DL Sứ Mệnh Đức Di Lặc

Tập 9 — Mục lục

Tập 9

Mục lục — trang 61–80

Tập 9 · tr. 61 – tr. 80·Xem ảnh quét
Tập 9 · tr. 61

5. Phỏng vấn

Có rất nhiều bạn đọc trong nước và ngoài nước rất chăm chú theo dõi các bước phát triển của công trình của G.S, với tất cả sự khao khát, ngưỡng mộ, niềm tin cậy và hy vọng của họ. Đề nghị G.S. có những lời tâm huyết với những bạn đọc đó.

Nguyễn Hoàng Phương

Tôi đã và đang tiếp tục sáng tạo trong những hoàn cảnh cực kỳ kỳ diệu, nhưng cũng đầy khó khăn, ai cũng biết. Nhưng tôi lượng thấy mình dủ can đảm vượt qua được các khó khăn Khả năng này một phần là hệ quả của niềm tin cậy và hy vọng của bạn đọc mà tôi đã nhận Cụ thể là tôi được biết trong và ngoài nước có nhiều bạn đọc quan tâm và theo dõi đến công trình trên, và đã biểu hiện thái độ cổ vũ ở nhiều mặt. Cá nhân tôi xin chân thành cảm ơn - Nhưng nói cảm ơn từ cá nhân tôi thì chưa đủ.

Vì mang đậm tính dân tộc, công trình này là một đóng góp xứng đáng của khoa học Việt Nam cho khoa học thế giới, theo Cơ Trời, và tạo nên Nguyên khí của đất nước...

Một lần nữa, tác giả xin trân trọng cảm ơn các bạn, vì các bạn đã quan tâm đến những niềm tự hào của dân tộc, của các thế hệ con em mai sau..

Anh Soạn thân mến ! Năm lần phỏng vấn liên tục về một công trình khoa học chỉ của một tác giả. Tôi không biết nói sao với thái độ tâm huyết này của Anh, và Anh tâm huyết không phải chỉ vì cá nhân tôi..

Xin trân trọng cảm ơn Anh trong cuộc chạy việt dã không biết mỏi mệt này của cả tôi và của cả Anh.

NGUYỄN ĐỈNH SOẠN

65 - 66

Tập 9 · tr. 62

D1 AA

Nhà Văn

SƠN TÙNG

Hai Câu Thơ lặng về

Công trình

Octonion

CƠ SỞ PHỔ QUÁT CỦA

KHOA HỌC

Đông Tây

Thống Nhất

67

Tập 9 · tr. 63

HỢP

Th

Tập 9 · tr. 64

KHAI HỢP

ĐẠO HÒA

Truyền Thế

Kinh Giới

Thiên Nhất

Miên Chân

Kỷ Nư

Mận Ngo Van, Dần SON Bdi TÙNG But 1

9

9

8

Tập 9 · tr. 65

la,

Nhà Văn

KUÂN CANG

' Cam Nghĩ

Công trình

Octonion CƠ SỞ PHỔ QUÁT CỦA KHOA HỌC

Đông Tây Thống Nhất

Tập 9 · tr. 66

Bước phát triển mới của Dịch học ở Việt Nam Về tác phẩm mới của Nguyễn Hoàng Phương

OCTONION. CƠ SỞ PHỔ QUÁT CỦA KHOA HỌC ĐÔNG TÂY THỐNG NHẤT

I CÓ MỘT NỀN DỊCH HỌC Ở VIỆT NAM

Kinh Dịch là một học thuyết nghiên cứu về Vũ trụ và Con người.Trong Kinh Dịch có hàm chứa những hiểu biết của con người về những nguyên lý cấu trúc và vận hành của Vũ trụ. những nguyên lý cấu trúc và vận hành của Cơ thể Người, của Con người trong Vũ trụ và trong Cộng đồng người. Kinh Dịch có khả năng ứng nghiệm kỳ diệu trong nhiều khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng như Triết học, Xã hội học, Tâm Lý học, Vật lý học, Sinh học, Đông Y học, Thời Châm học, Dự đoán học... Kinh Dịch có ảnh hưởng sâu sắc trong các cơ chế Kiến trúc hòa hợp giữa Thiên nhiên, Môi trường và Cuộc sống con người : trong các thiết chế quốc gia qua các Triều đại, các Thời đại ở Phương Đông chúng ta. Kinh Dịch bao gồm cả một học thuyết về Cơ chế vận hành và ứng xử tối ưu trong các mối quan hệ Trời, Đất, Người và đặc biệt trong các quan hệ Người... Người ta còn gọi Kinh Dịch là Văn Minh Kinh Dịch, với ý nghĩa là học thuyết này đã phát minh ra Công cụ của nó, là các Hệ thống 64 Quẻ Kinh Dịch và công cụ đó đã tạo nên những thành tựu gắn với sự phát triển của Con Người và Xã Hội.

Kinh Dịch khởi nguồn từ Trung hoa với những đại diện kiệt xuất của nó là Phục Hy (4477- 4363 trước CN), Văn Vương ((khoảng 1.000 năm sau Phục Hy), sau này là Khổng Tử (551) (trước CN và các học giả khác. Do sự phát triển rộng rãi của nó, Kinh Dịch trở thành một học thuyết của Phương Đông.

Kinh Dịch vào Việt Nam theo con đường Hán học. Trong các môn thi chữ Hán ngày xưa có Ngũ Kinh, Tứ Thư. Đứng đầu Ngũ Kinh là Kinh Dịch. Mưn lâu thấm sửu chủ yếu do sức thuyết phục mạnh mẽ của nó, và do " cốt hương vị huyền bí, thẩm kín của những tư lượng Đông phương" (chữ dùng củn Nguyễn Hoàng Phương) len lõi vào mạch nghĩ, tăm hữu người Việt mã những ưu thể triết học của Phương Đông luôn nổi trội trong hệ thống hành vi người Việt. Chính từ các đã xuất hiện một cộng dỡng người Việt nỗi tiếp nhau đưa Kinh Dịch vào Việt Nam dưới các hình thức biến dịch, khảo cứu, ứng dụng và đã có đấu hiệu của những công trình nghiên cứa cổ giả trị phát triển Văn minh Kinh Dịch ở Việt Nam.

Những lư liệu để lại cho biết ớt nhất tử Thể kỷ 16, trong thư của Nghtwln Hình Khiếm (1491- 15H3) đã có nội dung triết học theo Kinh Dịch với nhiều luận điểm về ăm dượng, biển dịch... cũng với những giai thoại về Sảm Ký dự doẩn đũng những việc xảy ra cho cộng đồng hàng mấy trầm năm sảo, ứng dụng từ thuyết Thái Ất, khởi nguồn từ Kinh Dịch.

Thể ký 17 cổ Đào Duy Từ (1572- 1634) trong việc tham gia thiết chế “Tiểu Nguyễn và trong sách dùng hinh, họ Hồ Trưởng Khu Cơ, thể hiện nhiều quan điểm bắt nguồn từ Kinh Dịch.

Ixix

Tập 9 · tr. 67

CUNG BAN DOC

Nếu cuốn sách nhiều tập

TÍCH HỢP DA VÂN HOÁ ĐÔNG TÂY, CHO MỘT CHIẾN LƯỢC GIÁO DỤC TƯƠNG LAI

(1997) là thuộc Thiên niên kỷ II, thì cuốn sách nhiều tập

Tr Minh Thác Thác Thác

(2000 - 2001) này - dày trên 1000 trang - lại để cập đến phần lớn các bộ mặt

* Thánh Thiện,

* Nhất Nguyên của chiến lược Khoa học Tâm linh thuộc Thiên niên Kỷ III.

Với một nội dung một khoa học mới như thế, người bình thường không sao biết và viết được, nếu không có

• Một sự Chỉ đạo cơ bản của Trời Đát,

* Một sự Truyền năng Siêu việt và

* Mộc tiềm năng Trí tuệ - Trực giấc hết sức đặc biệt T

Đối với các nhà nghiên cứu Khoa học Tâm linh, nội dung này là hết sức cơ bản dễ có thể chọn con đường lao động dúng dẫn cho

• Sự Tiến bò của Nhân loại.

• Vinh quang của Đất nước,

* Sự nghiệp Lao động của chính mình và cho con chầu mai sau.

Xuất xử từ các thông tin bắt từ Côi Phật - Chồm Sao Bắc Đầu - quê hương của Nhân loại chúng ta - cuốn sách Trời này là Ấn Huệ của Trời Đất và Tổ Tiên cho Nhân loại và Việt Nam chúng ta.

Vay mong chúng ta nghiên cứu, bổ sung nội dung này với thái độ hết sức trăn trợngChúng tôi cấn trình bảy rõ là do tẩm xa thỏi gian (vải nghìn năm) của nội dung cuốn 'sách, ở một số phần chỉ chúng tôi chỉ có thể với tới các khung Duy lý toán học khỏ khan của chúng, như ở các chung XIV, XVI, XVII, XXVI, XXVII...

Còn phần Thực tiền -Minh triết 7

Cũng có thể trong vải trường hợp suy ra trước phần thực tiền, nhung nói chung. khỏ mà Tiên tri được mọi việc, mà cần phải dành vinh quang này cho cho các thể hệ mai

Xin trần trọng cẩm ơn.

NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG

Nhả A7 / 46 - 48, Phương Mai, Đồng Đa, Hà Nội

ĐT : (04) 8 524 012.

Email : jgnhinangffổ @hn.vnn.vn-

Tập 9 · tr. 68

Thế kỷ 18 có Lê Quý Đôn (1726 - 1784) với tác phẩm Thái Ất Dị Giản Lục, trình bày lý thuyết và ứng dụng học thuyết Thái Ất. Cuốn sách khảo cứu này ngay trong thống kê trước tác, của Lê Quý Đôn năm 1977(Tràn tập Lê Quý Đôn) cũng chưa nói tới,, ngày nay mới tìm, được : Lê Quý Đôn nói rõ quan điểm của mình "Bởi làm Đại Tướng mà không biết sách ấy. thì sẽ mờ tối ở cách đánh hay giữ, tiến hay thoái. không lấy gì mà quyết đoán các nghi mưu khi ra ngoài cánh cửa. Tể Tướng mà không biết sách ấy, thì sẽ nhầm ở sự động hay tĩnh, cất lên hay gạt xuống, khó lấy gì để quyết đoán những luận nghị lớn trong Triều Đình "

Thế Kỷ 18 còn có Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720 - 1791), với bộ Y Tông Tâm Lĩnh. 66 cuốn khảo cứu về Đông Y học dưới ánh sáng của Kinh Dịch, trong đó điều tâm đắc nhất của nhà Đại Danh Y Việt Nam là vai trò của Mệnh Môn hoả nằm giữa hai quả thận, Theo Lê Hữu Trác, đó là Mệnh của Con người, được biểu diễn bằng quẻ Khảm của Kinh Dịch, sánh ngang với vai trò của Tâm được biểu diễn bằng quẻ Ly. Ông đánh giá : " Mệnh Môn là Thái Cực trong thân người".

Thế kỷ 20 là một bước phát triển rầm rộ các tác giả và tác phẩm nghiên cứu về Kinh Dịch ở Việt Nam. Trước hết phải kể đến Phan Bội Châu ((1867 - 1940). Nhà chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu (PBC) sau những năm bôn tẩu tìm đường cứu nước, năm 1925 bị địch bắt đem về giam, lỏng ở Huế, trong khoảng 10 năm trời trong cảnh cô đơn, đã mài miệt biên dịch khảo cứu, soạn xong bộ Chu Dịch Quốc Âm Diễn Giải (CDQADG), thận trọng suy ngẫm từng câu. từng lời. Lại cho chép làm ba bản thảo giao cho người nhà gìn giữ, tính ra hơn 1.000 trang in. Gần 30 năm, sau khi ông qua đời, bộ Chu dịch lần đầu tiên được in vào năm 1909C Nhà Xuất bản Khai Trí - Sài Gòn), Phải đợi đến năm 1990, nửa thế kỷ sau, người đọc hai miền Nam Bắc mới được tiếp xúc với bộ khảo cứu công phu ấy, gồm 2 tập 7 và 8, trong Toàn tập Phan Bội Châu (NXB Thuận Hóa- Huế). Ông đã dốc vào đây không chỉ tâm huyết và năng lực Hán học uyên thâm, mà còn chú giải một cách tâm đắc những suy ngẫm máu thịt của cả cuộc đời mình. Những đoạn Phụ Chú gắn với từng Quẻ hoặc Hào, giống như những mảng màu sống động trong một bức tranh hoành tráng lộng lẫy, mà nếu tách riêng ra bản thân chúng đã là những tác phẩm nhỏ. Trong một thiên bình luận cuối sách, ông kêu gọi thiết thu... -. "Chon nhan cất rún ở phía nam dám đất Á Châu, mà cớ sao (chúng ta) bỏ tủ ngọc kho vàng đó duy sản của tổ tiên lưu truyền".

Song song với thời gian PBC âm thầm làm CDQADG ở Huế, nhà văn Ngô Tất Tố (1894 cho là đầy đủ hơn hết, gom góp hầu khắp các lời chú giải của Tiên nho, đặc biệt có chú giải của hai tay cự phách là Trình Di và Chu Hy thường được các đời sau công nhận là sáng rõ hơn cả. Khác với PBC. NTT không có những chú giải riêng, trừ một bài dẫn ở đầu sách, ông chủ trương dùng một lối văn cổ, chuyển đến bạn đọc Việt Nam nguyên vẹn lời văn và phong cách dẫn giải của cổ nhân, trong đó không tránh khỏi những lời " chúng chẳng".. " rời rã,"dại liễn ((chữ dùng của NTT). Nhưng chính vì vậy mà chúng ta có dịp may mắn và thú vị được tiếp cận với nguyên văn vừa hoang sơ, vừa sâu xa của Kinh Dịch.

Ixx 16

Tập 9 · tr. 69

Thế kỷ 18 có Lê Quý Đôn (1726 - 1784) với tác phẩm Thái Ất Dị Giản Lục, trình bày lý thuyết và ứng dụng học thuyết Thái Ất. Cuốn sách khảo cứu này ngay trong thống kê trước tác của Lê Quý Đôn năm 1977(Tràn lập Lê Quý Đôn) cũng chưa nói tới, ngày nay mới tìm được : Lê Quý Đôn nói rõ quan điểm của mình "Bởi làm Đại Tướng mà không biết sách ấy. thì sẽ mờ tối ở cách đánh hay giữ, tiến hay thoái, không lấy gì mà quyết đoán các nghi mưu khi ra ngoài cánh cửa. Tể Tướng mà không biết sách ấy, thì sẽ nhầm ở sự động hay tĩnh, cất lên hay gạt xuống, khó lấy gì để quyết đoán những luận nghị lớn trong Triều Đình "

Thế Kỷ 18 còn có Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720 - 1791), với bộ Y Tông Tâm Lĩnh, 66 cuốn khảo cứu về Đông Y học dưới ánh sáng của Kinh Dịch, trong đó điều tâm đắc nhất của nhà Đại Danh Y Việt Nam là vai trò của Mệnh Môn hoả nằm giữa hai quả thận. Theo Lê Hữu Trác, đó là Mệnh của Con người, được biểu diễn bằng quẻ Khảm của Kinh Dịch, sánh ngang với vai trò của Tâm được biểu diễn bằng quẻ Ly. Ông đánh giá : " Mệnh Môn là Thái Cực trong thân người".

Thế kỷ 20 là một bước phát triển rầm rộ các tác giả và tác phẩm nghiên cứu về Kinh Dịch ở Việt Nam. Trước hết phải kể đến Phan Bội Châu ((1867 - 1940). Nhà chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu (PBC) sau những năm bôn tẩu tìm đường cứu nước, năm 1925 bị địch bắt đem về giam lỏng ở Huế, trong khoảng 10 năm trời trong cảnh cô đơn, đã mài miệt hiển dịchkhảo cit, soạn xong bộ Chu Dịch Quốc Âm Diễn Giải (CDQADG), thận trọng suy ngẫm từng câu. từng lời. Lại cho chép làm ba bản thảo giao cho người nhà gìn giữ, tính ra hơn 1.000 trang in. Gần 30 năm, sau khi ông qua đời, bộ Chu dịch lần đầu tiên được in vào năm 1960(Nhà Xuất bản Khai Trí - Sài Gòn), Phải đợi đến năm 1990, nửa thế kỷ sau, người đọc hai miền Nam Bắc mới được tiếp xúc với bộ khảo cứu công phu ấy, gồm 2 tập 7 và 8, trong Toàn tập Phan Bội Châu (NXB Thuận Hóa- Huế). Ông đã dốc vào đây không chỉ tâm huyết và năng lực Hán học uyên thâm, mà còn chú giải một cách tâm đắc những suy ngẫm máu thịt của cả cuộc đời mình. Những đoạn Phụ Chú gắn với từng Quẻ hoặc Hào, giống như những mảng màu sống động trong một bức tranh hoành tráng lộng lẫy, mà nếu tách riêng ra bản thân chúng đã là những tác phẩm nhỏ. Trong một thiên bình luận cuối sách, ông kêu gọi thiết thu -. "Chữn nhau cất rún ở phía nam dám đất Á Châu, mà cớ sao (chúng ta) bỏ tủ ngọc kho vàng đó duy sản của tổ tiên lưu truyền".

Song song với thời gian PBC âm thầm làm CDQADG ở Huế, nhà văn Ngô Tất Tố (1894- 1954) cũng bỏ công phu dịch trọn bộ Kinh Dịch với 780 trang in khổ 15 x 23, 5 cm (NXB TP Hồ Chí Minh, tái bản năm 1991). Giữa vài chục bộ Kinh Dịch mà ông biết, Ngô Tất Tố (NTT) đã chọn bộ Chu Dịch Đại Toàn của Hồ Quảng và Âu Dương Tư, đời nhà Minh, mà ông cho là đầy đủ hơn hết, gom góp hầu khắp các lời chú giải của Tiên nho, đặc biệt có, chú giải của hai tay cự phách là Trình Di và Chu Hy thường được các đời sau công nhận là sáng rõ hơn cả. Khác với PBC. NTT không có những chú giải riêng, trừ một bài dẫn ở đầu sách, ông chủ trương dùng một lối văn cổ, chuyển đến bạn đọc Việt Nam nguyên vẹn lời văn và phong cách dẫn giải của cổ nhân. trong đó không tránh khỏi những lời " chúng chẳng", "ười rã. dột ngộc" ((chữ dùng của NTT). Nhưng chính vì vậy mà chúng ta có dịp may mắn và thú vị được tiếp cận với nguyên văn vừa hoang sơ, vừa sâu xa của Kinh Dịch.

Ixx

Tập 9 · tr. 70

Giữa Thế kỷ này, Việt Nam còn có một nhà nghiên cứu Kinh Dịch sắc sảo nữa, là Nguyễn Mạnh Bảo, NMB, Ông đã để dành 20 năm đọc hơn 50 pho sách cổ kim, 4 thứ tiếng Hoa, Nhật, Anh, Pháp, khảo cứu, biên soạn bộ sách Dịch Kinh Tân Khảo, gồm 7 tập, hơn 4.000 trang in khổ 15 x 13, 5 cm, do Nhà Xuất Bản Cổ Kim Thư quán- Sài Gòn ấn hành năm 1958. Đặc điểm cuốn biên khảo - mà tôi đang có trong tay - này là NMB đã lấy các khoa học hiện đại như Toán học, Thiên văn học, Nguyên tử học, và các thành tựu khoa học khác [làm sáng tỏ các nguyên lý về Vũ trụ và Nhân sinh do cổ nhân khám phá cách đây 6.000 năm. Cảm quan và động lực tinh thần để NMB làm được pho sách trên là lời tâm sự sau đây : Tôi cảm thấy man mác, một cái gì thiêng liêng sắp mất, một ánh quang minh của một nền văn hoá hầu tàn ". Như vậy, giới nghiên cứu và bạn đọc ham thích Kinh Dịch đến khoảng những năm 70 của Thế kỷ này đã có trong tay 3 bộ sách biên dịch, khảo cứu công phu có độ tin cậy cao và có những bản sắc riêng, có sức hấp dẫn riêng.

Cùng lúc đã xuất hiện hàng loạt nhà nghiên cứu đi sâu hoặc phổ biến Kinh Dịch, Thu Giang Nguyễn Duy Cần với các công trình khảo cứu như Dịch học tinh hoa, Lão tử Tinh hoa, Chu Dịch huyền giải, Tinh hoa đạo học Đông phương. Lê Văn Quán với Chu Dịch Vũ trụ quan giúp người đọc thời nay dễ dàng nắm bắt được cái tinh túy của Kinh Dịch. Qua cuốn sách Kinh Dịch đạo của người quân tử của Nguyễn Hiến Lê, với cách diễn giải bằng ngôn ngữ hiện đại, bạn đọc phổ thông có thể tiếp cận nhanh với Kinh Dịch, làm cái vốn ban đầu để đến với những tác phẩm đi sâu ngóc ngách hơn của Phan Bội Châu, Ngô Tất Tố, Nguyễn Mạnh

Bảo... Các công trình nghiên cứu Đông Y học dưới ánh sáng của Kinh Dịch chiếm một vị trí quan trọng với một tỉ lệ cao trong các sách nghiên cứu chuyên sâu. Ngoài bộ Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh đồ sộ của Lê Hữu Trác lần đầu xuất bản toàn tập (1987), bạn đọc có thêm các cuốn sách sau đây : Dịch học nhập môn của Đỗ Đình Tuán(với nội dung nghiêng về Đông Y học) : Học thuyết] âm dương và Phương dược cổ truyền của GS.TS Hoàng Tuấn : Thuyết Thủy Hoả (Mệnh Môn) trong Y học cổ truyền của Phó Đức Thảo ; Thời Châm cứu của Nguyễn Xuân Tiến : Khảo cứu về Tiên đề Âm Dương Ngũ Hành từ Kinh Dịch và Mô hình Kinh Mạch trong cơ thể người của Lê/ Khánh Trai : các sách về Châm cứu học của Nguyễn Tài Thu. Trương Thìn, Hoàng Bảo Châu, các công trình về Đông Y học dưới ánh sáng của Lý thuyết Tập mờ của Nguyễn Hoàng Phương và Trần Thị Lệ, các công trình nghiên cứu về cách tính Can Chi, Thời Châm của Nguyễn Văn Thang. Lê Thành Lân...

Đáng chú ý là có một học thuyết mang tên là Y Dịch Lạc Khí, sử dụng 64 quẻ Kinh Dịch của Văn Vương để biểu diễn 66 huyệt Ngũ Du ở các kinh chính, liên quan đến việc điều các khí trong cơ thể để chữa bệnh. Học thuyết này tưởng chừng như đã thất truyền nhưng đã được nhóm các lương y do ông Phan Văn Sĩ đứng đầu phát hiện và truyền bá ((hiện nay là ông Nguyễn Văn Ngọc ở TP Hồ Chí Minh). Học thuyết này cho biết mỗi năm sinh ra một người liên quan đến một quẻ Kinh Dịch tương ứng, quẻ này lại cho biết chỗ yếu cơ bản của người ấy dễ mắc bệnh gì nhất, do đó phải phòng chữa bệnh như thế nào. Nó chưa được giới khoa học công nhận, nhưng gần đây vai trò của Y Dịch Lạc Khí bỗng nổi lên khi được GS. Nguyễn Hoàng Phương sử dụng như một cầu nối để kết hợp với hệ sắp xếp 64 quẻ Văn Uwfne (rã ôi

Ixxi

Tập 9 · tr. 71

tính) của Bác sĩ M.Sknnhegio (Martir Schonherger, một nhà nghiên cứu phương Tây), cho thấy rằng có khả năng sử dụng các hệ thống quẻ Kinh Dịch để tìm thêm 4 Axít Amin mới. cộng thành 24 Axít Amin trong hệ Mã Di truyền thay cho 20 Axít Amin như đã biết Có nghĩa là đã phát hiện thêm Kinh Dịch có khả năng ứng dụng nào đó trong Di truyền học. văn minh Kinh Dịch như Thái Ất Độn Giáp Kỳ Môn của Nguyễn Mạnh Bảo, Bát Tự Hà Lạc Cần phải kể đến một loạt công trình khảo cứu và biên dịch về Dự Đoán học khởi nguồn từ của Học Năng, Mai Hoa Dịch ((của Thiệu Khang Tiết do Ông Văn Tùng dịch, (“Chu Dịch và Dự Đoán học ((của Thiệu Vĩ Hoa do Mạnh Hà dịch) là những công trình học thuật có uy tín đối với người nghiên cứu Kinh Dịch nước ta (Trong số các tác phẩm kể trên chỉ tiếc cuốn Mai Hoa Dịch, một trước tác có giá trị cao lần đầu tiên ấn hành ở nước ta (bản in lần thứ nhất)) lại có quá nhiều lỗi về biên dịch không thể bỏ qua được).

Trên đây chúng tôi mới lướt qua các tên tuổi và các công trình, biết rằng còn thiếu sót rất nhiều, cốt để chúng ta hình dung được cái không khí sống động của các nhà Dịch học Việt Nam, và xung quanh họ thực sự có một công chúng ham hiểu biết hướng về những di sản quý báu của Đông phương.

II NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG VÀ BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI CỦA DỊCH HỌC VIỆT NAM

Dường như để thâu tóm các tinh hoa nghiên cứu Kinh Dịch ở Việt Nam, sàng lọc và nâng cao một bước hơn nữa, năm 1995, được sự bảo trợ của Hội Khoa học và Kỹ thuật biển Việt Nam. Nhà Xuất Bản Giáo Dục - Hà Nội lại cho ra đời một công trình nhiều năm của GS Nguyễn Hoàng Phương Cuốn sách mang tên là Tích hợp đa văn hoá Đông Tây, cho một chiến lược : giáo dục tương lai (THĐVHĐT), ((900 trang khổ 26 x 18,5 cm tập trung nghiên cứu về Triết Đông phương, lấy Kinh Dịch làm cơ sở, sử dụng một công cụ toán học hiện đại là Toán Tập Mờ của L.Zadeh (Mỹ) và kết hợp với các Cận Khoa học (như Cận Vật lý. Cận Sinh học, Cận Y học..) để tìm hiểu và giải mã hệ thống cấu trúc của Kinh Dịch. Cuốn sách xuất hiện với tư cách một công trình nghiên cứu khoa học cơ bản, nêu lên các nguyên lý cơ bản của Triết Đông phương phương pháp luận, cấu trúc và các cơ chế của các hệ thống 64 quẻ Kinh Dịch trong Đông Y học, Thời Châm học, trong các học thuyết về Dự báo như Độn Giáp Thái Ă. Trình Tự Hà Lạc... Với một nội dung như thế, THĐVHĐT xứng đáng được coi như một công trình cuối thế kỷ của Dịch học Việt Nam. Trước khi xuất bản bằng tiếng Việt, Nhà Xuất Bản Thế Giới (Hà Nội) đã ấn hành phần chủ yếu của bộ sách trên bằng tiếng Anh, với tên " Cơ sở Triết Đông phương và Tập Mờ, Đông và Tây". Năm 1996, cuốn sách được tái bản lần này sách dày 1.200 trang, khổ 26 x 18,5 cm có bổ sung thêm các phần quan trọng : Các hệ 64 quẻ và cơ sở Di truyền, Phong Thủy.

Trong khi bộ sách trên còn chưa được đánh giá đầy đủ, Nguyễn Hoàng Phương đã không [dừng], ở đây, Ông tiếp tục khám phá và trong những thời điểm xuất thần cuối năm Đinh Sửu (1997), đầu năm Mậu Dần (1998) ông hoàn thành công trình mới :

Tập 9 · tr. 72

Triết Đông phòng Tiến Arể & các tuyến Toán - Sinh - Nhân văn, Truyền thống và Hiện đại

Sau này công trình này đổi lại tên :

Oiorian. Cơ sở phổ quát của Khoa học Đông Tây Thống nhất

Octonion. Universal Basis of thể East West Unified Science

Công trình dày khoảng 500 trang khổ lớn và được báo cáo tại Hội thảo Quốc tế về Việt Nam học tại Hà Nội trong những ngày 15 - 17 tháng 7 năm 1998%, tập Tập I. Triết Đông phương : Cấu trúc và Hình thức luận. Các tuyến Toán học. Công trình gồm ha lập :

Tập II. Triết Đông phương, Dịch và Tiến hoá, Tuyến Sinh học

Tập III. Triết Đông phương. Dịch và Tiến hoá, Tuyến Nhân văn

Trong công trình này, tác giả phát hiện được rằng cấu trúc ẩn trong Triết Đông phương là một Cấu trúc toán học cao cấp hiện đại, đó là đại số Cayley hay Octonion và như thế Triết Đông phương- vốn mang tính diễn dịch - đã có một cơ sở toán học chính xác như một số lý thuyết khoa học hiện đại Tây phương.

Các kết quả chính của công trình là :

L. Xác định được mối quan, hệ trong Triết Đông phương giữa cấu trúc Nhóm và các thuyế R phin tịnh thuyết 8 phần tử (thuyết Bát Hướng, thuyết Bát Môn...)

- Xác định được Hệ thống 9 Biểu tượng cơ bản của Chân Thiện Mỹ Đông phương và đặc biệt các hệ thống con của nó về Thiện và Ác qua các Quẻ của Kinh Dịch,

- Định hướng được Cấu trúc các Phương trình dẫn tới các Biểu tượng đó,

- Xây dựng Hình học cao cấp của các Biểu tượng đó.

Đây là một trong những đỉnh cao của công trình trên ;dưới góc độ Truyền thống và Hiện đại, Tích hợp đa văn minh Đông Tây.

Nói chung về mặt cấu trúc, qua công trình trên, Triết Đông phương trở thành, một Đại số hiện đại về Biểu tượng Hình thái cơ sở toán học này trang bị được cho Triết Đông phương những phương pháp luận và phương pháp rất hiện đại nhưng lại rất linh động, với những phương hướng rất mới mẻ về sự tiến hoá Sinh học, Toán học và Nhân văn ((chẳng hạn quá trình hình thành Chân Nhân - Đường Hara - Luân Xa - Tâm Thận..), theo tuyến Đơn nhất và Đa dạng của Triết Đông phương -

II. Hơn nữa Đại số Cayley chứa những nhân tố có thể vận dụng trong Lý thuyết Hạt cor hir

Kết quả này về hiệu lực của đại số Octonion cùng với khả năng phân loại Mã Di truyền đã dẫn tác giả đến việc đề xuất một mô hình Lý thuyết Phổ quát từ Đại số Octonion, chứa được các lĩnh vực khác nhau như Vật lý. Sinh học và Nhân văn :

Ixxii,

Tập 9 · tr. 73

Tiến tới một Khoa học Thống nhất Đông Tây :

(DingĐông Tây
KHOA HỌC NHÂN VÊNSINH HỌC : ĐI TRUYẾN, LUÂN XA, KINH HUYỆTKHOA HỌC VẶT LY
Cà MộT -ầ.CA MỘT của :Cá MỆT cia
Chân Thiện Mỹ.Chân Thiện Mỹ và Vật chấtVậr chai
Hệ mềm & Nguyên LýHệ nửa mến &Hệ cũng & Nguyên Lý
Phi Boi trungNguyên lý Bải trung - Phi Bỏi trungBài trung

(rích hảo của tại Hội thảo quốc tế về Việt Nam học)

Công trình cũng chứa nhiều phần ứng dụng, đặc biệt khi phân biệt Cát và Hung trong nhiều lĩnh vực như :

- Thuyết Bát Hướng giải thích được tại sao Phục Vị, Thiên Y, Phúc Đức, Sinh Khí là cát,

- Thuyết Địa Môn và Thiên Tinh trong Độn Giáp, giải thích được tại sao các Địa Môn : Khai. Hưu, Sinh, Thương là cát

- Thuyết về Thước Lỗ Ban, là một trong những thuyết khó hiểu nhất về tính Cái,Hung của các kích thước các cấu trúc Dương Trạch và Nội Thất (cửa, bàn ghế, tường.-.), chẳng hạn giải thích được tại sao các kích thước 13 - 52 mm(Tải Lộc)) 169- 208 mm ((Mỹ Thuận), 221 - 260 mm ((Quan Lộc). 377 - 416 mm (Tài Đức) là cát}

- Các loại mũ Kim Tự Tháp, có liên quan đến các cơ thể sâu nhất của nhân thể như Đường Hara, Chân Nhân với những quẻ 4 hào, 5 hào... mô tả những nội dung mà những quẻ 6 hào của Phục Hy và Văn Vương không biểu diễn được.

Công trình trên &là một sáng tạo mở đầu một Vũ trụ quan mới cho môn Thiền Niên Tỷ mối là Thiên Niên bị II. Đi là Thiển viền Lý Thiền Nhun hụp nhất, chuyển từ Thiên Niên kỷ Địu Nhuân lop nhui.

Những khẩm phí trên là một bước phát triển không riêng đối với Dịch học Việt Nam, mà ĐiỂU củ ý nghĩa que te

Điền tổi muốn nhấn mạnh là những khẩm phá đõ của Nguyễn Hoàng Phương cỡ vỏ như sà với khi học về các kỷ nguyên chong hạn (Tạp I). Nhưng cuối cũng gát lại thì tốt cả các nhân Mi sinh học có tính chất kỷ nguyên ấy lại tiểm lăng ngay IrawiE các huyệt, các luôn xa trong Kim thể chúng la ; ẩn hiện ngay trong các quê Dịch học 3 hàn, 4 hàn, 5 hảo, trong cấu trúc Mũ Kim Tự Tháp được ví như cái mấy tôn phât tóng đin vở mũng lượng, còn những quẻ dịch diện chỉ trên dõ thả giống như những linh kiện điện tử. Tải cả những cải xa với ấy văn hiện điện ngay sáng mất chúng ta hảng đêm khi chúng la nhin lên chòm sao Bắc Đầu, một chòm sao mã ánh sáng phải mi 49 thể kỷ mới tôi đức chúng la. Tổ tiên ông hà ta đầu có dãn khi để lại câu ca tong nha để choi hỏi sau dãy : Bạ ró đội gạo lên chản, Mộr có yồm măng ho hản cho ur.. Có nghĩa là câu ca ấy đã ghi lại một khả năng tiêm ẩn của con người : Có một

Lxxjv

Tập 9 · tr. 74

thả thứ năng Ma phong lợmg đồ nào đó, mà trước đây chúng ta gọi là bùa, có khả năng kỳ diệu phát ra một nàn đã bắt đối phương phải tuân theo ý muốn của la.

chúng Tôi có kiến cái duyên những làm người hàng xóm của Nguyễn Hoàng Phương, nên rất vui sướng chan thảo tập l của công thời trình điểm nói xuấ trên thần trong sáng tạo của ông. Bởi nếu ai đã cầm được hản học của người đòn xin cách đây hơn (Phần ố.000 khảảm năm phá là rối về Toán cho thấy những phát minh Dịch đại), thì không thể ngờ rằng nó được hoàn thành chỉ trong khốp vòng với những cấu trác Đọi số hiện Bà gian cà thim một năm sự Đinh Sửu. Còn tập II (Phần khám phá về Sinh học)) 10 thì ngãy, trong kết 2 thống thức vào đó cũng lc hích về đi sing. kỳ diệu. Cũng Và trong những những khám thỏi phá ấy đã tiến hành trong một hoàn cảnh thực sự hốc fpài ra còn bị thương tổn nghiêm trong điểm về mặt đy, tỉnh đọg thần bị mất xe máy, còn bị tai nạn se nih

• kích xa gần nữa... Nhưng ông đã vượt lên tất cả. nửa.. Còn bị một vải hỏi hảo đả chỉ Quả hiết thột chân không dễ dàng tiếp cận với tất cả những gì ông đã trình bày, đã thể hiện. Chúng tôi chỉ biết chân thành đáng chúc góp mối, ming kiệt ông và tin rằng, với Nguyễn Hoàng Phương,. Dịch học Việt Nam có những đóng góp mới, kiệt xuất trong những ngày cuối Thiên niên kỷ này

Tập 9 · tr. 75

01b

Tiên Si Triel Hen

Plv Tiến S Todi Liệt

PHẠM ĐỖ NHẬT TIẾN

Vài nhận định

Công trình

Octonion

CƠ SỞ PHỔ QUÁT CỦA

KHOA HỌC

Đông Tây

Thống Nhất

*Ông Pham Đô Nhột Tiến đã bảo vệ Luận Văn Phố Tiến Si Toán Lý có liên quan đến vị trí của Đại số Ccteio (Coyleystmng Vật Ly Ly thuyết.

Tập 9 · tr. 76

VỀ CÔNG TRÌNH :

TRIẾT ĐÔNG PHƯƠNG

Tiến hoá & các tuyển loán, sinh, Nhân văn

Truyền thống nà hiện dại

Any

OCTONION

CƠ SỞ PHỔ QUÁT CỦA KHOA HỌC THÔNG NHẤT ĐÔNG TÂY

của G. 8 Nguyễn Hoàng Phương

tại Trước Hội hết thản cần kháng định rằng công trình nói trên của G.5 Nguyễn Hoàng Phương - háo cả đẫn, chủ yếu quốc tố vố Việt Nam học (15 - 17 tháng 7 năm 1998) - là một công trình dộc là trên mặt loán học hiện dại.

Từ trước đến nay, khi nổi đến một toán học của Kinh Dịch hay rộng hơn của Triết cổ Đng phụng, người ta có để cập đến các khin cạnh sau

- Bình phòng (A + Đ) để so sánh với Từ Tượng : A" cho Thái Dưng. B cho Thái Âm. - Mã nhị phản. AB cho Thiếu Dang, RA cho Thiên Âm, Quê - Tam thia (A + II để so sánh với Hát Quái : A" cho Kiền, H' cho Khôn, 3A" B cha cục đã hai hão Dương (à Hải, Tôn,Ly) v.v.

- Tập mở cho các cấu trúc Từ Tượng, Ngũ Hành

Tuy nhiên chưa có công trình nảo mang một tính chất trán học sâu rộng và hiện đại như công S.V... trình trên của G.5. Nguyễn Hoàng Phưng.

Về nội dung chang, công trình gồm một phần Đại cung và ba tập 1.0,01

Phân Đại cưng nói về những định hưởng chính của công trình và sự cần thiết phải ra đi một Vũ Trụ quan mới cho các Thiên Niên ký mới.

1. Tập l nồi về Cấu trúc và Hình thức luận. Các truyển đoôn học truyền thống và hiện đại, LÍ Tập II nồi về Tiến hoá và tuyến Sanh học,

III. Tậpli nổi về Tiến hoá và tuyến Nhân văn.

Công trình dày trên khoảng 500 trang.

Tập 9 · tr. 77

CÁC THÀNH TỰU CHỦ YẾU TRONG CÔNG TRÌNH

TẬP I. ĐẠI

TRỰC CHÍNH CỦA TẬP I LÀ CẤU TRÚC, HÌNH THỨC LUẬN VÀ TUYẾN TOÁN HỌC HIỆN

Điểm chủ yếu trmg phần này là định nghĩa phép nhân Quả, ký hiệu là Q : So sinh các hậu sT, mạt của các quê Nội. Ngoại với nhau, một điều mỗi lạ trong toán học, vi trong loán lọc, Tây phang lừ troởc đến nay chưa hề có khái niệm hảo, và cũng mới lạ nữa là trawag Kinh Dịch chi hể có khải niệm công : quẻ,, nhân quê với võ hưởng, nhân quê với quê !

Tính toán học của Triết Đông phưng đã là mội ấm ảnh lôn trong toàn hộ công trình tích hợp đa văn hóa Đông Tây của lác gia ngay tử công trình đầu tiên

Oriewtel Philawalry Fundamentals tri Foszy Ser, Eost and Wesr, 1994.

Tay nhiên vãi để quan hệ giữa Hệ 64 quẻ Kinh Dịch và Đại số Oconion trong lập 1 của công

- trinh

OCTONION. CE SỞ PHỔ QUÁT CỦA KHOA HỌC THỐNG NHẤT ĐÔNG TÂY

không dem giản, vì số 1 den vị trong Đại số Oconion lại cổ tính chất.. khác Quê Kiến- cũng ký hiệu là / - trong Triết Đông phương, vi ở đây Kiển l "Trỏi". Chẳng hạn trong Đọi sữ Octonion la có :

Ix te miếp / = de.

Trong hic dã thì trong Kinh Dịch ta lại có

Kiến & Khôn - Thiên Địa Bi # Khôno Kiến - Đia Thiên Thái

Để phải tuyết khó khăn này, lúc giả đã đưa ra ký hiệu sau

A • B = Int (A < B) | Val (4 ° B).

cin Vật (4 + BỊ là giá trị của phép nhâng (Val - Valuc). với Int (A + 8) - B, là Quê Nội.

Và như thể, khó khản trên được giải quyết, vì Thiên Địa Bi và Địa Thiên Thái khúc nhau ở Quê Nội, trong lúc giả trị Val vân như nhau là 4c :

Thiên Địa Bi - Địa 1 kr. Int (Thiên Địa Rì) - Địa

Địa Thiến Thải - Thiên | Ae, Int (Địa Thiên Thái) = Thiên.

Val (Thiên Địa Bộ) = Val (Địa Thiên Thái) = Le.

6

Tập 9 · tr. 78
Ảnh quét trang 986
Ảnh quét trang 986 — Trang này gồm nhiều bảng lồng nhau; máy không dựng lại được hàng và cột, nên hiển thị nguyên ảnh quét.
Tập 9 · tr. 79

Tất nhiên, như tác giả đã nhận xét, biến hệ quẻ hay Biểu tượng của Triết Đông phương thành một hệ toán học cao cấp có hai ưu điểm cơ bản :

- Biến Triết Đông phương thành một hệ khoa học thực sự :

- Khả năng xử lý các quẻ được chính xác hơn, hình thức hơn, và có khả năng kết hợp với tin học Tây phương

Cũng cần nhấn mạnh rằng do Đại số Octonion là không kết hợp, trong lúc Vật Lý Lý thuyết Tây phương lại đã sử dụng hệ thống toán tử (ma trận)với phép nhân kết hợp, nên đại số Octonion nói chung đã không trở thành một công cụ của Vật lý lý thuyết Tây phương hiện

Tác giả đã so sánh Đại số Lie của các nhóm SU(3) và của Đại số Octonion và nhận thấy hai Tương lai sẽ ra sao 7 cấu trúc đó phần lớn là giống nhau. Vì thế tác giả đã đề nghị chuyển trúc toán học nhóm trong Lý thuyết các Hạt cơ bản sang Đại số Octonion.

Cụ thể như sau :

ĐẠI SỐ LIE CỦA ĐẠI SỐ CAYLEY DÙNG CHO LÝ THUYẾT HẠT CƠ BẢN

Tác giả đưa ra các toán tử C, như suu :

Công thức, ảnh quét từ bản in

với F., a = 1,2-7, H B Các Vi tử của nhóm SU(3) và 1 = y-1..

Các trần tử này được xác định trên Đại số Cnvlew,vì thế chúng tạo nên một hệ không kết hợp. Đó là sự mở rộng khái niệm toán tử, Từ đó, ta được về hình thức

Vai Vai [ly (0, .GI .G,l = = -10. 10. Val Val [Gz, IG,, G,I Osl = = 10, I0 , Vai Vai |G.. |G,.G,] G-l = = 0, D. Val|0,, Val G,. G,l G,I =- = V3 440,. RG,
val jO..GI    -    Ki      Val      IG,,       G,l        =       MY,        Vai        jC.,         G,I=          0,              Val              G,,               G,l               -               V3              kG).
Val (G,,  G,l  =  IG,
                                       Val|G,                                          G,)                                          =-040

Trong trường hợp nảyc : Cta thu được một kết quả gần đúng giữa Đại số Cayley- Oetion và nhóm SU(3).

CÁC ĐẶC TRƯNG Q. Y.T SPIN, U SPIN VÀ V SIN CHO CÁC HẠT CƠ HẮN

Với các tuần tử Cì, ta thu lại được các đặc trong QY, T ngắn, O spin và V spin như trong Lý thuyết Hạt cơ bản hiện hành :

•.Q - 02)40, + (/v3)G,1. Y - Q= (1/2) | - 4G,+ (/ v3) G,l. Y = (1/V3)G,. với các ma trận chỉ xác định trên / (Kiến).

B.T. = T, +ẤT. T =T, -ATA. T, =(12)G,. TA = (12)G»

với các ma trận chỉ xác định trên • (Đoài).

e U, = AU, +Uz. U. =-kU, +Uz. U, = (1/2)Q, U, = (1/2)G;.

với các ma trận chỉ xắc định trên je (Cân).

d. V, = V, +AV, V. = V, cấy, V, -(2) C, Va =(/20»

Tập 9 · tr. 80

với các ma trận chỉ xác định trên te (Khôn).

Dễ thấy rằng :

1. Cic đại lượng trên đếu mang những bẩn sắc Oclonion J, i. Je. Ae Alde nhan.

2. Các hản sắc 1, t.Jc, ke đó thuộc một cấu trúc nhim nảo dã.

TẬP II.

TRỤC CHÍNH CỦA TẬPI LÀ DỊCH VÀ TIẾN HOA, TUYỂN SINH HỌC

Đó là quả trình thay đổi tính Ăn Dương từng hào và sự tiến hóa theo quả trình Tự Tưng

THIÊU DƯƠNG THÁI ĐƯƠNG THÊU ÂMTHÁI ÂM
ÂmDudng
DieneÂmÂm
ThànhThịnhSuyHuy

Thải Âm →> Thiếu Dương = Thái Dương 3 Thiếu Âm và di Thiên co Địa

Vi du

QA THIÊNHÒA HOATHIÊNTHUT
THÁITHUY
Âm ÂmDung
Âm
Âm DangÂm
ÂmDirngLhmmaj :
ÂmÂmÂm
DungÂm ÂmÂm
ÂmAns Âm
THIÊN THIÊNLA DIA
Din lhnfigÂm Âm
ÂmÂm
ÂmÂm
DungÂmÂm
LAmÂm
ÂmÂm

Đô lã sy linh thánh Tary Hoa Mong alde thié d8 Herer rỏ Chdn Nhir

Cạnh việc mô hình hóa Dương Hama và Chân Nhân, tác giả tiếp lục phân tích, phần loại các nhân tố Sinh học khác : Luân Xa, Huyệt Ngũ Du, Lạc Khích, Axit Amin cũng trong khuôn khố của Đại số Oclmion.