Tập IV — Cơ sở Thái Ất — học thuyết dự báo chung cho cộng đồng, Thiên cơ
Chương 36
Ngũ phúc, Tứ thần, Thiên ất, Địa ất, Trực phù, Quân cơ, Thần cơ, Dân cơ và Đại du Thái Ất
NGŨ PHÚC, TỨ THẦN, THIÊN ẤT, ĐỊA. ẤT, TRựC PHÙ. QUÂN Cơ, Thần Cơ, DÂN cơ VÀ ĐẠI DU THÁI ẤT
Cổ nhân vận dụng chữ Thời - Thiên cơ vào học thuyết Thái Ất bàng nhiều cách. Dỉ nhiên, tất cả những gì được trình bày từ trước đến nay trong học thuyết Thái Ất đều nhằm vào chữ Thời. Nhưng với chữ Thời, cần xác định rõ mục tiêu :
THỜI - THIÊN CƠ CHO AI ?
Các khái niệm sau đây : Quân cơ, Thần cơ, Dân cơ được đưa ra nhằm chỉ rõ chữ Thời cho ba khối lớn trong Cộng đồng :
QUÂN, THẦN, DÂN.
Mặt khác, lại có Thời mang đến Hạnh phúc, lại có Thời mang đến Tai họa... Các Thời này được biểu hiện bằng các khái niệm :
HẠNH PHÚC : NGŨ PHÚC VÀ HOẠ : TỨ THẦN, THIÊN ẤT, ĐỊA ẤT, TRựC PHÙ.
Cuối cùng, do Triết cổ Đông phương biểu thị một quan hệ Thiên - Địa - Nhân theo kiểu điều khiển học chặt chẽ, nên trong học thuyết Thái Ất, có xuất hiện một nhân tố rất quan trọng là nhân tố
ĐẠI DU THÁI ẤT, có chức năng "thanh tra cỗi Trần" đối với các khối Quân, Thần, Dân.
Chúng ta hãy bát đầu bằng những nhân tố mang đến cái lành : Ngũ Phúc.
E - NGỮ THÚC
A - CHỨC NĂNG VÀ HÀNH TRÌNH CỦA NGŨ PHÚC Ngũ phúc là 5 vỉ Sao Trời, cùng Sao Thái Ất ban phúc lành. Năm vì Sao Ngũ Phúc du hành tại 5 Cung Kiền, Cấn, Tốn, Khôn, Trung Cung ; trụ lại mỗi Cung 45 năm, 15 năm đầu cho Lý Thiên, 15 năm tiếp cho Lý Địa, còn 15 năm cuối cho Lý Nhân. Khi Ngũ Phúc ở Lý Thiên thì bốn mùa, tám tiết yên hòa. Khi Ngũ Phúc ở Lý Địa thì núi non sinh ngọc tốt, đất đai đẻ cỏ thiêng. Ki” Ngà Phúc ở Lý Nhân thì người sanh được con ngoan, giỏi, dân yên, nước giàu, không có binh đao, hạn lụt, bệnh tật, ốm đau. Ngũ Phúc du hành theo trình tự sau : """" Cung Kiền : 45 năm, Cung Cấn : 45 nặm, Cung Tốn : 45 năm, Cung Khồn : 45 năm, Trung Cung : 45 năm. Cụ thể là năm Giáp Tý niên hiệu Vĩnh Tộ năm thứ sáu, Ngũ Phúc vào Cung Cấn, đó là năm 1624, 45 năm sau, tức là năm Kỷ Dậu niên hiệu Cảnh Trị năm thứ 7, năm 1669, Ngũ Phúc vào Cung Tốn. Còn 45 năm sau, năm 1714, năm thứ 9 niên hiệu Vĩnh Thịnh, Ngũ Phúc vào Cung Khôn. Năm Ký Mão 1759, năm thứ ? niên hiệu Cảnh Hưng, Ngũ Phúc vào Trung Cung...
B - VẤN ĐỀ KHÔNG GIAN TRONG KHÁI NIỆM NGŨ PHÚC Cung Kiền : Cung này gọi là Cung Hoàng Bí (thuộc nước Lỗ), là Châu Ký, gồm các khu Tuất, Kiền, Hợi. Cung Cấn : Cung này gọi là Cung Hoàng Thủy (thuộc nước Yên), là Châu Thanh. gồm các khu Sửu, Cấn, Dần. Cung Tốn : Cung này gọi là Cung Hoàng Thất (thuộc nước Thịnh, Đông Ngô), là Châu Dương, gốm các khu Thìn, Tốn, Tị. Cung Khôn : Cung này gọi là Cung Hoàng Đỉnh (thuộc các nước Tần, Tấn), là Châu Dương, gồm các khu Mùi, Khôn, Thân. Trung Cung : gọi là Cung Huyền Thất (thuộc Kinh đô Lạc Dương), gồm các khu Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
HOÀNG THỦY HOÀNG THẤT HOÀNG ĐÌNH HUYỀN THẤT HOÀNG BÍ
1849 - 1893 1894 - 1938 1939 - 1983 1984 - 2028 2029 - 2073
Bảng 72. BẢNG THỜI GIAN CHO NGŨ PHÚC (LÀNH)
II - CÁC SAO TỨ THẦN, THIÊN ẤT, DỊA ẤT, TRỰC PHÙ Nếu Ngũ Phúc mang đến cái lành. thì theo nguyên lý Âm Dương, trong học thuyết Thái Ất phải xuất hiện những nhân tố mang đến cái dũ khi đạo lý suy đồi : đó là các Sao Tứ Thần. Thiên Ất, Địa Ất. và Trực phù.
A - SAO TỨ THẦN Theo Lê Quý Độn, Sao Tứ Thần thuộc Thủy, Sao Tứ Thần vão nước nào có dạo thì nước đó thịnh, vào nước nào vô đạo thì nước đó bai vong, ró binh đao. hạn hán, lụt lội, nhân dân giết hại lần nhau.
B - SAO THIÊN ẤT Sao Thiên Ất thuộc Kim. Sao Thiên Ất đến nước nào thì tại nước đó binh đao khởi lên.
C- SAO ĐỊA ẤT Sao Địa Ất thuộc Thổ. Sao này đến Cung nào thì sẽ gây binh đao tại Cung đó. gây đói khát, mất mùa. Đến nước vô đạo thì binh đao càng lớn, càng dù dội. •
D - SAO TRỰC PHÙ Sao Trực Phù thuộc Hỏa. Đó là Sao "Sứ Tinh của Trời", được sai khiến để xem Thiện Ác trong dân gian. Nếu Sao này đến nước vô đạo thì sẽ có hạn lụt, nhân dân ly tán, xảy ra lắm tai ương.
CÁC NGUYÊN TỨ THẦN THIÊN ẤT ĐỊA ẤT TRỰC PHÙ
Th. Nguyên Dần Mùi Tuất Ngọ Tr. Nguyên Tuất Mão Ngọ Dần Hạ Nguyên Ngọ Giáng Cung Dần Tuất
Bảng 73.. BÁNG CUNG KHỞI DIỂM CỦA CÁC SAO TÍ THẦN, THIÊN ẤT, ĐỊA ẤT, TRỰC PHÙ
E - CÁCH AN CÁC SAO TỨ THẦN, Thiên ẤT, ĐỊA ẤT, TRỰC PHÙ Các Sao nói trên khởi từ những Chi xác định trong từng Thượng Nguyên, Trung Nguyên, Hạ Nguyên (Bảng 74)
NĂM TỨ Thần THIÊN ẤT ĐỊA ẤT TRỰC Phù
Thượng Nguyên
| 1864 | Dần | Mùi | Tuất | Ngọ |
|---|---|---|---|---|
| 1865 | Dần | Mùi | Tuất | Ngọ |
| 1866 | Dần | Mùi | Tuất | Ngọ |
| 1867 | Mão | Thân | G. Cung | Mùi |
| 1870 | Thìn | Dậu | M.Đng | Thân |
| 1873 | Tị | Tuất | N.Dng | Dậu |
| 1876 | Ngọ | G.Cung | Dần | Tuất |
| 1879 | Mùi | M.Đng | Mão | G.Cung |
| 1882 | Thân | N.Dng | Thìn | M. Đng |
| 1885 | Dậu | Dần | Tị | N. Đng |
| 1888 | Tuất | Mão | Ngọ | Dần |
| 1891 | G. Cung | Thìn | Mùi | Mão |
| 1894 | M.Dng | Tị | Thân | Thìn |
| 1897 | N.Dng | Ngọ | Dậu | Tị |
| 1900 | Dần | Mùi | Tuất | Ngọ |
| 1903 | Mão | Thân | G.Cung | Mùi |
| 1906 | Thìn | Dậu | M. Đng | Thân |
| 1909 | Tị | Tuất | N.Đng | Dậu |
| 1912 | Ngọ | G.Cung | Dần | Tuất |
| 1915 | Mùi | M.Đg | Mão | G.Cung |
| 1918 | ! Thân | N.Dng | Thìn | M.Đng |
| 1921 | Dậu | Dần | Tị | N. Đng |
| 1922 | Dậu | Dần | Tị | N.Đng |
| 1923 | Dậu | Dần | Tị | N. Dng |
Bàng 74. BẢNG AN CÁC SAO Tứ THẦN, THIÊN ẤT. DỊA ẤT, TRỰC PHÙ, THƯỢNG NGUYÊN
Mặt khác, các Cung có trình tự sau : - Cung Dần, số 1, Châu Kỷ, - Cung Mão, số 2, Châu Kinh, - Cung Thìn, số 3, Châu Duyện, - Cung Tị, số 4, Châu Tư, - Cung Ngọ, số 5, Châu Dự, - Cung Mùi, số 6, Châu Ung, - Cung Thân, số 7, Châu Lương, - Cung Dậu, số 8, Châu Ích, - Cung Tuất, số 9, Châu Dương,
số 10, Châu Giao, - Cung Hợi hay Giáng Cung (G.Cung), số 11, Châu Thanh, - Cung Tý hay Minh Đường (M.Đng), số 12, Châu Ký. - Cung Sửu hay Ngọc Đường (N.Đng), Từ các tư liệu trên, khi đã biết Cung khởi cho mỗi Sao nói trên theo Thượng, Trung, Hạ Nguyên, ta có thể an các Sao đó vào các Cung khác nhau theo thứ tự vòng quanh :
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, Giáng Cung, Minh Đường, Ngọc Đường, 1, 2, 3... (Bảng 75)
Tứ THẦN THIÊN ẤT ĐỊA ẤT TRỰC PHÙ NẦM
Trung Nguyên
Dần Tuất Mão Ngọ 1924
T Tuất Dậu Tị N.Đng 1983
Hạ Nguyên
Dần T Tuất G.Cung Ngọ 1984
Dậu Tị N.Đng Ngọ 2043
Bảng 75. BẨNG AN CÁC SAO TỨ THẦN, THIÊN ẤT, ĐỊA ẤT, TRựC PHÙ,
TRUNG VÀ HẠ NGUYÊN
III - QUÂN Cơ, THẦN Cơ, DÂN cơ
A - QUÂN Cơ
Quân cơ biểu thị chữ Thời - Thiên cơ cho nhà vua. Sao Quân cơ đi thuận theo 12 Cung (Địa chi) của Thiên Bàn Thái Ất, Quân cơ đến địa phận, khu vực nào thì mùa màng được, không có loạn lạc, tướng khỏe, quân mạnh, vua sửa đức độ, trên hợp với Đạo Trời, dưới thuận với lòng dân.
Quân cơ khởi từ Ngọ, mỗi Cung trụ lại 30 năm, 10 năm đầu cho Lý Thiên, 10 năm sau cho Lý Địa, và 10 năm cuối cho Lý Nhân. Quân cơ đi một vòng của Thiên Bàn trong 30 X 12 = 360 năm.
Các phép tính thời gian về Quân cơ đưa đến Bảng 76 sau :
| NGỌ | MÙI | THÂN | DẬU | TUẤT | HỢI | TÝ | sửu | Dần | MÃO | THÌN | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1922 | 1925 | 1928 | 1931 | 1934 | 1937 | 1904 | 1907 | 1910 | 1913 | 1916 | 1919 |
| 1958 | 1961 | 1964 | 1967 | 1970 | 1973 | 1940 | 1943 | 1946 | 1949 | 1952 | 1955 |
| 1994 | 1997 | 2000 | 2003 | 2006 | 2009 | 1976 | 1979 | 1982 | 1985 | 1988 | 1991 |
| 2030 | 2033 | 2036 | 2039 | 2042 | 2045 | 2012 | 2015 | 2018 | 2021 | 2024 | 2027 |

IV - MỐI QUAN HỆ GIỮA THÁI ẤT, NGŨ PHÚC, QUÂN Cơ, THẦN Cơ, DÂN cơ, TỨ THẦN, THIÊN ẤT, DỊA ẤT, TRựC PHÙ
- Nếu Ngũ Phúc cùng Cung với Quân Cơ thì nhà vua có phúc thọ. khi giao hợp với Hoàng Hậu sẽ sinh ra con trai. Ngũ Phúc xung đối với Quân Cơ (hai vị trí đối xứng tâm với nhau trên Thiên Bàn) thì nhà vua đâm ra càn rỡ.
- Nếu Ngũ Phúc cùng Cung với Thần Cơ. thì các quan Tế Tướng. Phụ tướng được phúc lợi. Nếu Cung khởi đấu của Ngũ Phúc và Thần Cơ là như nhau thì hiến tướng sẽ sinh ra ở nhà quý nhân.
- Nếu Ngũ Phúc đồng Cung với Dân Cơ, thì thiên hạ thanh bình. Nếu Cung khởi đầu của Ngũ Phúc và Dân Cơ là như nhau thì quý nhân sẽ sinh ra ở nhà thường dân.
- Nếu Ngũ Phúc cùng Cung với Tứ Thần thì phúc (do Ngũ Phúc) sẽ giảm. Trong trường hợp này, nếu gặp phải năm Kim (tức là năm Canh, Tân) thì có binh đao, trộm cướp. Nếu gặp phải năm Thủy (Nhâm, Quý), thì sẽ có mưa dầm lũ lụt. Nếu gặp phải năm Thổ (Mậu, Kỷ), thì sẽ có bệnh dịch. Nếu gặp phải năm Hỏa (Bính, Đinh) thì sẽ có hạn hán, sâu bệnh.
- Nếu Quân cơ ở tại Cung Âm mà lại xung đối (đối xứng qua tâm của Thiên Bàn) với Ngũ Phúc thì vua bị khắc chế, có việc khởi do nữ gay nên, hoặc do giặc cỏ muốn cướp ngôi.
- Nếu Thái Ất đồng Cung với Tứ Thần hay Thiên Ất, hay Địa Ất, hay Trực Phù thì tai họa biến thành hạnh phúc, do tai họa này sẽ chuyển sang địa phận đối xứng với địa phận của Thái Ất, tại địa phận đối xứng này sẽ có lũ lụt và hạn hán (ở đây cần nói rõ về khái niệm địa phận hay không gian trong các học thuyết cổ Đông phương 1 Trước hết, cần xác định Trung tâm, tương ứng với Trung Cung của Thiên Bàn, đó hoặc là Thủ đô một nước, hoặc là phòng tiếp khách trong gia đình. Còn đối với toàn bộ hành tinh ?
Sau đó, địa phận được xác định theo phương hướng trên Thiên Bàn).
- Nếu Thần Cơ đồng Cung với Thái Ất thì sẽ có thái độ ngang ngược, bất nghĩa.
- Nếu Thần Cơ đồng Cung với Dân cơ thì người hiền được tiến cử, dân yên ổn, chính sự hòa bình.
- Nếu Thần Cơ đồng Cung với Địa Ất thì phận da có nhiều việc về thổ công.
- Nếu Thần Cơ đồng Cung với Trực Phù thì nghĩa lễ không được tôn trọng, dân chúng không có chỗ dựa, gặp phải tai ương.
- Nếu Thần Cơ đồng Cung với Tứ Thần thì phu dịch, thuế má nặng nể, sẽ có lụt lội.
- Nếu Dân Cơ đồng Cung với Thái Ất thì sẽ có binh đao, trộm cướp, đói rét, người giết người, nhân dân không được yên.
- Nếu Dân Cơ đồng Cung với Địa Ất thì đất đai sẽ bị thương tổn, nhà nông mất mùa, nhiều bệnh tật...
- Nếu Dân Cơ đồng Cung với Trực Phù thì có nắng hạn, hỏa tai, sâu bọ hại mùa màng, trộm cướp hoành hành.
- Nếu Dân Cơ đồng Cung với Tứ Thần, thì sẽ có lụt lội, mất mùa, đói khát.
V - ĐẠI DU THÁI ẤT
Đại Du Thái Ất là sức mạnh tổng hợp của các Khí của Thất Tinh trong Chòm Sao Bác Đầu. Đại Du tuần hành trên 8 Cung của Bát Quái, nhưng không vào Trung Cung. Đại Du nằm tại mỗi Cung 36 năm, 12 năm đầu dành cho Lý Thiên, 12 năm sau cho Lý Địa, và 12 năm cuối cho Lý Nhân. Như thế chu kỳ một vòng của Đại Du Thái Ất là 288 năm.
A - CHỨC NĂNG CỦA SAO ĐẠI DU THÁI ẤT
Theo cổ nhân, Đại Du Thái Ất có chức năng "điều chỉnh chương trình của Trời Đất" trên hành tinh chúng ta. Nếu cần, theo cổ nhân, sẽ có sự trừng phạt.
Trong sách nói trên của Lê Quý Đôn có đoạn :
"Nếu Đại Du Thái Ất ồ Cung Dương (8, 3, 4, 9) thì tai họa sẽ xảy ra tại các nước Thục, Hán thuộc Trung Nguyên, do Trung Nguyên là nước thuộc Dương (Dương chống Dương, NHP), còn các rợ ở phía Bác (Bắc là Âm, NHP) thì được yên ổn.
" Nếu Đại Du Thái Ất ở Cung Âm (2, 7, 6, 1) thì các rợ phía Bắc có thể có tai biến, còn Trung Nguyên sẽ được yên tĩnh."
- Nếu Ngũ Phúc đồng Cung với Đại Du Thái Ất thì phúc do Ngũ Phúc sẽ giảm đi một nửa.
- Nếu Thần cơ đồng Cung với Đại Du Thái Ất thì phúc do Ngũ Phúc sẽ giảm đi một nửa.
- Nếu Thần cơ đồng Cung với Đại Du Thái Ất thì việc xử kiện hình ngục không được công bằng, nhà nông mất mùa, nước lũ hạn hán, tật dịch, đói khát không thể nào lường được.
- Nếu Dân cơ đồng Cung với Đại Du Thái Ất thì sẽ có loạn lạc, binh lửa, lũ lụt, hạn hán, phúc tan, dân nát, có hiện tượng lưu vong.
- Nếu Đại Du Thái Ất đồng Cung với Tứ Thần thì sẽ có lụt lội, đói rét.
- Nếu Đại Du Thái Ất đồng Cung với Địa Ất thì sẽ cố giặc dã, trộm cướp, sâu bệnh.
- Nếu Đại Du Thái Ất đồng Cung với Trực Phù thì sẽ có binh đao, hỏa hoạn, hạn hán, lụt lội.
- Do Đại Du Thái Ất trụ tại mỗi Cung 36 năm, nên ảnh hưởng của Sao này cho Cung sở chủ phân phối như sau :
a) Các năm thứ 1, 11, 21, 31 thì Đại Du Thái Ất có ảnh hưởng bất lợi cho nhà vua, b) Các năm thứ 2, 12, 22, 32 thì ảnh hưởng bất lợi cho Vương hầu, c) Các năm thứ 3, 13, 23, 33 thi ảnh hưởng bất lợi cho Hậu Phi,
