Tập V — Các hệ 64 Quẻ — cơ sở di truyền, Phong Thủy
Chương 67
Về Cận Tâm lí học và Cận Tâm lí học sáng tạo
VỀ CẬN TÂM LÝ HỌC VÀ CẬN TÂM LÝ HỌC SÁNG TẠO
Thế giới ngay từ những thời đại xa xăm cũng đã bàn cãi nhiều về các hiện tượng Tâm linh. Thành thử chúng ta cũng cần biết qua một chút về lịch sử của các hiện tượng này, xem như những bài học mà những người tiên phong đã để lại cho hậu thế. Phần lịch sử này, chúng tôi tạm để vào chương Cận Tâm lý học.
I - MỘT VÀI LỜI VỀ LỊCH sử CÁC HIỆN TƯỢNG TÂM LINH DƯỚI MẮT MỘT NHÀ KHOA HỌC TÂY PHƯƠNG (Dựa THEO R.DE.JAHN)
Đã từ rất xa xưa, con người sớm biết và quan tâm đến các hiện tượng Tâm linh. Và dù chúng ta có đi sâu vào dĩ vãng đến bao nhiều đi nữa, chúng ta cũng thấy rằng trong cuộc sống hằng ngày, con người luôn luôn nghỉ đến các hiện tượng Tâm linh, dưới dạng này hay dạng khác.
Họ duy tâm, hiểu theo nghĩa là họ không căn cứ vào sự thật, hay là họ ngu muội, đốt nát để lao vào các hiện tượng Tâm linh ?
Đối với những vấn đề mang tính văn hóa này, thời đại chúng ta buộc chúng ta phải tiến hành đánh giá lại. Vì sao ? Vì cái lẽ đơn giản là trong những thế kỷ mai sau, loài người sẽ hướng theo một hướng đi khác, hướng đi tìm cấu trúc tinh thần của chính mình, đi vào con đường nội tâm, trong mối quan hệ với những cõi hình khác, rộng lớn hơn là cõi Trần (trụi) này.
Hơn nữa, sự tiến hóa không theo con đường thẳng ! Chúng ta lại phải quay lại con đường đi của cha ông, dù cha ông chúng ta quả thực còn dốt nát hơn chúng ta trong những góc độ văn minh kỹ thuật như ngày nay. ■
Thế thì ngày xưa, cha ông chúng ta đi vào con đường Tâm linh cụ thể như thế nào ?
Một vài thí dụ. Dựa và các tác phẩm khắc trên đá ở Lasko hay ở Antimia, vào khoảng 20.000 năm trước Công nguyên, chúng ta thấy rằng các nghi lễ của các xã hội nguyên thủy phương Đông cũng như phương Tây đều thấm nhuần các thao tác về các hiện tượng Tâm linh.
Trong các nền văn minh cổ Hy Lạp, La Mã, Ai Cập, người ta thường quan tâm nhiều đến các loại hiện tượng này. Bắt đầu từ thời đại Helinski và mãi cho đến cuối đời Alexandre Đại Đế, các nhà tiên tri đã đóng một vai trò rất quan trọng trong chính trị. Họ làm cố vấn cho nhiều vấn để khác nhau trong xã hội, như việc chống bệnh tật, việc xây dựng chính thể, việc chọn địa điểm để bành trướng... Chẳng hạn ở Hy Lạp cổ đại, trước một trận đánh, các nhà tu bành hy sinh một con vật nào đó và cố tìm trong các bộ phận đã hy sinh những tiên đoán về thắng lợi hay thất bại của trận đánh sắp diễn ra. Ngay Aristote, một trong những triết gia lớn của thời cổ đại, cũng đã cố tìm các quan hệ nhân quả trong các giấc mơ, mà ông gọi là giấc mơ tiên tri.
Trong giai đoạn cổ đại, các hiện tượng Tâm linh được đồng nhất với Tôn giáo, hay nói cách khác, các hình thức tổ chức tôn giáo đều thấm nhuần những hiện tượng Tâm linh. Còn trong giai đoạn Trung có, các hiện tượng Tâm linh được đồng nhất với cái gọi là Khoa học huyền bí (Science occulte).
Chẳng hạn, trong Kinh Thánh cũng như trong nhiều văn bản Thân học cơ sở, các hiện tượng Tâm linh xuất hiện như là nội dung chính. Về bản chất, Kinh Thánh là một thư mục (catalogue) lớn về các hiện tượng Tâm linh, và trên thực tế, mỗi một hiện tượng đó đều được minh họa dưới hình thức này nay khác.
Trong các công trình của các triết gia Thiên chúa giáo từ thời Augustỉn cho đến thời Phục Hưng, chúng ta thấy nói nhiều về các hiện tượng Tâm linh, trong đó các nguyên nhân được gán cho những quyền năng của các thần thánh, hay là do sức mạnh của ma, quỷ. Cũng có một số nhà nghiên cứu cho rằng nguyên nhân của các hiện tượng Tâm linh cũng chỉ là bình thường, nhưng lại liên quan đến các khả năng đặc biệt của một vài cá nhân, mà sau này được gọi là nhà ngoại cảm. Một số lại cho rằng các hiện tượng đó có liên quan đến một sự Hài hòa Vũ trụ nào đó, tư tưởng này giống tư tưởng của nhà triết học nổi tiếng Platon.
Đầu thế kỷ 16, nhà triết học và y học Thụy Sỉ Paracelse, thấm nhuần tư tưởng về sự Hài Hòa Vũ trụ, đã viết một cách cụ thể như sau về các hiện tượng Tâm linh :
"Ý thức con người là một Tiểu Vũ trụ, một phần là sự biểu hiện của Trí tuệ Vũ trụ... Con người có thể truyền ý nghỉ của mình cho người khác, mà họ có cảm tình, với bất cứ khoảng cách nào, hay là con người có thể tác động lên người khác sao mà gây được ảnh hưởng của mình lên hành vi của người đó".
Chính nhà triết học Francis Becon là người đã từ nước ngoài đưa vào nước ông những tư tưởng này về các hiện tượng Tâm linh, ở thế kỷ 17. Trong tác phẩm Những thành tựu về sự phát triển của tri thức về Tâm linh con người, Becon đã khẳng định rằng nên nghiên cứu các hiện tượng Tâm linh một cách nghiêm túc. Lịch sử cho thấy rằng chính Bécon là người đã sáng lập ra các phương pháp khoa học về các hiện tượng đó. ông cho rằng các cái gọi là "mê tín đị đoan" đố, hay là những cái tương tự như thế, không thể loại ra ngoài các giới hạn của khoa học, và ông đề nghị nghiên cứu cụ thể hơn mấy loại hiện tượng sau : các giấc mơ tiên tri, các phương pháp chữa bệnh bằng Tâm linh, cũng như các hiện tượng tác động của tư tưởng lên các con súc sác... Theo Becon, không nên có hai loại thái độ sau : "một là thừa nhận một cách mù quáng có tồn tại những ảnh hưởng xa xôi nào đó, hai là thái độ gạt bỏ một số,hiện tượng chỉ vì lý do chúng mâu thuẫn với các quan
điểm thông thường. Chúng ta nên nhớ rằng ở thời đó các lực lượng đối kháng với Tâm linh đã có một thái độ khắc nghiệt, vì họ cho rằng đó chỉ là những hiện tượng siêu nhiên và, song song với sự săn lùng các nhà phù thủy, họ đã cố tình vứt các hiện tượng đó vào cái sọt rác của khoa học huyền bí và mê tín dị đoan".
Tiếp tục tư tưởng của Becon, một nhóm các nhà khoa học Anh, như Henri Mor và J.Glanville đã bắt đầu những cuộc tọa đàm thường xuyên vé-các hiện tượng Tâm lình, và sau đó, năm 1681, Glanville đã công bố các nội dung của các cuộc đàm thoại trong một cuốn sách của ông.
Cho đến thế kỷ 18, vẫn diễn ra hai thái độ trái ngược nhau như trên đối với các hiện tượng Tâm linh : Thái độ nghiên cứu nghiêm chỉnh, xa dần cái say sưa của lòng tin mù quáng trước cái kỳ diệu và thái độ xua đuổi thô bạo như trước.
Trong giai đoạn này, cần kể đến các công trình của Emmanuel Swedenbourg (1688 - 1772), là một,nhà khoa học có khả năng thấu thị (clairvoyance). Ngoài ra, giữa thế kỷ 18, người ta đã trao cho Propere Lambertin (sau trở thành Giáo Hoàng Benedit 14) nhiệm vụ theo dõi một cách khoa học các hiện tượng Tâm linh. Và Lambertin đã có những kết luận sáng suốt ít ai ngờ đến, được công bố trong cuốn sách De Canonization của ông. ông tuyên bố :
- Các cảm xúc Tâm linh không nhất thiết là những biểu hiện tài năng của thần, thánh. Các khả năng này có thể xảy ra ngay với cả những đứa ngu xuân, dốt nát, lù khù lờ khờ, và ngay ở những kẻ tàn bạo.
- Các hiện tượng đó cũng thường hiện ra trong các giấc mơ.
- Các nhà ngoại cảm tự họ khó mà phần biệt được cái gì là tư tưởng riêng của chính mình, và cái gì là thông tin từ ngoài đến..
- Các tiên đoán thường hiện ra dưới dạng tượng trưng.
Rõ ràng các nhận định của Lambertỉn đã vượt quá thời đại của ông và cho đến này cũng còn chứa nhiều điểm hợp lý.
Cùng với tư tưởng của Swedenbourg là các quan điểm của Franz Mesmer (1734 - 1815) về cái gọi là từ tính động vật (magnếtisme humain). Trong cuốn sách Aphorisnies của ông, Mesmer (người Đức) đã trình bày quan điểm trên của mình, cho rằng từ các cơ thể sống có thoát ra, phát ra một chất lỏng nào đó, chất này truyền xuyên qua Vũ trụ và có liên quan mật thiết đến toàn bộ Vũ trụ. Tại nước Pháp, luận điểm từ tính động vật của. Mesmer đã có rất nhiều ảnh hưởng. Với Mesmer, chất lưu đó - trong mối quan hệ với toàn bộ Vũ trụ - là nội dung, cơ chế của các hiện tượng thôi miên. Thôi miên đã trở thành một phương pháp chính thống để nghiên cứu vô thức. Các thông tin về chủ thể bị thôi miên - hiện thực các quá trình thấu thị và thần giao cách cảm - đã lan truyền rất nhanh.
Từ giữa thế kỷ 19 cho đến các năm 20 của thế kỷ 20, xuất hiện phong trào Duy Linh (Spiritualisme), cho rằng linh hồn là bất tử, rằng có tổn tại ma, quỷ, thần, thánh,... rằng con người có thể liên hệ với các vong linh, các thực thể siêu nhiên...
Được truyền từ Pháp sang Anh và sang Mỹ vào đầu thế kỷ 20, ;phong trào Duy Linh được tổ chức dưới dạng tôn giáo. Nhiều buổi biểu diễn Duy Linh được tổ chức trong Nhà Trắng của Tổng thống Lincoln. Bản thân đại vận hào Victor Hugo, trong những năm giam cẩm tại Gersey, cũng say sưa tham gia vào các buổi biểu diễn đó.
Một trong các nhà khoa học đã cố gắng tìm hiểu các hiện tượng Tâm linh là F.W.H.Mayer (1903), đã đưa ra khái niệm cái tôi - tiềm thức, cho rằng với cái tôi - tiềm thức đó, chúng ta có thể đi vào các bí ẩn của thế giới tinh thần rộng lớn hơn, vào một Vũ trụ năng lượng và khả năng rộng lớn hơn.
Tuy nhiên, về sau, thuyết Định Mệnh (Fatalisme), các hiện tượng gọi hồn đã vấp phải những công kích kịch liệt từ phía các nhà khoa học... Hơn nữa, các thủ đoạn làm tiền, buôn thần bán thánh xung quanh các hiện tượng Tâm linh đã làm cho phong trào Duy Linh xấu hẳn đi.
Và cho đến nay, một số các nhà khoa học cho rằng cái gọi là sự tham gia của vong linh chỉ là... Vô thức.
Từ năm 1882, ở Châu Âu, tại nước Anh, bắt đầu chớm nở phong cách nghiên cứu các hiện tượng Tâm linh có phương hướng, có tổ chức khoa học, trước hết nhằm khẳng định sự tồn tại của loại hiện tượng đó. Đó là tổ chức Hội các nhà nghiên cứu các hiện tượng Tâm thần ờ Luân Đôn. Tại Pháp, năm 1882, Pierre Janet đã viết trong tạp chí La Revue Philosophìque một bài nói về các thực nghiệm ám thị Tâm thần mà ông đã đạt được nhiều kết quả. Sau đó Charles Richet tiếp tục các công trình của Janet với các công trình nghiên cứu hiện tượng thôi miên từ xa.
Cận Tâm Lý Pháp đã phải đấu tranh trong một thời gian khá dài để được công nhận một cách hợp pháp, lực lượng chống đối mãnh liệt nhất là các trường Đại học. Các thực nghiệm quan trọng nhất trong cuộc đấu tranh này bắt đầu từ các cuộc biểu diễn tại Nỉerlandes, tại Viện Tâm lý trường Đại học Groningue. Sau đó, ở Pháp, đã sáng lập Viện Tâm thần quốc tế do F.W.H. Mayer lãnh đạo.
Năm 1933, Giáo sư W.C.Tenhaef tại trường Đại học Utrecht, Hà Lan đã mở một Viện Nghiên cứu về các hiện tượng Tâm linh. Năm 1954, tại Tây Đức có thành lập một môn khoa học dạy "các lỉnh vực tới hạn của Tâm lý học" cùng với một Viện Nghiên cứu do Giáo sư H.Bender lãnh đạo.
Mặc dầu bị giới khoa học và văn hóa đương thời công kích mãnh liệt, các hội nghiên cứu Tâm linh vẫn lôi kéo được nhiều nhà khoa học có tên tuổi tham gia, một số trong số này là những chuyên gia nổi tiếng của nhiều lĩnh vực khoa học chính thống, một số được giải thưởng Nobel như Mayer, Relay, Temson, Mackugal, Kruc, Barret, Bergson, Richet, W.James...
Đầu thế kỷ 20, xuất hiện các công trình của bác sĩ nổi tiếng Sigmund Freud về Vô thức, xuất phát từ sự thu thập các kết quả nghiên cứu Tâm linh trên lâm sàng và qua liệu pháp phân tâm học Freud cũng là một thành viên của Hội Nghiên cứu Tâm thần Đức. Đến cuối đời, Freud càng quan tâm nhiều đến các hiện tượng Tâm linh, và như ông đã nói trong một cuộc nói chuyện riêng là : nếu ông cần phải bắt đầu lại con đường sáng tạo của mình, thì ông sẽ chọn con đường nghiên cứu các hiện tượng Tâm linh. Nhưng nói cho cùng thì lý luận về Vô thức của ông chính là một trong những nhân tố quyết định của các hiện tượng Tâm linh. Chính vì thế mà Mayer đã sử dụng Vô thức để giải thích sâu hơn các hiện tượng Tâm linh một cách khoa học. Hội thảo quốc tế về Vô thức năm 1979 tại Tbilisie (Nga), đã nói rõ điều đố qua các vấn để nhân cách - tâm thể (psychosomatic).
Sau Freud là người học trò xuất sắc nhất của ông, Karl Jung, Jung tiếp tục nghiên cứu các công trình của Freud, với các hiện tượng gọi là huyền bí trong Vô
thức, nhằm đi sâu hơn vào các -vực thảm của các hiện tượng đó. Jung nghiên cứu các hiện tượng thần giao cách cảm, thời gian tâm thần, các hiện tượng gọi là đồng bóng, và sâu nhất là các hiện tượng Vô thức tập thể. Trong cuốn sách của ông, mang tên Trí nhớ, giấc mơ và phản xụ, ông viết : "Có một quan hệ đặc biệt giữa người chữa bệnh và người bệnh, đặc biệt khi có hiện tượng "truyền" từ phía người có bệnh đến người chữa bệnh, và sự đồng nhất ít hay nhiều về Vô thức giữa hai người đó, một điều có thể dẫn tới các hiện tượng Tâm linh. Tôi thường gặp những tình huống như thế".
Tại Mỹ, đầu thế kỷ 20, nhờ sự quan tâm của Thomas U.Stanford - nhà sáng lập ra Trường Đại học Stanford - đã có nhiều sự ủng hộ các hiện tượng Tâm linh một cách thiết thực. Tuy nhiên, các nghiên cứu loại này chỉ mang tính khoa học đầy đủ khi bắt đầu các thực nghiệm ở trường Đại học Duke, dưới sự lãnh đạo của Giáo sư Tâm lý học J.B.Rhine và người vợ là Louise, cùng nhà ngoại cảm tài ba là bà Garett. Người kế tục của W.James, ông Mackugal, khi lãnh đạo Khoa Tâm lý, đã giao cho Rhine nhiệm vụ nghiên cứu xem trong chừng mức nào thì các hiện tượng Tâm linh được xem là mang tính khoa học.
Lúc đầu Rhine nghiên cứu vấn đề sự sống sau cái chết. Sau đó, ông chuyển sang nghiên cứu các hiện tượng Tâm linh khác, và lần đầu tiên đưa ra thuật ngữ Cận Tâm lý học (Parapsychology), thuật ngữ ngoại cảm (extrasensorial perception), hiện tượng Psi (tức là hiện tượng Tâm linh)...
Năm 1937 Rhine sáng lập ra tờ nhật báo về Cận Tâm lý học và năm 1957, ông thành lập Hội Cận Tâm lý học Mỹ. Năm 1969, Hội này được xem ngang hàng với các Hội khoa học chính thống khác..
Sau cả cuộc đời nghiên cứu các hiện tượng Tâm linh, Rhine viết :.
"Qua các hiện tượng mà chúng tôi đã nghiên cứu, chúng tôi phát hiện được rằng có tồn tại những mối quan hệ có quy luật giữa các hiện tượng Tâm linh. Điểm quan trọng nhất là những kết quả khẳng định rằng ý thức không tham gia vào bất kỳ một quá trình điều khiển nào trong các hiện tượng Psi (tức là hiện tượng Tâm linh, NHP). Đó là lý do giải thích tại sao chúng ta khó nắm bắt các hiện tượng đó. Ngoài ra, chúng tôi rất đỗi ngạc nhiên nhận thấy rằng các khả năng Psi có tính phổ biến. Thậm chí, không loại trừ khả năng này là chung cho mọi người, và không chỉ là hiện tượng bẩm sinh, như người ta thường tưởng trước đây. Một thành quả quan trọng khác là các hiện tượng Psi lại liên quan đến bệnh tật..."
Tại Liên Xô trước đây, bắt đầu từ năm 1920, tại Leningrad, nhà khoa học Vasili Vasilev, học trồ của nhà sinh học nổi tiếng V.M.Bechterev, đã tiến hành các thực nghiệm trong lĩnh vực thần giao cách cảm và thụ cảm xúc giác - thị giác (tức là đọc bằng tay, hay nói chung bằng da).
Trong Đại chiến thứ hai, các nước đã bắt đầu đưa các khả năng Tâm linh vào chiến tranh !
Hiện nay, khó mà nói cho hết các nghiên cứu về Tâm linh trên hành tinh chúng ta. Một là điều này đã trở thành một trong những vấn để cốt từ nhất về quốc phòng. Thậm chí một số nước đang âm mưu sử dụng nó như là một công cụ để bành trướng... Vì người ta có thể dùng các khả năng khủng khiếp này để sát hại một người hay thậm chí một cộng đồng từ xa "một cách vồ hình" !.
Hai là nó liên quan đến mọi người về cái gọi là cái chết, về những khả năng thực sự của mỗi người, về con đường đời nói chung của tất cả chúng ta, về ý nghĩa sự sống, về phương hướng, chiến lược giáo dục cho con em trong tương lai.
Khoa học các hiện tượng Tâm linh sẽ trở thành khoa học thống soái của các thế kỷ sau, cũng như khoa học Vật lý là đế vương của thế kỷ này. Khoa học Tâm linh sẽ là một khoa học mang tính chiến lược cao nhất nói chung, cũng như tính nhân văn chiến lược cơ bản nhất.
Bây giờ, xin trích một số đoạn nói về Tâm linh dưới dạng Vô thức hướng về chủ nghĩa nhân văn của một triết gia nổi tiếng là A.E.Scherozỉa, đọc trong Hội thảo về Vô thức tại Tbìlisie năm 1979.
II-vô THỨC VÀ Sự SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT, CẢM THỤ NGHỆ THUẬT DƯỚI CON MẮT của MỘT NHÀ KHOA HỌC Tây PHƯƠNG (A.E.SCHEROZIA)
"Những nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động của Vô thức với nghệ thuật và sự thụ cảm nghệ thuật đã sản ra một khối lượng mênh mông các sách báo, tác phẩm. Điều này sở di xảy ra được là do những vấn để tương tự như thế lại được tiến hành đồng thời với những quan điểm không những thuộc những trường phái khác nhau và xu hướng khác nhau, mà còn thuộc những ngành khoa học khác nhau. Quan tâm đến sự phân tích những vấn để đó không chỉ là các nhà tâm lý học, mà còn các nhà phân tâm học, các nhà nghiên cứu nghệ thuật, các chuyên gia về các vấn đề thuộc phạm vi nhận thức, sáng tạo, thẩm mỹ.
Trên bình diện thứ nhất là các nhà sinh lý thần kinh, các nhà điều khiển học. Còn trên bình diện thứ hai là các nhà nghiên cứu lịch sử các nền văn hóa, các nhà nhân chủng học, các nhà nghiên cứu văn học, ngôn ngữ học.
Có thể nói một cách tin chắc rằng chính khoa Tâm lý sáng tạo đã trở thành một lỉnh vực kiến thức mà - mặc dầu tư tưởng về Vô thức chưa được hoàn toàn xây dựng, mặc dầu chưa hề tồn tại một sự nhất trí nào về quan niệm, chức năng của Vô thức, và vai trò của nó trong cuộc sống tinh thần con người và đã trải qua hàng chục năm không suy sut - cũng đã có tư tưởng đưa nó thành một phạm trù công cụ, và sử dụng tư tưởng này như một trong những khái niệm cơ bản dùng để lý giải tâm lý sáng tạo.
Trong một vài trường hợp, sự kêu gọi khái niệm Vô thức đã mang một hình thái rỗ nét đến nỗi khái niệm này đã trở thành nhân tố quyết định hoàn toàn quá trình hình thành của hình tượng nghệ thuật, nhân tố độc nhất có thể cho phép lý giải được quy luật và cơ chế tâm lý, làm cơ sở cho sự hình thành hình tượng đó.
Người ta còn cho rằng nếu nhà nghệ thuật còn ngôn ngữ hóa (verbaliser) chủ đề sáng tạo của mình, và lại xác định ý nghĩa của sáng tạo đó thì, bằng cách này, nhà nghệ thuật hoặc đã phá hủy sáng tác của mình (nếu sự nhận ‘thức đó đã xảy ra trong quá trình tạo ra hình tượng nghệ thuật), hoặc đã làm cho sáng tác đó méo mó (nếu sáng tác đã hình thành), và sáng tạo này chỉ mang bản chất : "giả nghệ thuật" (pseud-O-artistique).
Liệu sự xê xích lại gần nhau giữa tư tưởng Vô thức và các quan điểm về sáng tạo nghệ thuật có làm cho nghệ thuật sinh sôi nảy nở hay không ? Câu trả lời không hoàn toàn đơn giản. VÌ sao ?
Một mặt không thể chối cãi được là hiện tượng xích lại gần nhau đó đã nhấn mạnh được sự hợp tác đặc thù giữa các dạng hoạt động Vô thức với các quá trình tạo các hình tượng nghệ thuật. Đây là một sự kiện không những có thực, mà còn có tẩm quan trọng đến nỗi nếu chúng ta bỏ qua sự kiện này, thì chúng ta sẽ tự mình thủ tiêu mọi khả năng phát hiện cả những quá trình tâm lý dẫn đến sự tạo thành hình tượng nghệ thuật, và ngay cả cấu trúc chức năng của chính hình tượng đố, hiểu theo nghĩa tâm lý.
Mặt khác, sự thâm nhập của Vô thức vào lý thuyết thẩm mỹ, ngay từ khi chưa có một sự giải thích khoa học nào về tư tưởng Vô thức đó, khá lâu đã trở thành một trở ngại cho việc sử dụng hợp lý tư tưởng này, và đã làm cho tư tưởng đó bị méo mó, từ chỗ làm công cụ có hiệu quả cho sự phát triển của tâm lý học sáng tạo - một tiểm năng vốn đi của nó - đã biến thành một chướng ngại vật không thể vượt qua được cho mọi tư duy sâu sắc chân chính đối với các lĩnh vực kiến thức có liên quan đến tư tưởng đó.
Chúng ta hãy xét vấn đề tham gia của Vô thức vào sự hình thành các tác phẩm nghệ thuật. Trong số các đường nét các hình, các sắc thái về màu hay âm thanh, các cấu trúc âm điệu, các đặc điểm của những sự phối hợp motip đa dạng, cảm thu được qua thính giác hay thị giác, và ngay tính cách của các tiêu để văn học hay của các nhân vật ưu tiên, thì nhà nghệ thuật sẽ dựa vào đâu để có các quyết định lựa chọn có hiệu quả ? •
Chỗ dựa là những cái không có hình thức, nghĩa là ờ những quá trình và motip mà nhà nghệ thuật đã giữ lại "không bằng lời". Đó là cái được nhận thức không thể đầy đủ hay là hoàn toàn không thể nhận thức được. Hiện tượng này là thông thường và đương nhiên. Sự phụ thuộc của các tác phẩm nghệ thuật vào hoạt động Vô thức trên bình diện này về thực chất không thể gây một điều ngờ vực nào. Sự phụ thuộc này lại được liệt vào số các sự kiện xem không thể chối cãi được trên kinh nghiệm, và ngay từ lâu, đã trở thành đối tượng nghiên cứu có tính chất điều khiển học, lý sinh học, cho đến các nghiên cứu có tính chất phân tâm học và triết học. Người ta đã đi sâu được vào lĩnh vực này một cách đặc biệt trong những năm gần đây, sau khi đã tập trung chú ý đến các vấn đề thuộc vai trò của trực giác trong những hình thái hoạt động trí tuệ và thích nghi khác nhau.
Những bài toán khó khăn nhất là hãy xác định xem trong mối quan hệ giữa Vô thức và hình tượng nghệ thuật thì những cấu trúc chức năng nào của hình tượng được định đoạt bởi mối quan hệ đó.
Nói cách khác, có thể nêu lên các câu hỏi sau :
- Trong một hình tượng nghệ thuật, những gì là được Vô thức tạo ra ?.
- Những đường nét nào của hình tượng sẽ được hiểu sâu hơn nếu chúng ta kể đến nguồn gốc Vô thức của hình tượng đó ? * - Liệu có tồn tại những mối liên hệ nào giữa sự sản sinh ra hình tượng nghệ thuật do hoạt động của Vô thức và có ảnh hưởng đến sự cảm thụ của khán giả ?
Rõ ràng đó là những bài toán hết sức phức tạp, cũng như đó là những bài toán chưa được nghiên cứu bao nhiều. Tuy vậy, không thể không xem xét những bài toán như thế.
Hình tượng nghệ thuật là một sự khái quát của thực tại. Nhưng sự khái quát này lại không tương đương với ngồn ngữ duy lý, hay với hình thái hình thức hóa (formalisation) của khoa học tự nhiên.
Như thế, ngay từ đầu, chúng ta gạt được ra ngoài mọi khả năng trượt vào những sản phẩm chỉ có tính chất phổ biến, là những cái không sử dụng các đặc thù của ngôn ngữ thẩm mỹ, của tính chất quy ước của ngôn ngữ đó, của tính chất không tương thích về mặt nguyên tắc của ngôn ngữ với các tư tưởng đơn điệu và các phản ánh tâm lý một cách tẩm thường mà, trái lại, đã đạt được những ẩn ý thầm kín của các hình tượng nghệ thuật, là những cái đã tạo nên được nội dung thực chất trên bình diện thẩm mỹ.
B.V.Leontev, nhà nghiên cứu nổi tiếng Liên Xô về các vấn đề lý thuyết nghệ thuật, trong cuốn sách chuyên san của ông, đã dẫn ra được khá nhiều ví dụ về những cảm xúc thầm kín của các hình tượng nghệ thuật với tính phức tạp của chúng, cũng như đã nói lên được sự khác biệt giữa ngôn ngữ nghệ thuật với ngôn ngữ của sự nhận thức duy lý. Những ví dụ này cũng xuất hiện trong công trình của một số tác giả nước ngoài.
Chân lý của nghệ thuật là một chân lý "không trực tiếp", và cái chân lý hiểu theo nghĩa "không trực tiếp" này thì lại là chân thực ở mức độ cao, hiểu theo nghĩa thẩm mỹ. Cách hiểu đồng nghĩa chủ nghĩa hiện thực với chủ nghĩa tự nhiên trong nghệ thuật sẽ dẫn đến hậu quả là giảm giá trị của nghệ thuật đến tối thiểu.
VÔ THỨC VÀ DUY LÝ
Bây giờ chúng ta đã có thể xướng lên tư tưởng chủ yếu cần phân tích. Nếu chúng ta chú ý đến vai trò của Vô thức trong hoạt động của nhận thức, thì chúng ta sẽ thấy rằng một trong những đặc điểm của Vô thức là : Trên cơ sở của Vô thức, thường hay xuất hiện những tri thức mà không thể đụt tới được nếu chỉ dựa vào Duy lý, vào logic (hình thức, NHP), vào ngôn ngữ, nghĩa là chi dựa vào những kình nghiệm đã đạt được.
Một sự "đến sớm hơn" như thế của Vô thức, so với hoạt động trực tiếp của ý thức sẽ xuất hiện một cách rất rỗ rệt, mỗi khi chúng ta chạm phải một bài toán tư duy về những khía cạnh phức tạp nhất của thực tại, của những hiện tượng, biến có hiện ra với nhiều mặt, nhiều thành phần có nhiều tính chất xác định khác nhau (polydéterminé), biểu hiện trong một tình huống ở đó chúng giẫm lên nhau một cách hết sức rối loạn, dưới dạng nhiều mối quan hệ đa dạng đến nỗi mọi cố gắng tìm hiểu bản chất trên cơ sở phân tích lý giải và duy lý, trên cơ sở "phân cắt cái tổng thể" thành từng bộ phận riêng lẻ, phân tích cái "continum" chỉnh thể thành từng thành phần rời rạc, đểu trở thành bất lực.
Và trong những trường hợp này, nếu xảy ra được một điều kiện tâm lý - logic nào đó, thì sẽ xuất hiện một sự viện trợ để nhận thức ”cái không thể chia cắt đó", giúp chúng ta tìm được lối thoát một cách thông minh.
Sự xuất hiện một loại nhận thức như thế được nhận thấy trong rất nhiều kết luận của các bác sĩ lâm sàng, đang chẩn đoán cho những trường hợp lâm sàng khó khăn nhất, trước khi các bác sĩ đó có thể đưa ra những kết luận dựa vào các dụng cụ đo đạc một cách duy lý. Cũng như trong trường hợp phải xác định tính chất của một cảm xúc biểu thị bởi chân dung của một con người - mà không có khả năng phán đoán bàng những hình thức nào - thì Vô thức lại xuất hiện.
Đó cũng chính là những trường hợp cần nhận dạng một tác giả nào đó hay một vai nào đó, từ những chi tiết hết sức đa dạng trong nghệ thuật, từ các tác phẩm giả mạo. Cũng như trường hợp cần lựa chọn danh từ cần thiết để biểu thị một tư tưởng xác định nào đó, và đó phải là một sự lựa chọn chặt chẽ và nghiêm túc, đến nổi điều này chỉ có thể xảy ra trên cơ sở "một cảm giác" của ngôn ngữ, chỉ có tính trực giác mà thôi, mà không phải trên cơ sở các định nghĩa hình thức. Sự xuất hiện những tình huống tương tự như thế cũng có thể quan sát cả trong nhiều trường hợp thuộc thế giới vô cơ, luôn luôn mang trong bản thân mình những dấu vết của một cái gì hao hao như "nghệ thuật".
VÔ THỨC VÀ NGHỆ THUẬT
Ngay chỉ với một trong những ví dụ trên cũng đủ chứng tỏ rằng sự nhận thức cái "không thể chia cắt" đó, sự nhận thức trực giác dựa vào hoạt động của Vô thức, đã xảy ra quá thường xuyên trong các hoạt động tinh thần hàng ngày của chúng ta. Chúng ta cũng bắt gặp được các trường hợp này cả trong những hình thái hoạt động tư duy phân tích, duy lý và logỉc, chẳng hạn trong các cuộc tranh luận kinh điển về vai trò của trực giác trong toán học.
Nhưng vị trí ưu tiên của sự nhận thức "cái không thể chia cắt đó” chính là trong nghệ thuật sáng tạo. Trong quá trình tạo ra những hình tượng thẩm mỹ, thì đã xảy ra cả một dãy những "quyết định" mà nhà nghệ thuật cần phải có để làm hiện ra bằng vật chất (matérialisation) chủ đề thẩm mỹ của mình. Những quyết định này cho phép lựa chọn những hình dạng đúng đán về mặt thẩm mỹ, lựa chọn các vận động, các màu sắc, âm thanh, các danh từ, luôn luôn đều phải dựa trên một sự kết hợp phức tạp giữa những gì mà nhà nghệ thuật đã nhận thức được, như là một môtip cần lựa chọn. Cái môtip cần lựa chọn một cách vô thức như thế tồn tại trong hoạt động của sáng tạo nghệ thuật thực sự và bất cứ trong trường hợp nào. Vì nếu chúng ta gạt bỏ một cách lựa chọn như thế, thì những quyết định cuối cùng cũng sẽ chỉ là một hành động duy lý, rõ ràng được lý giải một cách logic, và chính điều này sẽ phú hủy bản chất của quá trình súng tạo, sẽ vì phạm các cấu trúc tâm lý gắn bó với quá trình sáng tạo đó, và đồng thời sẽ sụp đổ cái hiệu lực xuyên sâu của sự cảm nhận, sụp đổ các khả năng nhận thức được cái "không thể chia cất được", thành những thành phần rời rạc, nghĩa là vi phạm những gì tạo nên cái thế ưu tiên và cơ sở giá trị của một nghệ thuật thực sự.
TÍNH HAI MẶT Ý THỨC - VÔ THỨC
Như thế, nếu gạt bỏ ra ngoài hoạt động sáng tạo nghệ thuật cái chỗ dựa Vỗ thức của nó (nhất thời chúng ta hãy tưởng tượng có một tình huống như thế) thì chúng ta đã hoàn toàn phá hủy tính sáng tạo.
Nhưng mặt khác, nếu đòi hỏi chỉ quy tụ các quá trình sáng tạo nghệ thuật vào hoạt động vô thức, một điều đã từng xướng âm lên như một credo (giáo điều) trong cả quá trình lịch sử của nghệ thuật, thì hiện tượng này chỉ có thể xảy ra với những điều kiện, trong đó, chủ thể hoàn toàn không có một hiểu biết gì về khái niệm ”Vô thức”. Đó cũng là một hiện tượng ngộ nhận tính hai mặt của hệ thống Vô thức - Ý thức, ngộ nhận mối quan hệ thuận và nghịch, tất yếu biểu hiện trong hệ thống Vô thức - Ý thức nói trên. Và từ đó, hiện tượng này là sự ngộ nhận của một trong những quy luật cơ bản của tâm lý học, trong đó quá trình tạo nên cái không thể cảm nhận được lại phụ thuộc vào hoạt động của Ý thức với một mức độ không kém so với sự phụ thuộc và chức năng của Ý thức vào các đặc điểm thầm kín của Vô thức.
VÔ THỨC LÀ SỨC MẠNH VĨNH HẰNG TRONG SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA MỌI NỀN VĂN HÓA
Thành thử chúng ta có thể kết luận : Sự sáng tạo nghệ thuật được xác định - một chừng mức nào đó - trong hoạt động của Vô thức. Và theo nghĩa này, các nguồn gốc sáng tạo là nằm trong "cái phi duy lý". Sự sáng tạo được phát triển chính trong hoàn cảnh các hiệu lực của Vô thức được phát huy : các môtip chọn lựa (các môtip chọn lựa, chứ không phải bản thân sự chọn lựa) trong các quyết định nghệ thuật của nhà nghệ thuật (được biểu hiện một cách liên tục) lại không phải luôn luôn tiếp cận với ý thức của mình. Ngược lại, chính cái hiệu lực này đã đảm bảo được cho nhà nghệ thuật khả năng thu nhận, khả năng phản ánh trong các sáng tạo của mình về các quan hệ phức tạp đến nỗi không có con đường nhận thức nào khác. Chính trên cơ sở này mà nghệ thuật lạo ra cho mình được một sức mạnh, sức mạnh này cho phép giải thích được sự tồn lại vĩnh hằng của nghệ thuật trong mọi nền văn hóa mà con người đã tạo ra được trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại.
VÔ THỨC VÀ NHÂN CÁCH
Tất nhiên, trong quá trình tạo nên những hình tượng nghệ thuật thẩm mỹ, đằng sau khả năng xuyên sâu nói trên, nhà nghệ thuật còn mang đến trong tác phẩm mình mối quan hệ tình cảm chủ quan. Khả năng nhìn xuyên sâu, trong một tỉnh hình như thế, tất yếu sẽ mang đến một tính chủ quan sâu sắc, mang những dấu ấn của chính nhà nghệ thuật và từ đó, cũng như trong mọi biểu hiện khác nhau của các nếp tinh thần của cá thể, khả năng này có thể là tiến bộ, chân thực hay trái lại là phản đông và sai lạc.
Việc dựa vào Vô thức đảm bảo cho nhà nghệ thuật khả năng nhìn xuyên sâu đặc thù, nhưng sự giải thích về ý nghĩa mà nhà nghệ thuật gán cho các sáng tạo của mình, lại phụ thuộc vào nhân cách. Vì thế giú trị nghệ thuật của các sáng tạo hoàn toàn không thể được đẩm bảo bởi cúc khả năng sáng tạo ra cơ sở Vô thức. Giá trị này là một hàm không phải của các đặc điểm tâm lý của quá trình lạo nên sự chọn lọc thẩm mỹ, mà lại của chính vị trí mà hình tượng đã chiếm, và vai trò của nó trong hệ thống các giá trị thẩm mỹ của thời đại. *
Chỉ bằng cách xem xét này - theo ý chúng tôi - thì mới có khả năng thích hợp để giải thích được tại sao lại phát sinh những trào lưu phi duy lý trong nghệ thuật.
TÍNH ĐA HÌNH, ĐA MỨC VÀ TÍNH HỆ THỐNG CỦA VÔ THỨC
Theo tác giả, có khả năng tổn tại ở nhà nghệ thuật nhiều xu hướng trái ngược nhau, gọi là xu hướng đa hình (polymorphe).
Mặt khác, Vô thức có thể biểu hiện một cách đa mức (với những mức độ khác nhau), từ các mức cao nhất trong đó biểu hiện hoạt động tâm thức con người với tất cả các sự phức tạp về mặt cá thể và xã hội, cho đến những mức thẩm mỹ thấp nhất, trong đó giá trị thẩm mỹ được xác định ưu tiên chỉ bởi những đặc tính vật lý.
Khi có Vô thức tham gia vào hoạt động sáng tạo, thì hiện tượng phát huy ở mức độ này hay mức độ khác lại phụ thuộc vào tính đa hình nói trên.
Nếu không tính đến cả hai mặt đa hình và đa mức nói trên của Vô thức, thì dễ rơi vào những cách hiểu phiến diện và quá đơn giản về các biểu hiện của nó.
Cuối cùng, Vô thức là cả một hệ thống cấu trúc tâm lý siêu phức tạp trong đó có cúc cấu trúc tâm lý có thể cảm nhận được cũng như không thể cảm nhận được.
I II - MINH HỌA
PERCEY SHEELEY
Percey Sheeley là một nhà thơ lãng mạn của thế hỷ 19. ông thú nhận :
"Con người là một công cụ ở đó cả một tập hợp cảm giác, cảm tưởng bị xô đầy, trôi dạt. Nó hoạt dộng dường như một chiếc đàn la, cần thích ứng các dây của nó với chuyển dộng của những gì đó đập vào nó...
Nhà thơ tham gia vào cái vỗ cùng tận, vào cái vỉnh hàng và vào cái MỘT".
PLATO
Trong tác phẩm Republic của mình, Plato đã thú nhận :
"Tất cả các nhà thơ lớn sáng tạo ra các tác phẩm đẹp dê của mình không phải do nghệ thuật (hiểu theo nghĩa thông thường, NHP), mà chỉ vì họ đã cảm hứng và bị nhập. Họ sẽ không sáng tạo dược chừng nào họ không ở trong trạng thái dó, nghĩa là lọt ra khỏi các giác quan của mình..."
SAMUEL TAYLOR COLERIDGE
Nhà thơ Anh này xem sự tưởng tượng chỉ là :
"Một sự lặp lại trong một trí tuệ hữu hạn của một sự sáng tạo vỉnh hàng của cỗi vô biên".
ROUNDABOUT PAOERS
Ông viết : '
"Tôi rất lấy làm ngạc nhiên dối với những phát biểu của một số nhân vật của tôi. Dường như có một năng lục vô hình bí ẩn dã làm chuyển dộng ngòi bút của tôi".
AMY LOWELL Nhà thơ Amy Lowel mô tả trường hợp vô thức bất thường của ông trong quá trình sáng tạo : "Tôi không nghe nói từ bên ngoài. Nhưng tôi lại nghe những từ mà không có giọng nói. Những từ dó dường như phát ra từ trong đầu óc tôi". Bà đã sử đụng một hình ảnh như sau : "Nhà thơ hầu như là một chiếc radio có anten, do nhà thơ có khả năng bắt dược các thông điệp chuyển di bằng một loại sóng nào dó. Nhưng nhà thơ lại cao hơn chiếc radio dó, vì nhà thơ có khả năng biến đổi các thông điệp đó thành các mẫu câu mà ta gọi là thơ".
FRIEDRICH NIETZCHE Nhà triết học Nietzche, trong tác phẩm Thus Spuke Zarathustra của mình đã thuật lại rằng tác phẩm của ông là sản phẩm của một dòng thác không thể điều khiển được về cảm hứng sáng tạo. Ông viết : 'Nó xâm chiếm lấy tôi. Người ta khó lòng gạt bỏ ý nghỉ cho rằng nhà văn chỉ là một người phát ngôn, hay là một nhân vật trung gian của một mãnh lực toàn năng nào đó... Không thể nói là ai dã viết.. Còn các tia chớp thì vụt rất nhanh, không thể cưỡng lại được. Tôi không bao giờ dặt vấn dề lựa chọn các tia chớp dó".
ROBERT LOUIS STEVENSON • Nhà viết tiểu thuyết này viết : 'Toàn bộ các tác phẩm của tôi dường như chỉ là sản phẩm của một cộng tác viên vô hình nào dó".



Premier tablanu peint en 1926 par Augustin Lesage : au centra, microscopique, une croix.
Hình 147. BÚC HỌA TRONG VÔ THỨC CỦA AUGUSTIN LESAGE NĂM 1925, MỘT NGƯỜI THỢ MỎ KHÔNG HỀ BIẾT VẼ
I V - NGOẠI CẢM MỞ
Cận Tâm lý học sáng tạo đang dần dần mở ra một con đường đầy tính nhân văn sâu xa cho nhân loại. Đó là Khoa học Ngoại Cảm Mở (Open Channeling).
Trong các cận hệ thống nghiên cứu bởi tập hợp các Cận khoa học, thì các hiện tượng Trực giác, Cảm hứng, Sáng tạo, từ lâu hiện ra thật sự khó hiểu đang được Khoa học phanh phui dần dần và gọi là Ngoại Cảm Mở. Một số nhà khoa học nhìn nhận rằng mỗi một chúng ta đều ít nhiều có ngoại cảm mở.
TRỰC GIÁC, CẨM HỨNG
Trực giác và cảm hứng là những quá trình trong đó chủ thể ở trạng thái bị động. Theo các cấu trúc chức năng, thực thể, bản thể của các cơ thể Thiên và cơ thể Ketheric mẫu của bình diện Tiên thiên, thì đó là những nơi khu trú các cảm xúc cao cấp, tức là nơi khu trú của trực giác và cảm hứng nghệ thuật và hình thành những quan điểm tổng hợp nhất của con người. Cơ chế hoạt động của hiện tượng là một quá trình cộng hưởng harmonic nào đó với Vũ trụ.
SÁNG TẠO
Sáng tạo là một quá trình nói chung mang tính chủ động hơn của chủ thể, so với trực giác và cảm hứng. Nơi khu trú của Sáng tạo phần lớn cũng là các cơ thể Thiên và Ketheric mẫu. Nhưng sự chủ động của chủ thể lại liên quan đến Ý thức, khu trú tại các cơ thể Tâm thần và Cảm xúc của bình diện Hậu thiên.
Thành thử, trong trường hợp này, nơi khu trú của sáng tạo là cơ thể tổng hợp các cơ thể Ketheric cơ thể Thiên, cơ thể Tâm thần và cơ thể Cảm xúc, trong đó có thể Ketheric kết hợp với cơ thể Tâm thần, còn cơ thể Thiên với cơ thể Cảm xúc.
Theo Hamesh Maharishi (trường Đại học quốc tế MIU) và nhà ngoại cảm nổi tiếng J.A.Young thì Tâm thức bao gồm cả Vô thức cả Ý thức gọi là Tâm thức Vũ trụ.
Chú ý
Những sáng tạo qua thôi miên, chẳng hạn thực hiện bởi nhà thôi miên quốc tế Vladimir Raikov (Nga), trong đó chủ thể hoàn toàn không có ý thức gì được liệt vào loại sáng tạo bị động. ■
NHẬN XÉT CỦA TÁC GIẢ (NHP)
Chúng ta nhận thấy có một số minh họa bản thể của một số mối quan hệ trong Kinh Dịch :
Mối quan hệ giữa Ý thức và Vô thức minh họa mối quan hệ giữa Quẻ Ngoại và Quẻ Nội và nói riêng giữa hào 1 và hào 4 (cơ thể Ketheric và cơ thể Tâm thần), giữa hào 2 và hào 5 (cơ thể Thiên và cơ thể Cảm xúc).
Đặc biệt, trong nghệ thuật, tính "không thể chia cắt được” lại mang màu sắc holistic Đông phương.
Như thế, qua các giới thiệu sơ bộ về một số Cận khoa học tiếp cận với Đại Ngã, chúng ta đã có những tư liệu ban đầu để suy ngẫm vế
MỐI QUAN HỆ KHẢ DÍ GIỮA CÁC CẤU TRÚC TIÊN THIÊN - HẬU THIÊN CỦA NHÂN THỂ VỚI CẤU TRÚC CỦA CHU DỊCH (64 QUẺ Văn VƯƠNG)
Điều này có tẩm chiến lược ở chỗ nếu Kinh Dịch mang được các cấu trúc chức năng, thực thể và genetic - bản thể đúng đán của nó như thế, thì đó sẽ là những tiền đề cơ sở để xây dựng một cách khoa học các cấu trúc của thực tại, liên quan mật thiết đến cuộc sống hàng ngày của từng người và từng cộng đồng, giải quyết được bài toán cấu trúc tinh thần, Tâm linh, Đạo lý trong sự tiến hóa của nhân loại chúng ta trong tương lai.
V - MỘT LOẠI PHẢN ỨNG CỦA TRƯỜNG SINH HỌC KHI CẦN ĐỐI PHÓ, PHÒNG VỆ
Và để bạn đọc nhận rõ hơn hoạt động của nhân thể về mặt tinh thần, Tâm linh nói chung, chúng tôi đưa ra sau đây một bức tranh hoạt động vô hình của Trường sinh học nhân thể (Hình 148).
Trong bức tranh này, từ trái sang phải và từ trên xuống dưới là các dạng của Trường sinh học để đối phó, phòng vệ khi chủ thể bị tấn công :
- Dạng con nhím (porcupine) : Trường sinh học có nhiều gai, nhọn, sắc. Một người ngoại cảm có thể có cảm giác các gai đó đâm vào mút các ngốn tay minh.
- Dạng "rút lui” (withdrawf) : Một phần Trường sinh học rời bỏ trong giây lát thân thể dưới dạng một đám mây (màu xanh nhất), trong lúc đó thì mắt trông đờ đẫn, bề ngoài thì làm ra vẻ đang lắng nghe...
- Dạng "vía lệch ra cạnh" (beside himself). Trường sinh học lệch một phần ra ngoài cơ thể vật lý trong một thời gian có thể khá lâu (có lúc đến mấy năm). Các cơ thể thuộc bình diện Tiên thiên một phần tách ra và lơ lửng bên ngoài. Trong thực tiễn, hiện tượng này thường được gọi là "mất linh", hay "mất vía" hay là "cái linh đã bỏ đi...". Và việc của nhà ngoại cảm là làm sao "gọi, bát, vía, linh về...".
- Dạng "khước từ miệng" (verbal denial). Xuất hiện nhiều năng lượng màu vàng ở đầu, với hiện tượng tắc nghẽn trầm trọng ở cổ, Trường sinh học suy yếu hẳn ỏ phần dưới của cơ thể, với màu sác nhợt nhạt, bất động. Biểu hiện "hữu hình” là dùng lời nói để khước từ, do đó năng lượng Trường sinh học được duy trì về phía trên của cơ thể.
- Dạng "hút vào" (oral stucking). Chủ thể, để phòng vệ, hút năng lượng Trường sinh học của người xung quanh.
- Dạng "dao quắm" (hook). Đây là trường hợp chủ thể đang đối đầu với một người hay một nhóm người khác. Hình thành một con "dao quắm" nơi đỉnh đầu của chủ thể, có thể phóng đến đối thủ và "tóm lấy đầu" đối thủ đó.
- Dạng "vòi" (tentacules). Các vòi của chủ thể với tới Đám rối Mặt trời (Plexus solaire) hay Luân xa 3 của đối thủ, để đoạt lấy nguyên khí nơi đó, "lôi" nguyên khí đó ra ngoài. - Dạng ác khẩu "những mũi tên mồm" (verbal arrows). Trường sinh học của chủ thể làm bắn nhiều mũi tên, bay trong không gian, gây đau đớn cho đối phương qua ác khẩu, đồng thời làm nhiễu Trường sinh học của đối phương. Các mũi tên này chọc tức đối phương, đồng thời giải tỏa cơn giận của chủ thể. - Dạng "phối hợp" (combination). Chủ thể bắn các mũi tên mồm về phía trên thân thể, để làm bẽ mặt đối phương, đồng thời né tránh cảm giác của chính mình, "dồn" về phía dưới thân thể. - Dạng "cuồng loạn" (hysteris). Chủ thể phản ứng lại các mũi tên của đối phương bằng cách làm nổ bùng sự thịnh nộ của mình, để nhiễu Trường sinh học của đối phương. Qua sự thịnh nộ này, nhiều tia chớp đủ màu sẽ tóe ra một cách hỗn loạn. - Dạng "ngăn biên giới" (boundary containment). Chủ thể tự rút lui ra khỏi tỉnh huống bị đối phương tấn công bằng cách củng cố biên giới của mình. - Dạng "phô trương quyên lực/ý chí" (power/will display). Chủ thể này chỉ đơn giản tuyên bố quyền tối thượng của mình làm đối phương e sợ.
