TH Tích hợp đa văn hóa Đông Tây

Tập IV — Cơ sở Thái Ất — học thuyết dự báo chung cho cộng đồng, Thiên cơ

Chương 37

Sự phân loại số trong học thuyết Thái Ất

Trang 540–545 của bản in·Xem ảnh quét
540NHÂN THỂ - THÁI ẤT

sự PHÂN Loại SỐ TRONG Học THUYẾT THÁI ẤT

I - ĐỊNH NGHĨA

Trong học thuyết Thái Ất các số nguyên :

{I, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9}, {10, 20, 30, 40}, được phân vào những tập hợp con khác nhau. Các tập hợp con này lại mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Học thuyết Thái Ất, cũng như học thuyết Độn Giáp, là những điển hình về các bài toán sử dụng các tập số nguyên đó, với những ý nghĩa khác nhau, nghĩa là đứng trước nhiều tiêu chuẩn khác nhau, cần thống nhất lại một cách hài hòa. Đó chính là nội dung và tính độc đáo của những bài toán đa tiêu chuẩn Đông phương.

Các tập hợp con đó là :

Cơ,ĐƠN NGẪU ÂM DƯƠNG THIÊN THIÊN TUYỆT

ĐƠN ÂM (CUNG} (CUNG) NỘI DƯƠNG NGOẠI DƯƠNG

{2,6,8,4} {8,3,4,9} {18,3,4} {1, 3,5,7} {27,6,1} {9,27,6} {1} (2) (3) (4) (5) (6) (7) (1)

TUYỆT DỊCH TUYỆT Cơ Cơ ÂM THUẦN THUẦN KHÍ ÂM KHÍ DƯƠNG ẴM DƯƠNG

{10, 30} {20, 40} {2, 8} {4, 6} {2.6} {3. 9} {9} (8) (10) (12) (13) (9) (14) (11)

Ghi chú : Các số trong dấu ngoặc trỏ số thứ tự của các định nghĩa.

541TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

IÍ KHÁI NIỆM PHÉP KẾT HỢP THẬP PHÂN, MODULO 60 ĐỊNH NGHĨA Cho hai tập hợp X = {x) và Y = lyi, không có hoặc có phần tử chung. Thế thì theo định nghĩa. phép kết hợp thập phân giữa hai tập hợp đó, ký hiệu là (*), là tập hợp sau : X(*)Y = 110x + y, 10y + x}. Ví dụ 13,9) (*) (2,6) = (32,36,92,96,23,29,63,69), {3,9} (*) (3,9} = {33,39,93, 99,33,39,93,99} = (33,39,93,99). Tiếp theo, phép kết hợp thập phân modulo 60, ký hiệu là (*60), định nghĩa như sau : X(*60) Y = X(*)Y modulo 60. Ví dụ {3,9}(*60)(2,6) = (32,36,92,96,23,29,63,69} modulo 60 = 132,36,23,29,3,9ł. Để tiếp tục, ta cần biết rằng trong học thuyết Thái Ất, chỉ sử dụng các con số nhiều nhất bằng 40, các số lớn hơn được xem phải bỏ đi. Ta tiếp tục định nghĩa :

ĐỊNH NGHĨA 15) Số Trùng Dương = 13,91(*60)13,91 = (33,99), 16) Số Trùng Â1 = 12,6) (*60){2,6) = 122,26), 17) Số Tạp Dương = {1,3,9,7} | 13,9) = (1,7}, (dấu \ là dấu "trừ" tập hợp), 18) Số Tạp Âm = (2,6,8,4) \ 12,6} = 14,81, 19) Số Trùng Dương trong Âm = {1,7)(*60){1,71 =(11,17), 20) Số Trùng Âm trong Dương = (4,8)(*60){4,8} =124,28), 21) Số Tạp Trùng Dương = [{1,3,9,7) (*60) {1,3,9,7ł] \ (11,17,33,39} = {13,19,31,37), 22) Số Tạp Trùng Âm = Số Trùng Âm trong Dương = (22,28), 23) Số Thượng Hòa = (1,7)(*60)(4,8) = (14,18), 24) Số Thứ Hòa = {3,9}(*60) {2,6ł = (23,29,32,36). 25) Số Hạ Hòa = [{1,3,9,7} (*60) {2,6,8,4)] | (Số Thượng Hòa và số Thứ Hòa} = = (12,16,21,27,34,38}.

542NHÂN THỂ - THÁI ẤT
Hình trong sách

Ấ t Hình 124c. BẨNG PHÂN LOẠI CÁC SỐ TRONG HỌC THUYẾT THÁI

26) Số Tam Tài = {16,26.36,17,27,37,18,28,38,19,29,39}, 27) Số Trường Hòa : Chủ toán lớn hơn hoặc bằng 16 thì gọi là Trường Hòa, 28) Số Hòa, Bất Hòa : Với các Sao Văn Xương, Thủy Kích, các vị trí Kiền, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, gọi là vị trí Dương. Còn các vị trí khác Hợi, Sửu, Dần, Thìn, TỊ, Mùi, Thân, Tuất, gọi là vị trí Âm (gọi là các ngôi Giáng Thần của các Sao).

Nếu Chủ toán, Khách toán là chẵn (hay lẻ), mà vị trí Sao tương ứng lại Dương (hay Âm) thì trạng thái của Sao gọi là Hòa.

Nếu Chủ toán, Khách toán là chẵn (hay lẻ), mà vị trí Sao tương ứng lại Âm (hay Dương) thi trạng thái của Sao gọi là Bất Hòa.

29) Số Vô Thiên = {1,2,3,4,5,6,7,8,9}.

30) SỐ Vô Địa = {11,12,13,14,21,22,23,24,31,32,33,34}

31) Số Vô Nhân = {10,20,30,40}.

543TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

III - MỘT VÀI Ý NGHĨA CÁC số

Như Pythagore đã nói : "Con Số là quy luật của Vũ trụ", con số biểu hiện được phần lớn các thuộc tính của các quy luật Vũ trụ. Nhưng các quy luật Vũ trụ lại vô cùng phức tạp, nhất là đối với các cộng đồng trong học thuyết Thái Ất, nên xác định cho được ý nghĩa các con số trong những bài toán đa tiêu chuẩn, tất nhiên cũng thực là vô cùng khó khăn. Và, như đã thấy trong các định nghĩa trên về con số trong học thuyết Thái Ất, chúng ta đang đứng trước một cách phân loại rất phức tạp, các định nghĩa chồng chéo lên nhau...

Thành thử, chúng ta sẽ không phải ngạc nhiên về một ý sau của các số. Trên thực tiễn, người sử dụng học thuyết Thái Ất chỉ có thể thành thục qua nhiều thời gian sử dụng và tự rút lấy kinh nghiệm riêng cho bản thân mình. Một lần nữa : Vận dụng Triết cổ Đông phương là một nghệ thuật.

A - CHỦ VÀ KHÁCH, THẮNG BẠI

1) Chủ và Khách là hai khái niệm cần xác định trước tiên. Theo cổ nhân, nếu quân ở đồng bằng, cờ trống đều cùng nhau trông thấy, thì bên nào hành động trước là Khách, ứng tiếp sau là Chủ.

2) Nếu đất nước ở thời an cư, thì bên nào hành động trước là Chủ, ứng tiếp sau là Khách.

3) Làm vua ở một xứ độc một mình là Chủ. Đem quân vào đất lạ là Khách.

4) Nếu hai bên Chủ, Khách ở trong các điều kiện tốt (Tướng phát, Âm Dương hài hòa...) lợi cho việc dấy quân, thì bên nào khởi sự trước là tháng, khởi sự sau là bại.

5) Nếu hai bên Chủ, Khách đều gặp điều kiện không tốt (Tướng không phát, Âm Dương bất hòa...) thì bên nào khởi sự trước sẽ bại, khởi sự sau sẽ thắng.

B - THIÊN NỘI, THIÊN NGOẠI, TRỢ CHỦ, TRỢ KHÁCH

Đối với Sao Thái Ất, các Cung Thiên Nội 1,8,3,4 là trợ Chủ, theo cổ nhân không nên đem quân cồng phạt trước, muốn đánh địch thì không nên khởi động trước, tức là chỉ nên ứng chiến về sau. Còn các Cung Thiên Ngoại là trợ Khách, nếu (Thái Ất) muốn đánh địch thì không nên ứng sau mà phải đánh trước.

c- CHỦ TOÁN, KHÁCH TOÁN

1) Toán dài (số tương đối lớn hơn) theo cổ nhân là thắng, toán ngắn (số tương đối nhỏ hơn) là bại.

2) Toán dài thì nên đi sâu vào đất địch, toán ngắn thì chỉ nên vào nông.

3) Toán bằng 10 là cho Tướng, toán bằng 5 là cho Lại sỉ, toán bằng 1 là cho Bình lính. Toán dưới 10 thì Tướng bất lợi, toán dưới 5 thì Tham Tướng bất lợi.

544NHÂN THỂ - THÁI ẤT

4) Nếu toán bằng 16 trở lên thì gọi là Trường hòa (khác Thượng hòa), tức là Tướng, Lại, Binh đều đầy đủ, lợi cho việc dấy quân để làm trăm việc. Nếu toán bé hơn 9 thì Chủ Tướng hay Khách Tướng sẽ gặp điều dữ.

5) Toán hòa là lành, toán bất hòa là dữ.

D-CÁC CUNG TUYỆT ÂM, TUYỆT DƯƠNG, DỊCH KHÍ, TUYỆT KHÍ

1) Nếu lâm vào quan hệ Yêm (khái niệm này sẽ xác định trong chương tiếp theo), lại gia vào các Cung Tuyệt Dương 1. Tuyệt Âm 9, thì nhà vua sẽ gặp dữ lớn.

2) Nếu lâm vào quan hệ Tù (khái niệm này cũng sẽ xác định trong chương tiếp theo), lại gia vào các Cung Dịch khí 2,8 hay Tuyệt Khí 4,6, thì không có lợi cho hành động trước.

E-SỐ VÔ THIÊN {1,2,3,4,5,67,8,9}

Nếu Chủ toán gặp số Vô Thiên, lại gặp những mối quan hệ Quan, Tù, Yêm, Bách, Kích (các mối quan hệ này sẽ được xác định trong chương sau) thì sẽ xảy ra tai ách Thiên biến.

Chẳng hạn, theo sách Trung Hoa, năm Quý Sửu, niên hiệu Cảnh Phúc năm thứ hai đời Đường Cao Tống

A = 10,154.810, thuộc Nguyên Nhâm Tý, Dương Niên Cục 2.

Khi đó Thái Ất ở Kiến, Văn Xương ở Dậu, Chủ toán là 6 Vô Thiên. Năm ấy, Trời có những biến động lạ thường. Ngày 17 tháng 4 Âm lịch, mây tan, người ta nhìn thấy khá rõ Sao Chổi Tuệ Tỉnh dài hơn 10 trượng, khởi từ Thượng Thai - Trung Thai - Đông Môn, nhập vào Đàn Thái Vi, quét một góc khá lớn, rồi sau đó nhập vào Đàn Thiên Thị... (về Sao Chổi, người đời xưa đã có nhiều quan điểm thiên về Tâm linh, NHP).

Tiểu Thiên biến

Nếu khi có tình huống Vô Thiên, mà Sao Thái Ất lại ở vào năm Lý Thiên, và nếu các quan thần chăm lo tu nhân, tích đức, và nhân dân lại chăm tu hành, thì tai ách Vô Thiên sẽ giảm nhẹ. Hiện tượng giảm nhẹ Vô Thiên này gọi là Tiểu Thiên biến.

F-SỐ VÔ ĐỊA {11,12,13,14,21,22,23,24,31,32,33,34}

Hiện tượr.g đi đôi với toán Vô Địa là Đất sinh tai biến dị thường, núi trời, đất lở, nước phun... ví dụ cũng theo sách Trung Hoa, năm Giáp Ngọ, niên hiệu Trình Quan thứ nhất, đời Đường Thái Tông

A = 10.154.551, Dương Niên Cục 31.

Sao Thái Ất tại Cấn 3, Văn Xương tại Tốn, Chủ toán 23 thuộc Vô Địa. Năm này, Đất xảy ra những biến động rất lạ lùng, lũng thạch bốc băng, rắn rết nhung nhúc, dài hơn 10 trượng, sông Hoài Nam có nước dâng cao.

545TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Tiểu Địa biến

Nếu có tình huống Vô Địa mà Sao Thái Ất lại ở tại năm Lý Địa, và nếu các quần thần lưu tâm đến Thiên mà tu nhân tích đức, nếu khi xây dựng cung thất mà hướng về Thiên, thì nhân dân sẽ khỏi gặp khó nhọc của Vô Địa, từ phương gió mới thuận (xem chương Thời Bệnh học, tập I)

Tình huống này gọi là Tiểu Địa Biến

G-SỐ VÔ NHÂN 00,20,30,40}

Các hiện tượng đi đôi khi gặp số Vô Nhân rất là lạ, miệng lưỡi con người ngoa ngoắt, người hãm hại người lẫn nhau, bệnh tật lây lan...

Ví dụ cũng theo sách Trung Hoa, năm Ất Sửu, niên hiệu Thiên Hựu năm thứ hai, đời Tống Hy Tông

A = 10.154.822, thuộc Nguyên Nhâm Tý, Dương Niên Cục 14

Sao Thái Ất ở Đoài 6, Văn Xương ở TỊ, Chủ toán là 10. Năm đó, Lương Vương giết tôi trung, Cung Tam Tính bị bức tử, máu chảy thành sông, nhân dân đói khát, chết vô số.

Tiểu Nhân biến

Nếu gặp tình huống Vô Nhân, mà Sao Thái Ất lại ở năm Lý Nhân, và nếu quần thần biết thờ phụng Trời, chăm lo đạo đức, trong nước biết tiến cử nhân tài và người trung lương, xa lánh bọn xàm nịnh, thấm xét hình ngục công minh, thương xót kẻ cô quả, ngừng động binh cho dần nghi ngơi thì thiên khí sẽ hòa bình, ngũ cốc đầy kho. Hiện tượng này gọi là Tiểu nhân biến.

Một vấn đề :

Cần nghiên cứu xem các số Vô Thiên, Vô Địa, Vô Nhân nói trên liệu có liên quan gì đến thuyết tai biến của René Thom ? (Sẽ trình bày ở Chương 50).

Nguyễn Hoàng Phương, Tích hợp đa văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1996. Bản số hóa từ ảnh quét; văn bản do OCR nên có thể còn sai sót — bấm vào số trang trong bài để đối chiếu ảnh quét nguyên bản.

Trong mục này