phát biểu thuộc loại "nếu X... thì y", mà chúng ta có thể kiểm chứng được như đối với mối quan hệ nhân quả khác.

Đối với các đảo tưởng, chúng không phải chỉ là những cái viết lại của quá khứ, mà chúng lại có phần nào quan hệ với Vũ trụ các kiến thức và hành động duy lý.

Đối với các chu trình dài, theo Cazes, chúng ta phải thừa nhận là chúng không thể phân loại được, vì chúng không biểu lộ được cả "trời", do chúng không mang được một cái gì khả quy về văn minh và tiến bộ cà, cả "đất", vì chúng tuột ra khỏi mọi nghiên cứu về nhân quả. Phải chăng chúng ta cần nhìn nhận ở đây - mặc dầu nó đã được trình bày với bề ngoài có tính định lượng hiện đại - rằng đã có một sự kiện trí của một hình thái tư duy cổ dựa vào lòng tin về một sự trở về vĩnh hằng của con người.

Các ý kiến của Cazes về Triết học cổ Đông phương khá rõ về nhiều mặt, nói riêng về mặt "trời" và "đất”. Chúng tôi cố tỉnh đưa ra đây để bạn đọc tham khảo xung quanh các quan niệm.

- Trời, Đất, - Văn minh, tiến bộ, - Nhân quả, - Phương pháp kiểm chứng các quy luật, - Lòng tin vào sự trở về cõi vĩnh hằng của tác giả Cazes.

577TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

III - NHỮNG XU HƯỚNG LỚN TRONG KHOA HỌC Dự BÁO TÂY PHƯƠNG TỪ NĂM 1945 ĐẾN nay

Theo Bernard Cazes, trong lúc các suy nghĩ vẽ tương lai cơ bản bao gồm phần trung tâm văn minh - tiến bộ và phần ngoại vi các ức đoán không nghịch ngợm, đào tưởng và chu trình dài, từ năm 1945 cho đến nay đã có nhiều sự thay đổi lớn trong các cách tìm kiếm các hình ảnh của tương lai như sau :

- Hướng vào các quyết định, - Thể chế hóa những "chỗ thu" hình ảnh tương lai, - Chuyên nghiệp hóa những "nơi phát" các hình ảnh của tương lai.

A - HƯỚNG VÀO CÁC QUYẾT ĐỊNH

Xưa nay, luôn luôn có hai thái độ khác nhau đối với tương lai :

- Hoặc là xem tương lai sẽ dành cho con người những gì, - Hoặc là vẽ ra bộ mặt của tương lai mà con người mong muốn hay sợ hai. Tuy nhiên, ngày nay đã có một sự thay đổi lớn là thiên sang phía xây dựng những ý đồ hơn là ngồi đoán trước tương lai. Nói cách khác, người ta ít nghỉ hơn đến việc chọc thủng bức màn bí mật của tương lai, mà chuyển sang hy vọng làm cho tương lai phù hợp hơn với những ưa thích của con người.

Song những lựa chọn mà con người muốn có lại diễn ra trong một bối cảnh có thể khác rất nhiều so với lúc chuẩn bị quyết định. Do đó, mọi nghiên cứu về tương lai phải quy về việc soạn thảo một hoặc nhiều hình ảnh tương lai, nhưng hình ảnh này hiện ra với những liểu lượng khác nhau của ba dạng thay đổi sau :

1. Những thay đổi "bằng không"

Đó là những thay đổi chậm, đến nỗi ta có thể nói đến tính liên tục của chúng, cũng như tính bất biến (nghĩa là không thay đổi) của chúng. Theo cách nói của nhà khoa học tương lai Pháp B.de Jouvenel, thì đó là "những sự việc xảy ra chắc chắn về mặt cấu trúc" (certitudes structurielles). Những "cái chắc chắn" này giữ được các đặc tính nội tại của mình theo một trật tự mà "chúng ta tin cậy được" : Chẳng hạn, đó là việc bầu cử Tổng thống Mỹ cứ bốn năm một lần. Đương nhiên, đến một lúc nào đó, sự tin cậy này sẽ có thể bộc lộ là không còn cơ sở, cái tưởng là bất biến bỗng nhiên thay đổi mạnh, như giá dầu mỏ năm 1973.

2. Những gián đoạn có dấu hiệu đỉ trước

Đây là những trường hợp có những gián đoạn trong tương lai, song những gián đoạn này có thể thấy được, nhờ những dấu hiệu đi trước được biểu hiện với những mức độ mạnh, yếu khác nhau. Có hai trường hợp như sau :

a. Những xu hướng nặng (tendances lourdes)

Đó là những quá trình thay đổi có tính chất tích lũy được đánh giá là đủ ổn định để có thể ngoại suy cho những dự báo trung hạn và dài hạn. Ví dụ điển hình của loại này nằm trong lĩnh vực dân số học, ở đây các dự tính về sự phát triển dân số có độ tin cậy rất cao, khi chúng ta xét số phận của những thế hệ đã sình

578NHÂN THỂ - THÁI ẤT

ra, các dự tính này có thể sử dụng để dự báo chẳng hạn các hậu quả của việc đào tạo trong nhà trường.

b. Những sự kiện tải tương lai

Đây là những hiện tượng ở trạng thái đang sinh ra, tuy trọng số thống kê đang còn bé, nhưng đó có thể là sự khởi đầu của một xu hướng mới, hoặc đó là sự suy giảm của một xu hướng nặng đang tổn tại. ví dụ, vào khoảng năm 1900, trong phương tiện vận tải, người ta nhận thấy đã có hiện tượng cùng tồn tại của cả ba xu hướng sau : Sự gia tàng số lượng các xe ngựa kéo (xu hướng nặng đang tồn tại), xe ôtô chạy xăng (sự kiện tải tương lai rất đáng chú ý), khinh khí cầu (sự kiện tải tương lai chưa thấy có triển vọng).

c. Những gián doạn bất ngờ

Đây quả là một sự thách thức thực sự đối với các nhà dự báo. Các gián đoạn này xuất hiện mà chẳng hề có báo trước. Vì vậy chúng không thể là đối tượng của một dự báo "khoa học". Ví dụ là cuộc cách mạng vi điện tử và sự trỗi dậy của cường quốc kinh tế Nhật Bản vào những năm 1970, mà các nhà dự báo vào các năm 1960 đã không thấy trước.

Vì những gián đoạn bất ngờ này không thể suy diễn ra được từ những hiện tượng đã tiến triển từ trước, nên chúng ta phải đoán ra chúng. Chính ở đây đã xuất hiện nhiều vai trò của các kịch bản tương phản và các kịch bản đứt đoạn. Tuy nhiên việc soạn thảo các kịch bản không được tùy tiện.

Dự báo là một sự phân tích duy lý, căn cứ vào những quan hệ tất yếu, nhưng vÌ các quan hệ này vẫn chưa nhận thức được đẩy đủ, nên trực giác có vai trò.của mình. Chính ở đây là lúc các nhà ngoại đạo (profanes) cố khi đạt được những kết quả cao hơn các chuyên gia.

B - THẾ CHẾ HÓA NHỮNG "CHỖ' THU Dự BÁO

Từ lâu, các hÌnh ảnh của tương lai được lan truyền chủ yếu trong công chúng có văn hóa. Họ tiêu thụ các dự báo để dinh dưỡng tinh thần, giải trí, hoặc để khởi đầu một suy nghĩ nào đó.

Xu hướng hướng vào các quyết định cần phải làm sáng tỏ, việc chú ý đến tương lai đã trở thành ít vô tư hơn. Quan tâm đến tương lai chính là để nhìn nhận với một con mắt mới cả một loạt vấn để cụ thể.

Quan điểm trên đối với tương lai đã trở thành một mối quan tâm ít nhiều thường xuyên của các cơ quan Nhà Nước, những xí nghiệp lớn, và cả những tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc.

Chú ý rằng thái độ trên đối với các dự báo không phải bao giờ cũng có tính tích cực, vì khổng gì đảm bảo là các cơ quan có yêu cầu làm dự báo sẽ đánh giá cao "cái nhìn mới" mà người ta cung cấp cho họ.

c - CHUYÊN NGHIỆP HÓA NHỮNG "CHỖ PHÁT' Dự BÁO

Cách đây 50 năm hay 100 năm, nói về tương lai là một hoạt động trí tuệ, cố thể tiến hành với những người ngoại đạo (một giáo sư, một nhà văn, một bí thư

579TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

đại sứ quán...). Nhưng dự báo ngày nay đã trở thành một nghề nghiệp chuyên môn, trong đó người ta sử dụng ngày càng nhiều các phương pháp được hình thức hóa ít nhiều, mà các kết quả - về nguyên tắc - là độc lập với chủ quan của nhà dự báo. (Vấn để khách quan và chủ quan trọng dự báo là một trong những vấn để sau này sẽ bàn đến sâu hơn, NHP). Các phương tiện dự báo là gì ? Các công cụ dự báo tạo nên một hệ thống mà hai cực là Pythie và máy tính điện tử.

1. pythĩe

Pythie là bà đồng thờ thần Apollon. (0 đây tác giả Cazes muốn nói đến chẳng hạn các nhà tiên tri, sau này chúng ta cũng sẽ có dịp trở lại vấn để này, NHP). Dự báo này dựa trên trực giác thuần túy và đã có từ rất xa xưa. (Các nhà khoa học Tây phương hiểu về Đông phương quá ít ! Cũng do ngay người Đông phương chúng ta đã một phần lãng quên mất Tính hoa của chúng ta, hoặc phủ nhận nó mà không hề có cơ sở nào, để cho người khác cũng phạm sai lầm như chúng ta ! NHP).

2. Phương pháp Delphes (hay Delphi)

Kỹ thuật này do hãng Rand đưa ra trong những năm 50 của thế kỷ. Nội dung : các chuyên gia nêu ra các yêu cầu của mình, nhưng không trực tiếp tranh luận với nhau. Sau đó người ta tổ chức về các đồ thị về sự phân tán ý kiến các chuyên gia. Sau nữa, người ta để nghị các chuyên gia xét lại, hoặc khẳng định ý kiến của mình trong trường hợp chưa đồng tính với các chuyên gia khác (tương ứng với các vùng phân tán ý kiến, NHP).

3. Ma trận chéo

Các chuyên gia được hỏi ý kiến cần nói rỗ những ức đoán của họ về một lĩnh vực nào đó, là phụ thuộc hay không phụ thuộc vào những ức đoán mà người ta có thể đưa ra ở những lĩnh vực khác có liên quan, nhằm tránh những cách nhìn phiến diện và không liên kết với nhau về tương lai.

4. Ngoại suy xu hướng và mô hình hóa

Đó là các công cụ dự báo nằm trong hệ thống dự báo, không kể đến hai cực của nó.

Bây giờ chúng ta nói đến một trong hai cực đó. Đó là các máy tính điện tử với những cách lập luận tuân theo những quy tắc logic được đưa từ trước, và về nguyên tắc, ít có sự chủ quan của nhà dự báo. Đó là sự ngoại suy xu hướng và sự mô hình hóa. Cả hai cách tiếp cận đều dựa trên ý tưởng chung là có tồn tại những mối quan hệ nhân quả ổn định mà chúng ta nhận biết được, theo đó chúng ta có thể có những ức đoán về tương lai, dựa trên những lập luận đáng tin cậy.

Sự ngoại suy xu hướng cho phép xét riêng từng xu hướng, xem như xu hướng đó phát triển độc lập với các xu hướng khác.

Còn sự mô hình hóa cho phép xét đến những tương tác giữa các xu hướng. Nói rõ hơn, khi dùng mô hình, chúng ta tránh được việc phân tích riêng từng tham số tham gia vào trong quá trình tiến triển của đối tượng mà ta muốn mô phỏng.

580NHÂN THỂ - THÁI ẤT

5. Kịch bản

Kịch bản nằm trong khoảng ở giữa sự tiếp cận bằng trực giác và sự tiếp cận hình thức. Công cụ kịch bản này cho phép vạch ra được một chuỗi logic gồm những sự kiện đáng tin cậy (nhưng cần mang tính giả định) đi từ hiện tại đến một thời điểm nào đó trong tương lai. Chuỗi sự kiện này tạc ra một bối cảnh, qua đó hệ thống hay chính sách mà ta dự báo mong sẽ xảy ra.

Có thể xây dựng kịch bản nhờ một mô hình tin học hóa cung cấp cơ sở bằng số, cần cho việc mồ tả chuỗi sự kiện. Song phương pháp kịch bản không phải ]à phương pháp mô hình hóa, ở chỗ phương pháp kịch bản có thể sử dụng một liều lượng lớn vé trực giác và lương tri, đặc biệt khỉ cần lựa chọn số tối ưu các kịch bản. Nếu tương lai là chắc chắn gần thì một kịch bản là đủ. Còn nếu tương lai có thể có những chỗ ngoặt khác nhau, thì cần phải có nhiều kịch bản, tối thiểu là hai, một đen và một hồng (cách làm việc này rất khoa học và nghiêm túc, dù quan điểm cơ sở là khác quan điểm của Triết cổ Đông phương. Chúng tôi nghỉ rằng các nhà nghiên cứu và ứng dụng Triết cổ Đông phương nên tìm cách ứng dụng tinh thần khoa học này, NHP).

IV - NHỮNG DÒNG CHÍNH SUY NGHĨ VỀ TƯƠNG LAI TRONG Dự BÁO TÂY PHƯƠNG HIỆN NAY

Theo Michel Godet, có thể nêu 4 dòng chính sau :

1) Dòng hậu công nghiệp, 2) Dòng Malthus mới, 3) Dòng các chu trình dài, 4) Lý thuyết về rẽ và hỗn độn (hỗn mang).

A - DÒNG HẬU CÔNG NGHIỆP

Dòng này bắt đầu vào những năm 60 và phát triển rất mạnh. Tiêu biểu cho dòng này là tác phẩm của Daniel Bell, xuất bản năm 1973 "Sự xuất hiện xã hội hậu công nghiệp, một cố gắng về dự báo xã hội".

Dòng này nhìn chung thể hiện thái độ rất lạc quan về tương lai của nhân loại. Heman Kahn (người cùng với Anthony Wiener năm 1967 đã viết cuốn sách "Năm 2000") trong một tác phẩm mới vào cuốn đời, năm 1984, vẫn tiếp tục giữ thái độ rất lạc quan, trong khi nhiều tác giả khác (ví dụ trong một báo cáo trình Tổng thống Mỹ) đã có thái độ rất bi quan về những hệ sinh thái tương lai (ai đúng ? NHP).

Alvin Toffler với các tác phẩm "Cú sốc của tương lai" năm 1971 và "Lần sóng thứ ha" năm 1980 cũng thuộc dòng hậu công nghiệp.

Những suy nghỉ theo dòng hậu công nghiệp không phải hoàn toàn đúng, song chúng làm cho người ta phải suy nghỉ. Sự khao khát làm chủ tương lai bằng dự báo và kế hoạch hóa đã mất đi, khi xảy ra những cú sốc về dầu mỏ và suy thoái kinh tế. Tuy nhiên, bát đầu từ cuối thập kỷ 70, những người có võ cuộc cách mạng

581TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

công nghiệp lần thứ ba (với công nghệ thông tin mới, công nghệ sinh học và vật liệu mới > đã lại đốt lên ngọn lửa của xã hội hậu công nghiệp.

Trên thực tế, những người lao động của ngày mai, theo Michel Godet, sẽ nằm trong những ngành dịch vụ gán với những xu hướng lớn của xã hội hiện đại (Sự ưa thích giải trí. sự coi trọng an ninh). Điều này có nghĩa là họ sẽ chủ yếu chăm sóc nhà ở, mở quán ăn, canh gác. Đó là những nghề mà sự cạnh tranh và những đòi hỏi về chất lượng sẽ đặt ra vấn để nâng cao nghề nghiệp, mà nâng cao nghề nghiệp thì chưa chắc là có trình độ chuyên môn cao.

B - DÒNG MALTHUS MỚI

Dòng này đã nổi bật lên với Câu lạc bộ Roma, thành lập năm 1968. Về một phương diện nào đó, dòng này đã kế thừa làn sóng duy lý của những nám 60. Kỹ thuật được Câu lạc bộ sử dụng là : "Động lực học hệ thống", được phát triển ở Viện Công nghệ Masschusetts bởi Jaỵ Forrester. Báo cáo đầu tiên "Các giới hạn trước sự lăng trường" công bố năm 1972 đúng là một quả bom : không thể tiếp tục tăng trưởng kiểu hàm mũ. nếu không, sẽ thiếu tài nguyên và thế giới sẽ suy sụp do sức ép dân số !

Báo cáo "Tương lai thế giới" năm 1978 của OCDE được soạn thảo với sự chủ trí của Jacqưes Lesournes đã vạch ra rằng sự thực không có các giới hạn vật lý đối với sự tăng trưởng, mà trên hết là các vấn để về điều tiết ở quy mô một thế giới phụ thuộc lẫn nhau, một thế giới mà, dùng câu nói nổi tiếng của D.Bell :

"CÁC CHÍNH PHỦ TRỞ THÀNH QUÁ BÉ Đối VỚI CÁC VẤN ĐỀ LỚN, VÀ QUÁ LỚN ĐỐI VỚI CÁC VẤN ĐỀ BÉ"

c - CÁC CHU TRÌNH DÀI VÀ NHỮNG cuộc KHỦNG HOẢNG MANG HY VỌNG

Dòng này nổi lên từ cuối năm 70.

Trước hết là các lý thuyết về chu trình dài dựa trên các phân tích trước đây của Kondratiev, nhằm giải thích các làn sóng phát triển và suy thoái nối tiếp nhau theo hướng đổi mới. Mỗi pha của chu trình phát triển và suy thoái kéo dài chừng 25 nám. Như vậy sau giai đoạn tăng trưởng mạnh 1950 - 1974 là giai đoạn suy thoái kéo dài cho đến đầu những năm 90, và sau đó sẽ bát đầu chu trình thứ năm trên cơ sở cuộc cách mạng công nghệ, đã có mẫm mống từ cuối những năm 70.

Lý thuyết các chu trình dài về công nghệ đã làm nảy sinh những biến thể kiểu Schumpeter với các tác giả có tên tuổi như Christopher Freeman (1974) và E.M.Scherer (1981). Các tác giả này nhấn mạnh đến những cản trở tổ chức - xã hội (obstacles socio - organísationnels), tức là những cái xơ cứng chống lại những sự biến đổi của các cơ cấu sản xuất và kìm hãm những thay đổi về cơ cấu do công nghệ mới sinh ra.

Tác giả M.Godet cho biết một số công trình trước đây của ông cũng phần nào có ý tưởng trên. Khủng hoảng, theo quan điểm của ông, vừa là hệ quả của những cái xơ cứng, vừa là đòn bẩy chính để vượt qua những cái xơ cứng đó bằng cách thay đổi các thói quen, các cấu trúc, các hành xử. Khủng hoảng là mang hy vọng, và chủ nghĩa tư bản đúng là một cơn bão vĩnh cửu của sự phá hủy mang tính sáng tạo.

582NHÂN THỂ - THÁI ẤT

D - LÝ THUYẾT RÉ VÀ HỖN ĐỘN

Đây là những lý thuyết của khoa học cứng (toán học, vật lý học, sinh học) đang được đưa vào ứng dụng trong các khoa học xã hội.

Từ cuối thế kỷ trước, nhà toán học Henri Poioncaré đã chứng minh rằng một số hệ phương trình tham số hóa không nhận nghiệm ổn định, mà trái lại, lại có vô số nghiệm không ổn định, các nghiệm không ổn định này phụ thuộc vào các giá trị của các tham số và thời gian. Từ đó xuất hiện khái niệm về "tính bất định toán học”.

Như vậy là những hệ phương trình rất nhạy đối với các điều kiện ban đầu và các nghiệm của nó bị phân tán một cách hỗn độn. Đồ thị của những nghiệm như vậy được gọi là đồ thị rẽ (diagramme de bifurcations).

Song các điều kiện ban đầu lại có thể là bất định, do chúng ta không thể đo được chúng một cách hoàn toàn chính xác. Và như vậy, chúng ta có hai bất định :

1) Bất định do việc đo các điều kiện ban đầu, 2) Bất định trong kết quả tính toán các nghiệm do các bất định đó dẫn đến.

Kết quả là tính tất định bị che lấp đì, và các biểu hiện của hệ đang xét (qua hệ phương trình vi phân tương ứng) sẽ mang tính ngẫu nhiên, không thể xác định được.

Theo dòng tư tưởng đó, năm 1961 đã xuất hiện công trình của E.Lorenz trong đố, bằng cách mô phỏng những mô hình dự báo khí tượng, đã chứng minh rằng một thăng giáng nhẹ ban đầu có thể gây nên những biến động lớn, rất mãnh liệt theo thời gian (kiểu cấp số nhân và kiểu hỗn độn).

Hình ảnh rất sinh động của ý tưởng này là cái gọi là "hiệu ứng con bướm" : một cái đập nhẹ của cánh con bướm ở đầu này của thế giới có thể dẫn tới một cơn bão ở đầu kia của thế giới, sau một vài tuần lễ. Như vậy, chúng ta có thể đi đến ý tưởng về một tình huống gọi là "hỗn độn tất định" với ý nghĩa sau : Có những hiện tượng dường như là ngẫu nhiên, song thực ra lại là tất định do các điều kiện ban đầu không thể xác định được một cách chắc chắn và do tính bất định toán học.

Vào những năm 70, Iliya Prigogine và Isabelle Stengers, trên cơ sở lý thuyết nhiệt động học và lý hóa, đã đi xa hơn và đưa ra những khái niệm "trật tự của thăng giáng” và hỗn độn phong phú”. Các tác giả này đã chứng minh được rằng ở xa các điều kiện cân bằng ban đầu có thể xuất hiện những chỗ rẽ, đưa tới những cân bằng khác.

ở GẦN NHỮNG CHỖ RẼ ĐÓ, NHỮNG THĂNG GIÁNG YẾU ở BÊN TRONG HAY BÊN NGOÀI HỆ CÓ THỂ MANG TÍNH QUYẾT DỊNH Dối VỚI Sự CHUYỂN CỦA HỆ THEO NHẤNH RÉ NÀY HAY NHÁNH RẼ KHẮC.

Nếu áp dụng vào xã hội thì những thăng giáng nhỏ đó có thể là những biến động ngẫu nhiên hay những hành động cá nhân. Như vậy là trong lân cận của những chỗ rẽ, nhiều hành động chẳng có ý nghĩa gì đáng kể do ngẫu nhiên hay do ý thích có thể dẫn tới những đảo lộn lớn.

Theo suy nghĩ tương tự như trên, một số nhà sinh học như Henri Atlan, đã đi đến quan niệm về khả năng xuất hiện những loại tổ chức cao hơn từ một số thăng

583TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

giáng của môi trường. Nhà khoa học gọi hiện tượng này là "ngẫu nhiên là một nhà tổ chức".

Một câu hỏi đặt ra : Phải chăng có thể chuyển các lý thuyết mô tả về sự tiến hóa của những hệ vật lý và sinh học như nói trên thành một loại giải thích về sự biến đổi của các hệ thống xã hội ?

Theo Michel Godet thì ở trình độ hiểu biết hiện nay, câu trả lời là : không.

Lý thuyết rẽ và hỗn độn trước hết là sự chứng minh rằng :

- Trước hết, lý thuyết rẽ chứng minh sự thay đổi cấu trúc là tương ứng với một nghiệm của hệ phương trình vi phân đối với một hệ giá trị đã cho của các tham số của môi trường.

- Vấn để đặt ra là ; tìm hệ giá trị của các tham số của môi trường và sự diễn biến của hệ giá trị đó của môi trường để xác định xem, trong số các tương lai khả dĩ, thì tương lai có thể thực sự xảy ra là một đứt đoạn, một chỗ rẽ, hay là không phải như thế.

Chúng ta còn khá xa "lý thuyết về sự phức tạp" mà một số tác giả đã nêu lên như Roy Amara (1984). Trong lúc chờ đợi, chúng ta vấp phải cái phức tạp thường xuyên. Thực vậy, cái phức tạp đã trở thành một nổi xúp to tướng trong đó người ta, không chủ định, đã ném vào tất cả các quan niệm đang có mặt trên cái bàn chứa các tư tưởng tiến bộ (như khoa học luận, tin học, nhiệt động học, các cấu trúc khuếch tán, các rẽ và tất nhiên cái hỗn mang, và cũng không quên sự tự tổ chức).

Để cho nổi xúp đó có tiếng tăm là thuộc một nhà bếp đồ sộ, người ta nêu lên tên tuổi của tất cả các thánh nào (các nhà bác học, các nhà trí thức) đã bảo vệ các quan niệm đó. Người ta đã quên rằng các thánh đó là không cùng một nhà thờ.

Như thế, cái gọi là "khoa học của sự phức tạp" phần nào là tương đương với một tôn giáo mới nào đó, và lại đứng cao hơn tất cả, vỉ tôn giáo này đã vay mượn trong tôn giáo ỉslam đối với người này, trong Thiên chúa giáo đối với người khác, trong Đạo Phật đối với người khác nữa... Đó là một ý tưởng cần đào sâu lâu ngày như với Esperanto vậy !

Michel Godet nối thêm :

- Thế giới thực tại hết sức phức tạp để một ngày nào đó chúng ta có thể hy vọng đặt tính tất định, nay còn che dấu, thành phương trình. Và ngay nếu điều đó sẽ thực hiện được thì tính tất định gắn bó hữu cơ với từng động tác đo lường, nhất là trong phạm vi xã hội, sẽ che mờ các trạng huống có thể xảy ra.

- Thái độ dự báo không phải là chờ đợi sự thay đổi để hành động - sự mềm dẻo chẳng dẫn đến kết quả gì, mà thái độ của nhà dự báo là phải nhằm làm chủ những biến đổi theo hai nghĩa sau : Một là nghĩa tiến - hành động (préactivité) tức là chuẩn bị cho một sự biến đổi được chờ đợi từ trước sự mong muốn, hai là sức mạnh của sự sáng tạo.

- Con người không thể thu về một đầu óc duy lý (bán cầu não trái), con người còn sống với những khả năng cảm xúc (bán cầu não phải). Như thế, các dòng duy lý và heuristic của tư duy chỉ mâu thuẫn nhau về bên ngoài, mà thực ra chúng bổ

584NHÂN THỂ - THÁI ẤT

sung cho nhau. Nếu một trong hai dòng tư duy đố bị phủ nhân, thì con người sẽ trở nên què quật, con người chỉ còn là một tư duy cut tay. cụt chân.

Nói riêng, sự thích ứng làn nhau giưa tri tuệ và cảm xúc sẽ tan nên một của ải phải vượt qua để sự dự báo có thể kết tinh thành hành đông có hiệu quá. Chúng ta như thế tim lại được ba thành phần của Tam Giác của người Hy Lạp : sự suy nghĩ vé dự báo sẽ cho nội dung động viên, duy trì động cơ và nuôi dưỡng ý chí chiến lược.

Đó là một số ý kiến của Michel Godet. một nhà khoa học. dự báo cơ tiếng tám trên thế giới, mà chúng tôi đã đưa ra để bạn đọc tham kháo, khi suy nghỉ về chiến lược tích hợp hai khoa học dự báo Đông và Tây. Kết luận như thế nào, xin dành cho bạn đọc.

Chúng tôi chỉ cần một lần nữa nhấn manh rằng cũng như nhiều tác giả Tây phương khác, Michel Godet tuy đã bước đầu đánh giá được tầm quan trọng của bán cầu não phải, nhưng còn khá xa bình diện Thiên của Triết cổ Đông phương, khi nói đến khoa học dự báo, do chu "Thiên" Đông phương mang tất cả Tinh hoa của những chiến lược lớn, trong đó có chiến lược dự báo.

IV - KHOA HỌC VỀ VÔ TRẬT Tự, VỀ HỗN MANG

Và một lần nữa, cũng để đóng góp thêm tư liệu tối cần thiết vế dự báo, sau đây chúng tôi trình bày thêm về cái gọi là Hỗn mang hay Hỗn độn dưới con mắt của một số nhà khoa học Tây phương. Một dòng tư tưởng mới đã xuất hiện trên diễn đàn khoa học Tây phương, gọi là khoa học Vô trật tự hay là khoa học về Hỗn mang. Hỗn độn.

A - QUAN ĐIỂM CỦA KHOA HỌC KINH ĐIỂN

Đã từ lâu, qua các công trình của Kepler, Newton, Einsteỉn, Maxweel và ngay của Nils Bohr, Hawking... về cơ học, thuyết tương đối, thuyết điện từ, thuyết hấp dẫn, thuyết lượng tử, thuyết các hạt cơ bản, chủ đề của khoa học là : Đì lìm cái trật lự cửu Vũ trụ, bị che lấp đằng sau cái đa dụng đầy rối rắm của hằng hà sa số các hiện tượng đa dạng...

Trong những cội nguồn của dòng tư tưởng này, có thể kể đến các trường phái Pythagore, Platon. Như chúng ta đã thấy, pythagore đã nói : "Con số là quy luật của Vũ trụ", nghĩa là Vũ trụ không những có quy luật, mà cụ thể hơn, các quy luật đó được diễn qua các con số. Tư tưởng của Văn Vương cũng không nằm ngoài hình thái quy luật đó, qua các Bát Quái Đồ...

Và trước khi nói rõ hơn về Platon, cũng cần nhác lại rằng Dạo Phật, Đạo Giáo, Thông thiên học... đếu quan niệm một Vũ trụ có tôn ti trật tự, như đã thấy trong phần Đại Cương. Quan niệm trật tự này của Triết cổ Đông phương có thể xem như một hệ quả trực tiếp của quan điểm vũ trụ là MỘT, vì cái lẽ đơn giản là nếu thiếu Trật tự thì Vũ trụ không thể nào là Một được.

585TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

B - VŨ TRỤ VÀ "THẦN DEMIURGE" CỦA PLATON

Theo Platon, Vũ trụ ban đầu là một cái hỗn mang Tohu - bohu, là một đống dị hình không thể nào hình dung được. Sau đó, có một vị Thần tên là Demiurge, đa đưa cái hỗn mang đố về trạng thái Trật tự. Như thế, Vũ trụ - với thuật ngữ xuàl phải là Consmos tức là "mọi vật đứng đúng chỗ của nó như đã định" - đã đi tứ hòn mang đến trật lự

Nhưng làm sao Demiurge lại dưa được cái hỗn mang đó về trật tự. bằng cách nào ? Theo Platon, Demiurge là một nhà toán học, có khả năng áp đặt các hình dạng đối xứng hình học cho vạn vật Như thế, theo Platon, Vũ trụ không những có trật tự, mà hơn nữa. đó là một trật, tự hình học. Còn nhiệm vụ của các nhà khoa học là có tim cho ra cái trật tự toán học đó.

Nếu theo chiếu hướng suy nghĩ này, ta sẽ thấy rằng cái vô trật tự quan sát hằng ngày không phải là một vô trật tự có thực. Đằng sau cái vô trật tự đó, có một trật tự "thần thánh".

EINSTEIN

Einstein đã viết :

"Chúng tôi thừa nhận rằng tại cơ sở của mọi công trình nghiên cứu có tầm cỡ nào. thì đều có tổn tại một lòng tin rất giống một tình cảm tôn giáo (sentiment religieux), vì lòng tin đó thừa nhận một Vũ trụ dựa trên lý trí (raison!, một thế giới có thể hiểu được ỉ Niềm tin này, có quan hệ với một tỉnh cảm sâu xa về một lý trí nằm tại một bình diện cao hơn, nhưng lại bị che lấp bởi thế giới của kinh nghiệm, đối với tôi, được diễn tả bằng tư tưởng về Thượng đế".

"Tôi cương quyết bảo vệ quan điểm cho rằng tôn giáo vũ trụ (religion cosmique) chính là động cơ mạnh mẽ nhất cao cả nhất của nền khoa học Tây phương".

Theo chủ nghĩa tất định kinh điển, cái cho là vô trật tự chỉ là một cảm giác tạm thời, bát nguồn từ những hiểu biết còn thiếu sót của chúng ta. Chúng ta nhin một dòng nước chảy dữ dội, một bệnh dịch hoành hành lan tràn, bao nhiều tháng trầm trong cuộc sống... chúng ta đứng trước những cái hỗn độn, vô trật tự hết sức khó hiểu đó... tuy nhiên - cũng theo dòng triết học tất định Tây phương chính thống đó - đó chẳng qua cũng chỉ là những cái không căn bản mà khoa học nay mai sẽ dần dần xóa bỏ...

c - KHOA HỌC VỀ VÔ TRẬT Tự- sự PHỤC THÙ CỦA CÁI HỖN MANG

Chúng ta hãy tiếp tục xem xét những vấn để này, vì nếu không có được một sự hiểu biết sâu sắc về các khái niệm trật tự, vô trật tự, hỗn mang, hỗn độn, tất định, tất yếu, ngẫu nhiên... chúng ta sẽ không bao giờ xây dựng được một khoa học nghiêm chỉnh về dự báo, và nếu chúng ta không hiểu thấu đáo các luồng tư tưởng của các nhà khoa học Tây phương xung quanh các quan điểm trên, thì sẽ khó lòng xây dựng được một khoa học dự báo mang tính tích hợp Đông Tây, là một trong những khoa học cơ bản của các thế kỷ sau.

586NHÂN THỂ - THÁI ẤT

Những dòng tư tưởng về các khái niệm trên đã phần nào làm lung lay lòng tin vào lý thuyết tất định, đã ăn sâu vào tâm trí của các nhà khoa học Tây phương từ mười mấy thế kỷ vừa qua.

Nhiều cuộc tranh luận đã diễn ra gay gắt giữa các nhà khoa học Tây phương xung quanh các chủ đề : Tất định hay hỗn mang, tất yếu hay ngẫu nhiên, trật tự hay vô trật tự, mối quan hệ giữa các khái niệm đối lập đó có tính chất loại trừ hay bổ sung cho nhau...

Cuộc tranh luận điển hình nhất đã xảy ra giữa bốn đỉnh cao của khoa học Tây phương là : René Thom, Ilya Prigorine, Henri Atlan và Edgar Morin. Sau đây là các quan điểm riêng của các nhà khoa học đó.

RENÉ THOM

René Thom là tác giả nổi tiếng của lý thuyết tai biến (Théorie des catastrophes). René Thom không chỉ là một nhà toán học. ông còn là một nhà triết học, quan tâm đến vai trò của toán học trong lý thuyết nhận thức và trong cuộc sống con người. Ông là giáo sư của Viện Hautes études de Buressur - Yvettes, thành viên của Viện Hàn Lâm Khoa học Pháp, được giải thưởng quốc tế "Fields" năm 1951.

Theo René Thom, những thái độ say sưa về thuyết hỗn mang chỉ chỉ rõ một điều :

"Người ta quá vội vàng nhảy múa điệu "lột đa đầu” của người da đỏ quanh cái tử thi của học thuyết tất định của Laplace. Chủ nghĩa Tất định (Déterminism) trong khoa học không phải là một dữ kiện (donnée), nó là một sự chinh phục (conquête). Và như thế, những người nhiệt tính đối với cái ngẫu nhiên chỉ là những tông đồ của một sự đào ngũ". (Nouvelle Alliance, René Thom).

ILYA PRIGORINE

ông là tác giả của thuyết "Trật lự do thăng giáng" (Ordre par fluctations). Được giải thưởng Nobel năm 1977 về hóa học. ông đã chứng minh được rằng cái hỗn độn entropie, do ảnh hưởng của các thăng giáng, chính là nguồn tạo nên sự tiến hóa, của sự tạo thành những cấu trúc phức tạp.

Quan điểm của ông về Vũ trụ là :

Con người hiện nay biết rằng nó không phải sinh thể duy nhất trong Vũ trụ bao la. Nếu khoa học kinh điển, từ trên quyền lực của tri thức toàn năng (omniscient) của nó, đã dồn Vũ trụ trở thành chỉ một robot ngủ mê, thì khoa học hiện đại, nhờ "nghe ngóng thi ca" (écoute poétique) đã trả lại cho Vũ trụ sức mạnh canh tân của nó, và nhờ một cuộc đối thoại có hiệu quả, đã tích hợp con người lại với Vũ trụ mà nó đang quan sát.

Đánh giá phát biểu trên của René Thom, Prigorine nói :

"Khi Thom khẳng định ràng Chủ nghĩa Tất định là một thành quả chinh phục được của khoa học thì ông nói đúng. Nhưng ông không thể cho rằng những người nhấn mạnh về hiệu quả và ý nghĩa của các cấu trúc xuất phát từ ngẫu nhiên là những kẻ đào ngũ. Và ông cũng không thể cho rằng sự chinh phục tính tất định là mục tiêu duy nhất của khoa học".

587TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

"Người ta có truyền thống đối lập các sơ đồ tất định với các sơ đồ ngẫu nhiên, từ đó xuất hiện hai giáo điều đối lập nhau : giáo điều về ngẫu nhiên của Monod và giáo điều về tất định của Thom. Và nếu như có xuất hiện một điều bất ngờ trong lĩnh vực khoa học này, thì chính là ở chỗ hai quan điểm này lại bổ sung cho nhau hơn là loại trừ nhau".

HENRI ATLAN

Henri Atlan là một bác sĩ, một nhà sinh vật học, Giáo sư Đại học về khoa học tự nhiên tại Paris, Giáo sư Đại học Jérusalem, và là thành viên của ủy Ban quốc gia về đạo đức cho các khoa học về sự sống và sức khỏe. Các công trình của ông tập trung vào nhiều ngành khoa học như Sinh học tế bào, Lý sinh và Khoa học về sự thông minh nhân tạo, nhằm giải quyết tính thống nhất trong các học thuyết về sự đa dạng.

Công trình nổi tiếng của ông là các nghiên cứu về "sự tự lồ chức của sinh thể”.

Những cái độc đáo của ông là quan điểm quay về (feedback) của ông, mà ồng đặt giữa những nghiên cứu khoa học của mình và các nghi vấn của mình về truyền thống.

Trong lúc tính duy lý khoa học và tính Minh triết Tâm linh hiện ra như hai lĩnh vực loại trừ nhau, thì các công trình của ông lại nhằm nối Kình Talmud (Kinh Do Thái) với cìbernétic, nối tư tưởng của một nhà sinh lý học Tây phương với Kinh thánh. Theo ông, có tổn tại nhiều duy lý, dù rằng khác nhau.

Về lĩnh vực bản chất của ngẫu nhiên, có những câu hỏi sau thuộc lĩnh vực khoa học luận :

Cái ngẫu nhiên có tồn tại trong thế giới tự nhiên thực sự hay không, hay là đó chỉ là kết quả của sự dốt nát của chúng ta về các nguyên nhân, là một sự ngu dốt mà chính khoa học có nhiệm vụ phải hạn chế dần. Sự ngẫu nhiên mang tính cốt yếu thực sự, hay là 'đó chẳng qua chỉ do dốt nát ? Khái niệm ngẫu nhiên có tính bản thể (ontologique) hay không, hay đó chẳng qua chỉ là hệ quả của một nhận thức kém hiệu lực ? Trong trường hợp thứ hai này liên đối với nguyên nhân mang tính nhận thức luận, ta cần nghiên cứu xem sự bất lực về nhận thức đó phải chăng là cốt yếu, hay đó chỉ là tạm thời ? ít nhất, theo dư luận chung, cũng phải xới bài toán đó lên và xem như chưa được giải quyết.

Nhưng Atlan trả lời ngay : Nếu chúng ta giả sử có một tính tất định tuyệt đối thống trị tất cả các hiện tượng trong Vũ trụ, và giả sử trên nguyên tắc là các quy luật bị che dấu có thể được phát hiện qua nhận thức của con người, thế thì điều này hóa ra sẽ ngăn cấm chúng ta hình dung sự xuất hiện của bất kỳ một cái gì không thể đoán trước được. Vì sao ? Vì bất kỳ cái gì cũng không thể đoán trước được, theo chính định nghĩa của cái mới.

EDGAR MORIN

Edgar Morin là một nhà xã hội học, một nhà khoa học luận, Giám đốc các nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu CNRS và Trung tâm nghiên cứu liên ngành của Trường Đại học Khoa học xã hội Pháp, ông có một tư duy rất thoáng, luôn luôn đổi mới không biết mội mệt. Vì thế, người ta gọi ông là "con người săn bắt tri thức trái phép".

588NHÂN THỂ - THÁI ẤT

Edgar Morin bảo vệ quan điểm một "vô trật tự - tổ chức". Một Vũ trụ bị thống trị bởi một logic. như là một máy công cụ. thì không thể sản ra cái mới được. Còn một. Vũ trụ hoàn toàn hỗn mang sẽ không thể có một khả năng tổ chức nào. và cũng hoàn toàn bất lực về sáng tạo. Theo Edgar Morin. cần phải quan niệm một Vũ trụ qua lãng kinh mót mối quan hệ phức tạp giữa trật, tự và vỏ trật tự.

Theo Edgar Morin. mối quan hệ giữa vô trật tự và trật tự là một tồn tại thực sự. Trật. tự. theo ông. không chỉ có nghĩa là những quy luật của Vũ trụ. trật tự còn có nghĩa là những ràng buộc, những nhân tố không đổi. Vi lý do đó. tư tưởng về trật tự là phong phú hơn tư tưởng về quy luật. Khái niệm vô trật tự không phải là một khái niệm đối xứng với khái niệm trật tự. nó là một khái niệm vỉ mô < macroconcept).

Chủ nghĩa tất định phải nhường chỗ cho phạm trù trật tự, một phạm trù đã trở thành một vồ cùng phức tạp, nói rõ hơn, đó là một khái niệm có liên quan đến khái niệm đối lập của nó là khái niệm vô trật tự, nhưng hai khái niệm này lại bổ sung cho nhau. Cái duy lý không đồng nghĩa với cái chắc chắn (certitude), nó cũng không đồng nghĩa với xác suất của cái ngu dốt.

Cũng cấn nói thêm rằng, theo Edgar Morin, thì các học thuyết khoa học không phải là sự phản ánh của thực tế, khoa học chỉ là một sự chiếu (projection) của con người lên thực tế đó...

CHÌA KHÓA VẤN ĐỀ NẰM NƠI ĐÂU ?

Qua tất cả những gì chúng tôi đã trình bày về khoa học dự báo. cả Đông Tây Kim Cổ. phải chăng đà đến lúc có thể đật vấn đề tìm cái "chìa khóa" vô cùng hóc hiểm của vấn để ?

Trước hết, vấn để dự báo - và quan hệ mật thiết với nó là vấn để quan hệ giữa các phạm trù trật tự và vô trật tự, giữa ngẫu nhiên và tất yếu - là một vấn để thuộc tầm Vũ trụ.

Đây là một trong những vấn để nhận thức luận khi con người từ những tri thức đã đạt được của mình, muốn phát triển ra toàn bộ Vũ trụ.

Đây là một trong những xu hướng ngoại suy (extrapolation) thực to lớn, từ cục bộ sang toàn bộ. Một ngoại suy như thế có "hợp pháp" hay không ? Nhưng nếu hợp pháp, thì cần có những nhân tố hay điều kiện gì ?

1) Nói chung, không phải mọi ngoại suy từ cục bộ sang toàn bộ là "hợp pháp", vì nói chung cái toàn bộ có thể mang những thuộc tính m ? cái cục bộ - tại một trình độ nhận thức luận nào đó của con người - chưa thể phát hiện được.

2) Nhưng nếu cái cục bộ mang được những thuộc tính (ít nhất là các thuộc tính cơ bản) của cái toàn bộ, thì sự ngoại suy có thể là "hợp pháp" Đây chính là trường hợp của cái toàn đồ (hologramme). 3) Cho rằng các điều kiện của 2), nghĩa là các điều kiện toàn toàn đồ được công bố là được thỏa mãn, thì lại có một tình huống xảy ra : Có thực là các điều kiện toàn đổ đó đúng là đã được thỏa mãn hay không ? Nghĩa là cần kiểm tra lại các điều kiện tổn tại thực sự, hay điều kiện hiện thực thực sự của toàn đổ. 4) Vi chủ thể nhận thức Vũ trụ là con người, nên bài toán toàn đồ trở thành bài toán về con người - loàn đồ với Vũ trụ, hay chính xác hơn, đây là bài toán trí thức chủ thể là con người - toàn đồ với trật tự hay quy luật Vũ trụ.

589TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

5) Nhưng tri thức con người lại phụ thuộc vào phương pháp luận và phương pháp luận lại phụ thuộc vào bản thể. Thành thử chúng ta lại quay về bản thể luận con người. Nghĩa là chừng nào vấn để bản thể con người chưa được làm sáng tỏ thì chưa có thể khảng định được mối quan hệ giữa ngẫu nhiên và tất yếu, cũng như giữa trật tự và vô trật tự

Nghĩa là chúng lại quay trở về câu nói bất hủ của Socrate.

6) Vấn đề quan hệ giữa Tất yếu - Ngẫu nhiên lại liên quan đến cái MỘT của Triết cổ Đông phương. Nói đến cái MỘT là nói đến tính thống nhất, tính đơn nhất. Nói đến ngẫu nhiên là nói đến sự vi phạm tính thống nhất, tính đơn nhất đó. Thành thử để duy trì tính thống nhất, cẩn phải có một cơ chế nào đó. Cơ chế này là gì, đến nay khoa học Tây phương chưa tìm ra được, nhưng tất yếu phải tổn tại. Và cuộc tranh luận của chúng ta về mối quan hệ trên sẽ dần dần được sáng tỏ.

7) Các khoa học dự báo cổ Đông phương tuân theo một quy luật xác định, như đã thấy nhiều lần. Nếu đúng như thế, thì phải chăng các quy luật này đóng vai điều chỉnh lại những ngẫu nhiên, nếu chúng xảy ra ?

Và qua đó, liệu chúng ta sẽ khám phá được mối quan hệ tất yếu - ngẫu nhiên cần tìm ?

VI - MỘT ĐỊNH HƯỚNG VỀ TÍCH HỢP CÁC Dự BÁO KHOA HỌC ĐÔNG TÂY

Hai khoa học dự báo Đông và Tây có thể gặp nhau hay không, hay chỉ là hai cực hoàn toàn đối lập nhau ? Muốn giải bài toán này, chúng ta hãy trở lại các điểm chủ yếu của hai phong cách dự báo đó.

Dự BÁO TÂY PHƯƠNG

Cực A :

Phương pháp luận Trực giác, không chủ yếu : "Pythie" - Tiên tri, Trung gian :

Kịch bản...

Cực B :

Duy lý. Trí tuệ Phương pháp luận chủ yếu dựa vào các phương trình loại vỉ phần này hay khác, máy vi tính, thuyết tất định - hỗn mang (các mối quan hệ giữa trật tự và vô trật tự, hoặc loại trừ nhau, hoặc bổ sung cho nhau).

Dự BÁO ĐÔNG PHƯƠNG

Cực c ỉ

Duy lý mờ, Trí huệ và Nghệ thuật. Các học thuyết của Kinh Dịch, là bản sao đơn giản của phương pháp bản thể.

Trung gian :

Các huyền thoại...

590NHÂN THỂ - THÁI ẤT

Cực D : Phương pháp luận chủ quan dựa vào bản thể. Minh triết. Trí huệ. Tiên tri.

DỰ BÁO TÂY PHƯƠNG : DUY LÝ - PHÂN TÍCH

CỰC A. Phương pháp TRUNG GIAN CỰC B. Phương pháp luận chủ luận phụ : Kịch bản... yếu là khách quan : Trực giác. Duy lý. Pythie - Tiên tri. Trí tuệ. Phương trình, máy vi tính. Thuyết tất định - hỗn mang.

DỰ BÁO ĐÔNG PHƯƠNG : MINH TRIẾT - HOLISTIC

CựC C. Phương pháp TRUNG GIAN : CỰC D : Phương pháp luận chủ luận duy lý mò. Huyền thoại... quan dựa vào bản thể. Trí huệ và nghệ thuật. Minh triết. Các học thuyết của Kinh Trí huệ. Dịch. Tiên tri.

Bảng 80. DỰ BÁO TÂY PHƯƠNG VÀ ĐÔNG PHƯƠNG. •

Sự tích hợp hai khoa học dự báo Đông Tây sẽ xảy ra khi A gần như D và C gần như B (Hình 134).

Hình trong sách

A = D, C = B A = D trỏ A gần như D v.v... A

Hình 124e. MỘT ĐỊNH HƯỚNG TÍCH HỢP HAI KHOA DỰ BÁO ĐÔNG - TÂY (THEO CƠ CHẾ LÁ MEBIUS ?) A = "Pythie", B = Máy vi / tính, phương trình vi phân... Tây phương C = Kinh nghiệm bản thể... D = Các học thuyết dự báo Đông phương

591TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Phần TOÁN HỌC

592NHÂN THỂ - THÁI ẤT

(trang để trắng trong bản in)

Nguyễn Hoàng Phương, Tích hợp đa văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1996. Bản số hóa từ ảnh quét; văn bản do OCR nên có thể còn sai sót — bấm vào số trang trong bài để đối chiếu ảnh quét nguyên bản.

Trong mục này