Tập 1 — Tây
Tập 1
Tây — trang 1–20
NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG
SỨ MỆNH
Đức Di Lạc
TOM I
Trần Thế Đông - Tây Hợp Nhất
CÁC MÔ HÌNH BÁT QUÁI - OCTONION
TẬP I. TÂY
TOÁN VÀ LÝ
CÁC CẤU TRÚC TOÁN HỌC
Tup tay Ang Hà Nội, 2000 - 2001 H6 Vau Em
NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG
SỨ MỆNH
Đức Di Lạc
TOM I
Trần Thế Đông - Tây Hợp Nhất
CÁC MÔ HÌNH BÁT QUÁI - OCTONION
TẬP I. TÂY
TOÁN VÀ LÝ
CÁC CẤU TRÚC TOÁN HỌC
Hà Nội, 2000 - 2001
Món quà Tổ Tiên
DÀNH CHO DÂN TỘC VIỆT
Đầu Xuân Thiên Niên Kỷ III
PHẦN UONG I 1
CON NGƯỜI - VŨ TRỤ &
TRIẾT ĐÔNG PHƯƠNG
CHƯƠNG I
CẤU TRÚC BẢN THỂ.
CON NGƯỜI
TA LÀ AI ? (TỔNG QUAN)
1. CÁC QUY MÔ CỦA BẢN THỂ CON NGƯỜI
Theo nhiều trường phái và nhiều tác giả thì nhân thể gồm nhiều quy mô (hay mức) khác nhau : thể).
- Về vật chất (vật chất hạt thô hay tinh vi - sóng lần số thấp hay cao, siêu cao lạo nên các cơ
- Về hình thể (dạng) của cơ thể.
- Và về hình thái vận động của cơ thể.
A. QUY MÔ (MỨC) VẬT LÝ HAY XÁC
- Các phần tử, tế bào, mô, cơ quan, lạng, phủ.
B. QUY MÔ (MỨC) TRƯỜNG SINH HỌC
Các thành phần Trường Sinh học được nhân loại phát hiện từ lâu, trong dân gian thường gọi là Phách, Vía, Trí (hình I- 1), (I- 2).
Theo Barbara Ann Brennan và theo khoa học truyền thống có thể phân chia Trường Sinh học thành các cơ thể vô hình thuộc ba bình diện sau (hình I - 3) :
Bình diện Vật lý hay Hậu thiên
1. Cơ thể Etheric - Hạ Phách,
2. Cơ thể Cảm xúc - Hạ Vía,
3. Cơ thể Tâm thần - Hạ Trí..
5
Bình diện Trung gian
4. Cơ thể Tinh tú - Trung Vía.
Bình diện Tâm linh hay Tiên thiên
5. Cơ thể Etheric mẫu - Thượng Phách
6. Cơ thể Thiên, Cảm xúc cao cấp - Thượng Vía,
7. Cơ thể Tâm Thần cao cấp, Ketheric - Thượng Trí.
Các cơ thể số lẻ 1,3, 5,7 đều có cấu trúc dạng lưới.
Các cơ thể số chẵn 2, 4,6 là khí (hJoplasini).
CÁC. QUY MÔ (MỨC) HARA - ĐƯỜNG HARA (theo Barbara Ann Brennan) (3 ].
Sâu hơn Trường Sinh học là một cấu trúc gọi là Đường Hara. Cấu trúc Hara là chỗ dựa của Trường Sinh học.
Nếu Trường Sinh học liên quan đến năng lượng con người, thì Đường Hara lại liên quan đến các ý định của nó.
Nhiệm vụ của sự hiện diện mỗi người chúng ta trên hành tinh này và các mục đích tạo dựng mọi hành vi mỗi người tại mọi thời điểm đều xuất phát từ cấu trúc Hara.
Cấu trúc Đường Hara là đơn giản hơn nhiều so với cấu trúc Trường Sinh học.
Đường Hara có chiều rộng khoảng một phần ba của insơ và có cấu trúc sau :
Đường Hara xuất phát từ một điểm - gọi là Thiên Điểm - nằm khoảng 70 cm bên trên đầu. Còn về phía dưới thì Đường Hara đâm sâu vào võ đất. Ngoài Thiên Điểm, trên Đường Hara lại có hai điểm khác. Một trong hai điểm đó ở dưới cùng là khá quen thuộc với chúng ta. Đó chính là Đan Điển. Đan Điền nằm khoảng một insơ rưỡi dưới rốn. Còn điểm giữa - Trung điểm - thì nằm ở phía ngực trên.
Thiên Điểm. Thiên Điểm trên cùng có dạng hình phẩu dựng ngược : Miệng phẩu đâm xuống dưới và rộng khoảng một phần ba insơ. Nó là sự cá thể hoá đầu tiên của con người khi tách ra khỏi Vũ trụ. Qua Thiên điểm này, con người liên hệ được thực thể thiêng liêng nhất của mình trong Vũ trụ.
Trung Điểm. Trung Điểm của Đường Hara trông như một ngọn đèn sáng mờ.
Đó là cấu trúc của xúc cảm. Nó mang sự khao khát tâm linh mãnh liệt của con người, một sự khao khát thiêng liêng định hướng hoạt động mỗi người trong suốt cả đời mình. Nó mang sự say mê sâu xa nằm bên trong cơ thể, cần thiết để thực hiện những việc lớn có định hướng trong cuộc đời. Với sự say mê đặc biệt này, con người muốn có một hoạt động nhiều nhất nào đó so với mọi thứ hoạt động khác. Các nhà khoa học cho rằng nó gọi nó là điểm lựa của linh hồn.
Đan Điển. Đan Điên là điểm' sinh lực của các nhà vũ thuật, có liên quan đến Mệnh Môn Hỏa dầy tâm đắc của Hải Thượng Lãn Ông. Nó có dạng một quả bóng rubi mang năng lượng. Nó có một màng bên ngoài rất chắc. Nó cũng là một điểm ý chí, cái ý chí cần thiết để sống trong cõi vật lý.
6
Với Đan Điền, con người gắn liền với Mẹ Đất của mình. Đường Hara càng cẩm sâu vào lòng Đất bao nhiều thì con người càng gom được nhiều năng lượng từ Đất bấy nhiều, như với các nhà chữa bệnh chẳng hạn. Trong quá trình chữa bệnh này, Đan Điển trở nên đỏ sáng và rất nóng, và toàn thân nóng lên.
Khi con người có một ý định rõ ràng ở mức Hara, thì nó cảm thấy dễ chịu ở mức Trường Sinh học và mức thể xác. Còn bệnh tật lại có thể liên quan đến những ý định không rõ ràng, lộn xộn, hoậc trái ngược lẫn nhau.
BQUY MÔ (MỨC) CHÂN NHÂN (theo Barbara Ann Brennan) [ 3 ].
Chân nhân nằm sâu hơn đường Hara.
Với khả năng thiển định đến ngưỡng Chân Nhân, chủ thể có thể nhìn thấy Chân Nhân như một vì sao rất đẹp.
Trong sách Phật, Chân Nhân man tên là Sở Quán Chân Tính, đó là "Bản Giác Chân Tâm, cái thiêng liêng sáng suốt của con người."
Theo một số trường phái, chủ thể nhận thức được Sở Quán Chân Tính của mình sau khi thiển liên tục được 81 phút....
Chân Nhân năm khoảng một insơ rưỡi trên rốn.
Chân Nhân liên quan đến cội nguồn thiêng liêng của mỗi người, đó là nguồn gốc bên trong của sự sống. Chân Nhân là chỗ định xứ của nhân cách thiêng liêng của mỗi người. Chân Nhân là bản thể chủ yếu nhất của sự sống mỗi người. Xuất phát từ Chân Nhân, chúng ta tồn tại và có sự sống.
Nếu trụ tại Chân Nhân, chủ thể sẽ thấy mình là Trung tâm của Vũ trụ Khi thiển định đến ngưỡng Chân Nhân, và nhìn vào một nhóm người khác, thì chủ thể sẽ thấy mỗi người như một ngôi sao rất đẹp đang chiếu ra ngoài và thấm loang vào những ngôi sao khác. Từ đấy chúng ta hiểu tại sao Nhân loại chỉ là Một !
Chân Nhân nằm ngoài các giới hạn của không gian, thời gian và tín ngưỡng, cho nên có thể nói rằng Chân nhân nằm trong chúng ta ngay trước cái" khởi đầu của thời gian"
Với Chân Nhân, chúng ta trở thành Minh triết, yêu đời và tràn đầy can đăm.
Nhưng Chân Nhân - cái bản thể chủ yếu đó của cuộc sống- thực ra không thay đổi theo thời gian. Không một thực tiển âm tính nào có thể làm hư hỏng nó. Những thực tiến âm tính có thể bao quanh nó, nhưng không bao giờ có thể làm thay đổi nó. Nó là cái nguồn phun nước vĩnh hằng của mọi người.
Chân Nhân là xuất xứ của mọi sự tạo dựng, sáng tạo của chúng la :
Mọi sự tạo dựng, sáng tạo đều xuất phát từ ý thức của Chân Nhân, đi qua các mức sâu xa của cơ thể cho đến cơ thể vật lý.
| CHÂN Nhân | HARA | = TRG SINH HỌC | = CƠ THỂ VẬTLÝ | ||
| Y thức | Ý định | Năng lượng | Hoạt động |
LỘ TRÌNH CỦA MỌI SỰ TẠO DỰNG, SÁNC TẠO
7
Cấu trúc lộ trình của mọi sự tạo dựng, sáng tạo trong cuộc sống là như sau :
Trước hết là ý thức của Chân Nhân, sau đó là ý định của Hara, sau đó là năng lượng của Trường Sinh học và cuối cùng là hoạt động của cơ thể vật lý.
Khi các nănglượng đó chảy trực tiếp và song suốt từ ý thức ở Chân Nhân, thông qua nhiệm vụ ở mức Hara, xuyên qua nănglượng của Trường Sinh học, và đi vào cơ thể vật lý, thì con người tạo được sức khỏe và niềm vui trong cuộc sống.
Khi chúng ta ngăn chặn lộ trình đó xuất phát từ Chân Nhân, thì chúng ta đã tự tạo ra sự đớn đau, sự đau khổ trong cuộc sống.
Công việc trước mắt chúng ta là đánh thức Chân Nhân chúng ta sao mà ánh sáng và sự tạo dựng, sự sáng tạo từ Chân Nhân có thể phát ra thành niềm vui, hạnh phúc. Bằng cách đó chúng la tạo ra được một thế giới hài hòa, hoa bình và đồng cảm [ 3 ].
HÌNH I-I.CƠ THỂ VÔ HÌNH THEO LOPSANG RAMPA
Hình 1 - 2. CƠ THỂ VÔ HÌNH THEO RA YMONT RÉANT
10
Cơ thể Ketheric 7
Cơ thể Thiên 6
Cơ thể Etheric mẫn S
Cơ thể Astral 4
Cơ thể Tâm thán 3
Cơ thể Căm xúc 2
Cơ thể Etherie 1
Hình 1 - 3. BẢY CƠ THỂ VÔ HÌNH THEO SỰ PHẦN LOẠI CỦA BARBARA ANN BRENNAN
11
Trang tâm thần tâm
Trung ý chỉ tâm
Trung tâm cảm giác
Hình 1 - 4. HỆ THỐNG LUÂN XA THEO BARBARA ANN BRENNAN
BỊ CHU. LX 7 (Bách Hội) là Thái Dương.L.X 6 (trước là Ngạch Trung, sau là Ngọc Chẩm) là Dương Minh,LX S(trước là Thiên Đột, sau là Đại Chùy) là Thiếu Dương.LX 3 (trước là Thần Khuyết, saulà Mệnh Môn) là Thiểu Âm, LX 2 (trước là Khúc Cốt, sau là Trường Cường) là Quyết Âm, LX 1 (Hội Âm) là Thái Âm.
LX 4 (trên Mạch Đốc có hai huyệt là Thần Đạo - Thái Dương, và Linh Đài - Thiếu Âm), (trên Mạch Nhâm có hai huyệt là Đản Trung - Thiếu Dương và Cự Khuyết - Thái Âm).
12
Hình 1 - 5. ĐƯỜNG ĐI LÊN CỦA LUÂN XA 1 (LUỒNG HOA HẬU)
13
Thiên Điểm
Đan
Điên
thượng ?
Chân Nhân
Đan
Điên
(/ Đất 3
| Trườờng Sinh học | Đường Hara | Chân Nhân |
| Biafield | Cua Line | (xe Star |
14
II. QUÁ TRÌNH TIẾN HÓA CỦA NHẬN THỨC BIỆN CHỨNG VỀ CON NGƯỜI
Nhận thức con người phát triển theo bốn giai đoạn, tương ứng với bốn loại thành phần trên hình I - 6.
A. NHẬN THỨC TRONG GIAI ĐOẠN THÁI ÂM
Sự nhận thức này đi theo sự phát triển của khoa học Tây phương hiện đại ngày nay với các khoa học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Tâm Lý... đương thời, có liên quan đến xác vật lý và nói chung kèm theo sự ngộ nhận các thành phần tinh hoa của mình.
Trong nền văn minh Đông phương, xuất hiện Kinh Dịch kiểu Văn Vương trên cơ sở và phương pháp luận Hình Vuông Sao Thổ, tức là Lạc Thư (các hình III - 1 -:- 7)..
Con người gần Đất hơn là Trời, đây là giai đoạn Địa - Nhân hợp nhất.
Cuối giai đoạn Thái Âm, con người bắt đầu nhận thức Trường sinh học của mình.
B. NHẬN THỨC TRONG GIAI ĐOẠN DƯƠNG MINH (THIẾU DƯƠNG)
Sự nhận thức này đi theo sự phát triển tương đối cao của khoa học Tâm linh (thống nhất) tích hợp Đông Tây với các Cận khoa học : Cận Toán, Lý,Hóa, Sinh, Tâm Lý... nói chung có liên quan đến Trường Sinh học.
Trong nền văn minh Đông phương, xuất hiện Huệ Năng Dịch Lý trên cơ sở và phương pháp luận Hình Vuông Sao Mộc (các hình III - 1 -;- 7).
Cuối giai đoạn Dương Minh, con người bắt đầu nhận thức lại được Đường Hara của mình. Con người gần Trời hơn là Đất, đây là giai đoạn Thiên- Nhân hợp nhất.
C. NHẬN THỨC TRONG GIAI ĐOẠN THÁI DƯƠNG
Sự nhận thức này đi theo sự phát triển rất cao của khoa học Tâm linh(thống nhất) tích hợp Đông Tây với các Cận khoa học Cận : Toán, Lý,Hóa, Sinh, Tâm Lý... nói chung có liên quan đến Đường Hara.
Trong nền văn minh Đông phương, xuất hiện Thai Huyền Dịch Lý trên cơ sở và phương pháp luận Hình Vuông Mặt Trời (các hình II - 1 -:- 7)..
Cuối giai đoạn Thái Dương, nói chung con người bắt đầu nhận thức lại được Chân Nhân của mình.
Con người gần Trời hơn là Đất, đây là giai đoạn Thiên- Nhân hợp nhất.
D. NHẬN THỨC TRONG GIAI ĐOẠN QUYẾT ÂM (THIẾU ÂM)
Sự ấu trí của khoa học.
Trong giai đoạn Thiếu Âm, con người (của một lịch sử tiến hóa mới ?) không có ý thức về Chân Nhân, Đường Hara và Trường Sinh học của mình.
Trong nền văn minh Đông phương, xuất hiện thuyết Tiên thiên loại Bát Quái Phục Hy.
Con người gần Đất hơn là Trời, đây là giai đoạn Địa - Nhân hợp nhất.
Những người nghiên cứu Triết học,Khoa học và Lịch sử Khoa học cần có một cách nhìn biện chứng như trên, để tránh những lầm lạc đáng tiếc.
15
VỀ CÁC ĐƯỜNG KINH, HUYỆT VÀ QUAN HỆ VỚI TRƯỜNG SINH HỌC PHỤ LỤC
TÂM
TRƯỜNG
TIÊU
VI.
IV.
il.VI
TRƯỜNG
ĐAI
I. PHẾ
VIII.
THẬN
X.TAM
TIÊU
XII.
CAN
XIV.
NHẤM
Hình 1 - 7. HỆ THỐNG CÁC ĐƯỜNG KINH CHÍNH CỦA NHÂN THỂ
17
VII.
BANG
QUANG
IX.
TÂM
BÀO
XI.
ĐỞM
xIII.
ĐỌC
CÁC HUYỆT NGŨ DU TRONG NHÂN THỂ
Bảng 1 -1. KINH, HUYỆT NGŨ DU
| TINH VINH DU KINH | HỢP |
|---|---|
| KINH m/k h/t w/m k/h | t/W |
| THỦ THÁI ÂM Thiếu Ngư Thái Kinh | Xích |
| PHẾ Thương Tế Uyên Cừ | Trạnh |
| THỦ DA MINH Thương Nhị Tam Dương | Khúc |
| ĐẠI TRG Dương Gian Gian Khê | Trì |
| TÚC DŨ MINH Lệ Nội Hãm Giải | Túc Tam |
| VỊ Đoài Đình Cốc Khê | Lý |
| TÚC THÁI ÂM Ấn Đại Thái Thương | Âm Lãng |
| TỲ Bạch Đô Bạch Khâu | Tuyển |
| THU THIÊU ÂN Thiếu Thiếu Thần Linh | Thiếu |
| TÂM Xung Phủ Môn Đạo | Hải |
| THỦ THÁI DG Thiếu Tiến Hậu Dương | Tiểu |
| TIẾU TRG Thạch Cốc Khê Cốc | Hải |
| TÚC THÁI DG Chí Thông Thúc Côn | Ủy |
| BG QG Âm Cốc Cốt Lôn | Trung |
| THỦ THIẾU ÂM Dũng Nhiên Thái Phục | Âm |
| THẬN Tuyền Cốc Khê Lựu | Cốc |
| THỨ QUYẾT ÂM Trung Lao Đại | Khúc |
| TÂM BÀO Xung Cung Lăng | Trạch |
| THỦ THIẾU DG Quan Dịch Trung | Thiên |
| TAM TIÊU Xung Môn Chữ | Tình |
| TÚC THIẾU DG Khiếu Hiệp Túc Lâm Dương | Dương Lăng |
| ĐỜM Âm Khê Khấp Phụ | Tuyền |
| THỦ QUYẾT ÂM Đại Hành Thái Trung | Khúc |
| CAN Đôn Gian Xung Phong | Tuyền |
| KÝ HIỆU |
m : Mộc, h : Hoa, w : Thổ, k : Kim, I : Thủy
Chữ xiên cho Kinh Dương, chữ đứng cho Kinh Âm.
18
CÁC HUYỆT NGUYÊN, LẠC HUYỆT VÀ KHÍCH HUYỆT
Bảng 1 -2. KINH, HUYỆT NGUYÊN, LẠC, KHÍCH
| KINH | HUYỆT NGUYÊN | LẠC HUYỆT | KHÍCH HUYỆT |
| PHÊ | Thái Uyên | Lạc Liệt Khuyết | Khích Khống Tối |
| ĐẠI TRƯỜNG | Hợp Cốc | Lạc Thiên Lịch | Khích Ổn Lin |
| Tỳ | Thái Bạch | Lạc Công Tôn | Khích Lậu cốc |
| VI | Xung Dương | Lạc Phong Long | Khích Điều Khẩu |
| TÂM | Thần Môn | Lạc Thông Lý | Khích Tam Ẩm Giao |
| TIỂU TRƯỜNG | Uyến Cốt | Lạc Chi Nhánh | Khích Dương Lão |
| THÂN | Thái Khê | Lạc Chiếu Hải | Khích Thủy Tuyền |
| BÀNG QUANG | Kinh Cốt | Lạc Phi Dương | Khích Thân Mạch |
| TÂM BÀO | Đại Lăng | Lạc Nội Quan | Khích Khích Môn |
| TAM TIÊU | Dương Trì | Lạc Ngoại Quan | Khích Hội Tông |
| CAN | Thái Xung | Lạc Lãi Câu | Khích Trung Đô |
| ĐƠM | Khâu Hư | Lạc Quang Minh | Khích Ngoại Khâu |
GIẢ THUYẾT CỦA DAVID TANSELEY VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TRƯỜNG SINH HỌC VÀ KINH, HUYỆT
Các cơ thể vô hình của nhân thể gồm những sóng dừng (ondes stationaires, stationa waves), có thể giao thoa với nhau.
Chỗ giao thoa của n ≤ 7 sóng dừng tạo nên các huyệt bình thường.
Chỗ giao thoa của 14 sóng dừng tạo nên các huyệt trung bình.
Chỗ giao thoa của 21 sống dừng tạo nên các Luân Xa..
19
Hình 1 - 8. CÁC HUYỆT NGŨ DU TRONG NHÂN THỂ
• BA KJNH ;ÂM Ở TAY :
PHẾ, TÂM BÀO, TÂM
Trung phu
'Thiên tri
Cực tuyến
| PHẾ | T.BAO | TÂM | |
|---|---|---|---|
| TINH | Thiếu | Trung | Thiếu |
| Thương | Xung | Xung | |
| VINII | Ngư | Lao | Thiếu |
| Tế | Cung | Phủ | |
| DU | Thái | Đại | Thần |
| Uyên | Lang | Môn | |
| KINII | Kinh | Gian | Lonh |
| Cừ | Sử | Đạo | |
| HỢP | Xích | Khúc | Thiếu |
| 20 | Trạch | Trạch | Hải |