TH Tích hợp đa văn hóa Đông Tây

Tập V — Các hệ 64 Quẻ — cơ sở di truyền, Phong Thủy

Chương 66

Về Cận Hóa học

Trang 964–974 của bản in·Xem ảnh quét
964HỆ 64 QUẺ - CÁC CẬN KHOA HỌC

VỀ CẬN HÓA HỌC

Theo định nghĩa, Cận Hóa học nghiên cứu những quá trình biến hớa có liên quan đến Đại Ngã tức là Tâm linh, các quá trình này liên quan đến Vũ trụ. Theo Lão Giáo, Cận Hóa học là liên quan đến Chân không hay là Đạo, do Đạo - Chân không đóng vai Vũ trụ.

I - CÁC VẬT BÁU CỦA THIÊN - ĐỊA - NHÂN

Chúng ta hãy nhắc lại những vật báu của Thiên - Địa - Nhân :

- Thiên có ba vật báu là : Nhật, Nguyệt, Tinh tú.

- Địa có ba vật báu là : Phong, Thủy, Hỏa, - Nhân có ba vật báu là : Tinh, Khí, Thần.

BA VẬT BÁU CỦA Trời :

Chúng ta đã thấy vận dụng trong học thuyết Độn Giáp, mà cổ nhân gọi là Tam Kỳ, tương ứng với các Can Ất, Bính, Đinh.

BA VẬT BÁU CỦA ĐẤT :

Chúng ta đã thấy trong Bát Quái : Âm Mộc Phong, Âm Thủy và Dương Hỏa.

- Phong đi với Quẻ Tốn, Kinh Đởm, Mạch Đới - Hỏa di với Quẻ Ly, Kinh Phế, Mạch Nhâm, - Thủy đi với Quẻ Khảm, Kinh Bàng Quang, Mạch Dương Kiểu.

Tụy nhiên, chúng tôi chưa khai thác được ý nghĩa của ba vật báu này của Địa

BA VẬT BÁU CỦA NGƯỜI :

chưa được kẻ phàm phu chú ý tới một cách có hệ thống (trừ cái Tinh hiểu theo nghĩa thông thường là chất lưu tinh dục).

Vàng, Bạc, Platine... cũng là những vật báu - theo một nghĩa nào đó của Diêm Phù Để - nhưng không được cổ nhân xếp vào loại đáng ghi nhớ, khi dạy dỗ cho con cháu.

965TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Điều cổ nhân dạy về vật báu trong con người là : Tính sinh Khí, Khí sinh Thần, và cần luyện tập như thế nào để tạo ra được Thần thăng hoa (sau này sẽ nói với). Để làm gì ?.

Để trở về với Đại Ngã, với cội nguồn...

Quá trình rèn luyện này, cổ nhân gọi là ;

Giả KIM THUẬT (ALCHIMIE) ĐÔNG PHƯƠNG

Tất nhiên, Giả Kim Thuật còn có nghĩa là các quá trình biến hạt nhân chỉ... thành hạt nhân vàng, bạc, không theo các nguyên lý của Hóa học Tây phương là một khoa học xuất phát chỉ từ cõi Trần hay cõi Vật lý, với các định luật của Cơ học lượng tử, Hóa lượng tử, dựa vào Vật lý học nguyên tử và phân tử.

Giả Kim Thuật đi xa hơn với những định luật nào đó còn chưa rõ của các cõi cao hơn của thực tại hàng ngày của chúng ta....

II - sự THỐNG NHẤT GIỮA RỒNG XANH VÀ Hồ TRẮNG (THANH LONG VÀ BẠCH Hổ)

A- NGUYÊN LÝ ÂM DƯƠNG CỦA GIẢ KIM THUẬT TINH - KHÍ - THẦN

Giả Kim Thuật Lão Giáo (Sách Rượu Tràng Sinh) nói : "Với Trời làm bát, với Đất làm lò, hãy bốc thang thuốc con thỏ đen, sau đó đun nó lên "(theo sách Taoìsme, la quêta de 1’ỉmmortatlité, Lão giáo, đi lìm cái bất tử của John Blofed. Editions Danglas).

Trong sách này, Trời trỏ Nghi Dương. Đất trỏ Nghi Âm, màu đen trỏ Dương, màu trắng trỏ Âm. Trong sách Tam Hợp cổ Trung Hoa, Dương và Ẳm lấy tên là các nguyên lý Thanh Long và Bạch Hổ. Sự thống nhất giữa Âm và Dương được gọi là sự thống nhất giữa Rồng xanh và Hổ trắng. Nguyên lý thống nhất này được vận dụng trong Giả Kim Thuật Lão Giáo như sau :

"Khi đã thực hiện được các năng lượng Rồng xanh và Hổ trắng, sẽ thu được một dòng khí trong suốt của Tâm linh thuần khiết ngũ sắc, bay lên từ bát nung". (Sách Tam Hợp).

Về mặt kỹ thuật, hiện tượng này gọi là sự cấy giữa hai người, với các thành phần : Một người đàn ông là một nhà Yogi chẳng hạn và một người đàn bà. Hai người giao hợp với nhau, nhưng tuyệt đối không cho những ý nghỉ dâm dục điều khiển động tác này, nhà Yogi hoàn toàn không bị sai khiến bởi những sức mạnh của tỉnh dục.

Nhưng trước khi xuất hiện cảm giác khoái lạc của tỉnh dục (ogasme), nhà Yogi - do có một kỹ thuật nào đó - ghìm được không cho Tinh dục thoát ra ngoài, mà lại cùng Tinh của người phụ nữ (cần phân biệt khái niệm Tinh trong Tinh - Khí - Thần với chất lưu tinh dục thông thường) chảy ngược lên một vùng nào đó, nằm ở dưới rốn. Tại đó, hai Tinh của nam, nữ hòa lại với nhau.

Sau đó, nhân tố Khí trong hệ Tinh - Khí - Thần thổi vào cái Tinh đã hòa hợp này, và biến nó thành một chất rất tinh tế.

966HỆ 64 QUẺ - CÁC CẬN KHOA HỌC

Sau cùng, nhờ những kỹ thuật Tinh - Khí - Thần khác, người Yogi tạo ra được một chất khác, gọi là cái phôi Tâm linh, hay phôi Thể xác - Tâm linh, hay là "viên thuốc vàng”.

Chất này thăng lên trên dọc theo một đường kênh tâm thức nào đó, cho đến một vùng nào đó (một lỗ hổng) nằm gần đỉnh đầu.

Kỹ thuật thống nhất Rồng xanh và Hổ trắng không đơn giản, vì thế nhà Yogi phải am hiểu các kỹ thuật và thủ tục sau :

- Phải biết các thế nằm, ngồi xác định, - Phải biết xác định đúng các nhịp hành động, - Phải biết dùng thức ăn thích hợp, • - Phải biết chọn thời gian thích hợp, - Phải biết bắt lấy Tinh của người phụ nữ, - Phải biết trộn hai chất Tinh nam, nữ lại với nhau, - Phải biết cách đưa chúng lên vùng dưới rốn (champ de cinable infericur)...

B - CÓ Sự KHÁC NHAU GIỮA ĐÀN ÔNG VÀ ĐÀN BÀ ?

Một vấn để đặt ra là : Trong khi hòa hai chất Tinh của đàn ông và đàn bà lại với nhau thì lợi ích đối với hai bên có như nhau không ?

Trong một số tác phẩm có nói : hoạt động giao hợp trên để hòa Tinh, sẽ giúp cho người đàn ông sống lâu hơn và giúp người đàn bà chữa được một số bệnh.

III - CHẤT RƯỢU TRÀNG SINH

Trong lịch sử Trung Hoa có nói rằng Hoàng Đế đã đạt được sự bất tử sau khi uống một chất rượu tràng sinh nào đó, được tỉnh khiết hóa chín lần. Một số huyền thoại nói rằng đã có các thần linh hỗ trợ cho Hoàng Đế, bằng các bài học làm sao "làm chủ được gian phòng" của Hoàng Đế. Theo huyền thoại, trong số thần linh này có một nữ thần tên là Nữ Thần Bình Dị, đã cho Hoàng Đế 90 bài thuốc về chất rượu tràng sinh đó.

A - CÁC THÀNH PHẦN CỦA CHẤT RƯỢU TRÀNG SINH

Ngày trước người ta tin rằng cây cỏ và khoáng vật có khả năng làm cho con người trẻ lại (cải lão hoàn đồng). Trong cuốn sách mang tên Pen Ts’ao, một trong những cuốn sách cổ nhất của Trung Hoa, có đoạn :

Thần sa đã được sử dụng từ lâu, vì người ta cho rằng chất thần sa cho phép giữ các phẩm chất vật lý và tinh thần được trẻ trung và làm cho con • người được nhẹ nhõm.

Một trí thức nổi tiếng của Trung Hoa cũng đã viết : Dùng thần sa càng nhiều, thì các biến chuyển càng sâu sắc, và lạ thường. Cũng như vàng, người ta có thể

967TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

làm tinh khiết thần sa năm trăm lần mà không làm thay đổi thành phần của nó. Cả thần sa, cả vàng đều giúp con người tiến tới sự bất tử.

Theo nhiều tác giả, các thành phần cẩn gia thêm vào thần sa và vàng để tạo ra chất rượu tràng sinh là bạc, một loại cây mè nào đó, ngọc trai, ngọc thạch... và nhiều thứ khác. Tuy nhiên, các tác giả đều không thống nhất với nhau đối với các chất này. Mặt khác, có người lại ghì tên các chất đó dưới dạng mã số rất khó giải...

Những cái khó nhất cho người luyện và dùng rượu tràng sinh là người đó có thật sự đi theo con đường Đạo hay không, vì...... các bí quyết của rượu này chỉ được phép truyền cho các đạo sĩ. Còn đối với người tầm thường, dù có hàng đống ngọc thạch cũng không thể mua được các bí quyết của rượu tràng sinh.

B - MỘT SỐ CHÍ DẪN KHÁC

Trong quá trình pha chế rượu tràng sinh, cần phải tuân thủ một số chỉ dẫn sau :

- Không nên có quá ba người giúp việc (để đảm bảo bí mật ?), - Cần nhịn ăn trong 7 ngày, - Cần tắm trong nước thơm, tại thời điểm giữa trưa, khi năng lượng Mặt Trời thu được là cực đại.

- Những ngày tốt nhất là ngày mồng năm tháng năm Âm lịch và ngày mồng bảy tháng bảy Âm lịch.

- Cách pha chế chất "màu vàng bí ẩn" : Ném 20 Kg thủy ngân và 40 Kg chì trong một nổi bàng sắt, đặt trên một lò lửa. Một dòng khí màu tím hay vàng bay lên, mà chúng ta cần phải hứng bằng một cái thìa bằng sát, rồi đổ vào một bình chứa làm bằng tre. Nấu những thứ đó khoảng 100 lần với sulfua arsenic và thần sa lỏng.

Một số chỉ dẫn khác :

- Hãy trộn các chất này (tức là các thành phần cần thiết của rượu tràng sinh) trong một bình sắt, và sau đó nấu lên 9 ngày và 9 đêm liên... Các viên thuốc thu được gọi là "hoa đó". Có tất cả 9 viên như thế, và viên nào cũng chứa thần sa và 5 kim loại quý.

Theo một trường phái, cần có một loại nấm nào đó. Còn các thứ kim loại quý là : "Đất cát đỏ" (thần sa), "lòng trứng vàng" (sulfua arsenic), "bà mẹ mây" (mica), "hoa khoáng" (quartz), "sữa tình yêu" (nhiều loại vú đá - stalactìtes).

Theo một trường phái khác nữa thì sau khi uống rượu tràng sinh xong, cẩn phải đi bộ. Khi đi bộ, con người sẽ nống lên, nhưng sau đó cảm thấy lạnh. Lúc này cần cởi áo quần ra, tát nước lạnh vào người, sau đó dùng một bữa cơm lạnh, và uống rượu nóng có thêm gia vị. Còn.có một số căn dận khác về việc tắm rửa và ăn mặc, nếu không tuân thủ thì "người tập sẽ có da và thịt cũng như da thuộc".

Những vị thuốc càng thần diệu bao nhiều thì càng nguy hiểm bấy nhiều. Tuy nhiên, cũng có kẻ làm liều và vấp phải những tai họa lớn. Chẳng hạn, có nhà vua lâm vào thế quá mệt mỏi, sau khi dùng "thuốc tràng sinh", Triều đỉnh không ngăn được nhà vua đó tự sát. Có nhà vua khác dùng quá liều, rồi chết. Một nhà vua

968HỆ 64 QUẺ - CÁC CẬN KHOA HỌC

nữa, sau khi uống "thuốc tràng sinh" lại nổi lên những cơn giận dữ khủng khiếp, và sau đó chết vì một cơn điên dại...

Mặt khác, liều lượng các thành phần của rượu tràng sinh còn phụ thuộc vào cơ thể riêng của từng người. Do đó, một thứ rượu tràng sinh này tuy cố hiệu quả đối với một người này, lại vô hiệu đối với một người khác, thậm chí lại nguy hiểm. Chẳng hạn, dưới thời nhà Hán, một trí thức dùng rượu tràng sính đã sống rất thọ, trong khi đó, nhà vua - cũng dùng thứ rượu đó - lại đâm ra mơ mộng, rồi... chết sớm.

IV - GIẢ KIM THUẬT TRÊN TÁM BƯỚC Sự BẢO VỆ, NUÔI DƯỠNG VÀ CHUYỂN HÓA TINH - KHÍ - THẦN

A - TINH - KHÍ - THẦN LÀ GÌ ?

• Sau đây chúng tôi trích đăng một số nhận thức của tác giả Tây phương John Blofeld về các khái niệm Tinh - Khí - Thần.

Tinh

A. TINH ỏ DẠNG THÔ

Tinh ở dạng thô là cái năng của chất tinh dục. Nó có quan hệ mật thiết với chất tinh dục đó.

B. TINH Ó. DẠNG THĂNG HOA

Tinh ở dạng thăng hoa là cái làm cho vật chất có một hình dạng và một thực thể c. TINH ỏ DẠNG vũ TRỤ

Tỉnh ở dạng Vũ trụ là cái làm cho Đạo, ban đầu chưa được phân hóa, có được một hình dạng có thể sờ mó được.

Khí

A. KHÍ ô DẠNG THÔ

Đó là cái năng của khí, liên quan mật thiết đến khí này.

B. KHÍ ỏ DẠNG THĂNG HOA

Đó là thành phần đối - vô hình (countepart) tương ứng với dạng thô.

c. KHÍ ỏ DẠNG VŨ TRỤ

Thực thể này tương ứng với cái Đức của Đạo, thấm vào mọi vật.

Thần

A. KHI ở DẠNG THÔ

Đó là một thực thể còn có thể bị làm bẩn bởi các cảm giác do các giác quan và các suy nghĩ sai lầm. j

B. KHI ỏ DẠNG THĂNG HOA

Không còn bị các cảm giác do ngũ quan và các suy nghỉ sai lầm làm bẩn.

969TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

c. KHI ỏ DẠNG VŨ TRỤ

Đó là cái Chân Không thuần khiết, chưa phân hóa.

Cần nói thêm rằng theo Đông Y học thì :

Phế tàng phách, chủ khí, Tâm tàng thần, giữ vai quan chủ, Can tàng hồn và huyết, hồn là phụ tá của thần, Thận tàng tinh và chí

Tỳ tàng ý và trí.

Mệnh Môn là Thái Cực trong thân người. Tinh của nam giới hay huyết của nữ giới đều tụ ở đây. Các nhà đạo sĩ thì gìn giữ để tu luyện, người thường thì thuận theo sự phát dục để sinh ra người, (y tông Tâm linh, Hải Thượng Lãn ông, tập I).

Qua các điều nói trên, rõ ràng chúng ta còn quá thiếu ngôn từ để xác định Tỉnh - Khí - Thần. Đó là một điều tất nhiên. Nhưng chúng ta vẫn tiếp tục...

B 7 GIẨ KIM THUẬT TRÊN TÁM BƯỚC Bảo VỆ, NUÔI DƯỠNG VÀ CHUYỂN HÓA TINH - KHÍ - THẦN

1. Các nguyên lý chung

Giả Kim Thuật hay là Cận Hóa học trên 8 bước là nghệ thuật bảo vệ, nuôi dưỡng chuyển hóa Tinh - Khí - Thần nhằm đem con người trở lại nguồn, tức là đem cái bất tử đến cho con người. Nghệ thuật này dựa trên các nguyên lý sau, đồng nhất với các nguyên lý của Kinh Dịch. Cho nên có thể nói ngay từ đầu rằng Giả Kim Thuật Đông phương, hay là Cận Hóa học là đồng cấu với Kinh Dịch trên cơ bản.

NGUYÊN LÝ PHÂN HÓA CỦA LÃO TỬ

Trong Đạo Đức Kinh của Lão tử có câu :

Một sinh hai, hai sình ba, ba sinh ra muôn loài, Một là Thái Cực, Hai là Âm Dương, Ba là Tinh Khí Thần. Điều này chúng ta đã đề cập đến trong phần Đại cương.

NGUYÊN LÝ Phản PHỤC

- Quá trình "Đi" : Chân Không - Đạo sản ra Âm Dương, Âm Dương trở thành Thần, Thần biến thành Khí, Khí biến thành Tinh, Tinh biến thành muôn loài có hình hài.

ĐÓ LÀ QUÁ TRÌNH Tự. ĐI LÀ TỰ.

- Quá trình "Về" : Muôn loài hợp thành Tỉnh, Tinh trở thành Khí, Khí trở thành Thần, Thần trở thành Âm Dương, Âm Dương hòa hợp tạo nên Thái Cực : Chân Không - Đạo.

ĐÓ LÀ QUÁ TRÌNH TẤN. VỀ LÀ TÁN.

970HỆ 64 QUẺ - CÁC CẬN KHOA HỌC

Quá trình trở về này chính là con đường đi tìm cái bất tử của Giả Kim Thuật. Sách xưa nói : "Tâm linh của kẻ bất tử có thể rời bỏ thể xác khi nào nó muốn. Khi thể xác mất đi, Tâm linh đó trở về với Đạo, và sống vĩnh viễn. Trái lại, với một người chưa đạt tới cái bất tử trong quá trình sống trên Quả Đất thì, sau khi chết. Tâm linh đó chỉ sống trong một thời gian ngắn, rồi tàn tạ dần. Lá mùa thu chỉ sống ngắn ngủi sau khi rời khỏi cây, mà cả cây cũng chỉ sống dài nhất là vài thế kỷ." 2. Tám bước của Giả Kim Thuật Ba vấn để lớn của Giả Kim Thuật là bảo vệ, nuôi dưỡng và chuyển hóa. - Sự bảo vệ làm tăng khả năng, tiềm năng của Tinh - Khí - Thần, - Sự nuôi dưỡng làm tiêu tan các nhược điểm của Tinh - Khí - Thân, - Sự chuyển hóa nhằm các mục đích sau : a) Chuyển hóa Tinh - Khí - Thần thô thành Tinh - Khí - Thần tinh, b) Chuyển hóa Tinh - Khí - Thần tinh thành Thần thuần khiết, c) Chuyển hóa Thần thuần khiết thành Chân Không - Đạo. Tám bước của quá trình giả Kim Thuật là : - Bảo vệ, nuôi dưỡng và chuyển hóa Tinh, - Nuôi dưỡng và chuyển hóa Khí, - Sự thống nhất Thần thuần khiết với Chân Không - Đạo. • BẢO VỆ TINH - Phần này được trình bày một số ở mục Thống nhất Rồng xanh với Hổ trắng. Ở đây bổ sung thêm vài điểm. Trong cuốn sách Cúc điều bí ẩn để sản ra chất rượu Vàng có nói : "Khi tâm trí con người được bình thản và các mong muốn về dục vọng là có mức độ, thì Tinh và Khí sẽ lên tới ba chỗ chứa (nằm tại óc, tim và thận) và chảy trong các kênh Tâm linh phát sáng. Hoạt động tình dục làm cho Tinh và Khí chảy xuống cửa của Sinh Mệnh là Mệnh Môn (nằm giữa hai quả thận), sau đó thoát ra ngoài. Dục vọng không do ý thức không ngăn cản được Mệnh Môn phát, cũng như không ngăn cản được Tinh và Khí thoát ra ngoài, dù không có hiện tượng xuất tinh thông thường ra ngoài". Điều này có nghĩa là Tinh thô (nói trong các câu trên), mặc dầu có quan hệ khăng khít với chất tinh thông thường, cũng vẫn không đồng nhất với nó. Cần lưu ý rằng người bình thường rất khó chủ động làm cho Tinh trở lại cho cũ, nếu không có Minh sư hướng dẫn, giúp đỡ. Cần nhận thức rằng các đệ tử của Lão Giáo không hề đi tới cực đoan. Họ không hề ngăn cấm tỉnh dục. Nói chung, họ theo tiêu chuẩn sau : - Vào tuổi 20, con người có thể hoạt động tình dục 4 ngày một lần, - Vào tuổi 30, có thể hoạt động 8 ngày một lần, - Vào tuổi 40, có thể 16 ngày một lần,

971TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

- Vào tuổi 50, có thể 21 ngày một lần, - Vào tuổi 60 trở lên, tốt nhất là không hoạt động tình dục nữa. NUÔI DƯỠNG VÀ TĂNG CƯỜNG TINH Để tránh những mất mát tinh, người đạo sỉ phải tuân theo những điều cấm kỵ sau : - Chỉ ăn những thức ăn có lợi cho sức khỏe, một cách vừa phải, - Tránh mọi sự thái quá, - Tập thể dục và sống theo nhịp điệu của Thiên nhiên, - Tránh rượu và các thức ăn có quá nhiều gia vị, - Tránh những tình cảm thái quá : quá giận hại Can, quá vui hại Tâm, quá sợ hại Thận, quá lo hại Tỳ, quá tư lự hại Phế. - Tình dục đúng mức, biết kiếm chế tình dục nhằm đạt được sự yên tính của cơ thể, - Quan trọng nhất là tập những loại thể dục có tính nhu như Thái Cực quyền. Nói chung, tất cả các điểm trên nhằm nuôi dưỡng máu cho tốt, vì do máu sinh ra Tinh, chúng ta sẽ nuôi dưỡng và tăng cường Tinh được tốt. CHUYỂN HÓA TINH Tinh sinh Khí : Một lượng tinh được chuyển hóa tốt thành Tinh thăng hoa sẽ là một nguồn sản ra Khí. Tinh thô là Tinh Hậu thiên. Tỉnh thăng hoa là Tinh Tiên thiên. Nhân tố quyết định để chuyển Tinh Hậu thiên thành Tinh Tiên thiên là sự kiểm chế những dục vọng tầm thường. NUÔI DƯỠNG VÀ CHUYỂN HÓA KHÍ Sự nuôi dưỡng và chuyển hóa Khí thô thành khí thăng hoa có liên quan mật. thiết đến hai nhân tố sau : Phương pháp thở và sự yên tính của tâm trí. Phương pháp thủ Theo học thuyết Yoga, có tất cả 4 phương pháp thở khác nhau : - Thở tinh. Thở tinh là thở một cách tinh vi, đến nỗi ngay đạo sỉ cũng không nghe được hơi thở của mình. - Thở dài. Thở dài là thở chậm, nhẹ nhàng, không để giảm sút, không có khoảng trống giữa các pha khác nhau. - Thở sâu. Thở sâu là thở như thế nào để có thể đưa khí xuống vùng rốn, bụng thóp vào, và chỉ trở lại bình thường khi thở ra. - Thở bình hòa. Thở bình hòa là phương pháp thở sao mà các thời gian thở vào và thở ra là bằng nhau. Cổ nhân dạy : "Hãy ngồi yên tỉnh, mũi thẳng hàng với rốn. Hãy để tâm trí yên tính như khi chuẩn bị vào Thiên. Mát hướng vào đỉnh mũi. Thở nhẹ nhàng, chậm, với những khoảng thời gian bằng nhau. Khi thở ra, khí đi lên trong cơ thể, khi thở vào, khí đi xuống. Không để khoảng trống giữa hai pha thở liên tiếp nhau, nghĩa là không

972HỆ 64 QUẺ - CÁC CẬN KHOA HỌC

giữ hơi thở lại. Không cần tập trung vào quá trình thở, chỉ cần có ý thức rằng có không khí đi qua hai lỗ mũi của mình. Không lắng nghe bất cứ tiếng động nào.

Trong quá trình thở, khí thô và khí thăng hoa được hấp thụ đồng thời. Khi chúng ta nuôi dưỡng được các khí đó trong giai đoạn đầu tiên, thì cần phải theo dõi, điều hòa được khí thô thở ra, thở vào trong những khoảng thời gian bằng nhau, vì điều này sẽ điều hòa khí thăng hoa ra, vào ; mặc dầu khí thăng hoa là khí Tiên thiên, và không phụ thuộc vào lỗ mũi, cũng như miệng (như khí thô).

Chuyển động của khí thăng hoa chỉ được cảm nhận bởi các nhà Yogi cao cấp. Trong một cuốn sách của Trang Tử có nói đến "phương pháp thở thực sự nhất" là tập trung khí đến chỗ phi - hô hấp (non - respiration), thấm nhuần toàn bộ cơ thể và không hề gặp phải sự cản trở nào của cơ thể (vật lý).

Còn một phương pháp khác, khá bí ẩn gọi là thở bằng thận, nội dung như sau : Trước hết, đạo sĩ thở bằng mũi. Sau đó đạo sĩ tuân theo phương pháp thở bằng thận, từ 6 đến 120 lần, sau đó mới thở ra, nhẹ đến nỗi các lông mũi dường như vẫn đứng yên. Có lúc tưởng chừng như đạo sĩ đã ngừng thở. (Có người cho rằng phương pháp này đã được chỉ dẫn trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử.)

Khí thăng hoa còn có một tên khác là Prana. Khí này có thể được giữ lại trong cơ thể. Và các phương pháp thở đúng đắn nhất là tìm cách thức nó dậy và làm cho nó vận động.

Sự yên tĩnh của tâm trí

Nhân tố thứ hai trong quá trình nuôi dưỡng và chuyển hóa khí là sự yên tỉnh của tâm trí. Những hoạt động có hai cho sự yên tỉnh đó :

- Những cảm giác mạnh, - Tình yêu "ngùn ngụt", - Cười đến chảy nước mắt, - Nuôi hận thù đến nỗi mất cả lý trí...

NUÔI DƯỠNG THẦN

Thần thô

Thần thô thuộc bình diện Hậu thiên, gần với Tâm linh hơn là với tâm thần.

Thần thăng hoa

Thần thăng hoa là thuộc bình diện Tiên thiên, từ đó có thuật ngữ Thần bản thể. Thần thăng hoa được so sánh với "Tia lửa Tâm linh", và đã đặt từ trước trong Tâm linh của con người. Đó là một cái gì "tự nhiên" có của con người.

Người đạo sỉ phải nuôi dưỡng Thần thô thành Thần thăng hoa, nghĩa là chuyển nó từ bình diện Hậu thiên sang bình diện Tiên thiên. Khỉ đó chất Thần này được tích tụ trong cơ thể của đạo sĩ. Quá trình trên cũng làm phát triển Khí, và Khí được phát triển lại nuồi máu. Để nuôi thần, đạo sĩ phải làm trống não bộ của mình. Muốn thế, trước hết, phải có những tư tưởng lành mạnh.

973TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Nuôi dưỡng Thần có nghĩa là cô lập mình khỏi môi trường bên ngoài, và làm chủ được mình. Trong trường hợp này, đạo sỉ đạt được sự yên tỉnh. Nuôi dưỡng Thần là nhiệm vụ cao nhất của Giả Kim Thuật. CHUYỂN HÓA THẦN Đây là pha Thần thô chuyển thành Thần thăng hoa. Tất cả các nỗi niềm, bận rộn đều phải được xem là thuộc quá khứ. Không còn một cái gì đến quấy nhiễu tâm trí. Chỉ còn lại một cái : Đó là Ánh sáng Tâm linh. Trong một số tư liệu về Giả Kim Thuật có nói : KHI KHÔNG CÒN THẦN TRI THỨC NỮA, THÌ SẼ SẢN RA MINH TRIẾT Tri thức, dù với bao nhiều sự kiện đi nữa, sẽ không làm sao phát ra Minh Triết được. Cần phải xóa mọi phân định trong trí não. Hãy gạt ra ngoài mọi cảm giác do các giác quan đưa đến. Như thế đạo sỉ sẽ khôi phục lại được một cách tức thời sự yên tỉnh của một sinh thể không cần phân định, và ánh sáng Minh Triết thuần túy, không phân định, sẽ thấm nhuần toàn bộ cơ thể của đạo sĩ. 3. Thống nhất Thần thăng hoa với Chân Không - Đạo Sau khi đạt được Thần thăng hoa, đạo sỉ sẽ thấy đồng nhất với Chân Không, tức là đạo sĩ đã quay được về lại với Nguồn Gốc. Quá trình của Giả Kim Thuật đi từ con người không hoàn thiện trở về lại Chân Không hay Đạo, hay Cội Nguồn đến đây xem như hoàn thành. Con người đã trở về theo con đường Nội, sau khi đã ra đi, đi xa... theo con đường Ngoại.

ĐẠO THẦN THĂNG HOA KHÍ THĂNG HOA C TINH THĂNG HOA B Thần thô A Khí thô Tỉnh thô

A : Không có dục vọng tầm thường THANH LỌC B : Không có tư tưởng tầm thường TINH THẦN VÀ THỂ XÁC C : Biết hy sinh

Hình 101 - a) CÁC QUÁ TRÌNH TINH KHÍ THẦN TRONG GIÁ KIM THUẬT ĐÔNG PHƯƠNG

974HỆ 64 QUẺ - CÁC CẬN KHOA HỌC

THẦN TINH KIM LOẠI Kim loại trược THANH

Hình trong sách

KHÍ KHÍ

TINH THẦN Kim loại trược KIM LOẠI THANH

ĐƯỜNG ĐƯỜNG NGOẠI, TỤ NỘI, TÁN

Hình 144. NGUYÊN LÝ CON ĐƯỜNG SỐ 8 ĐI - VỀ THEO HAI CON ĐƯỜNG NGOẠI TỤ - NỘI TÁN CỦA LÃO Tử TRONG GIÁ KIM THUẬT ĐÔNG PHƯƠNG - NHẬN XÉT CỦA TÁC GIẢ (NHP) Như đã nhận xét, Giả Kim Thuật Đông phương hay là Cận Hóa học là rất gần với Kinh Dịch về nguyên lý. Mặt khác, Cận Hóa học chỉ rõ con đường đi khá cụ thể từ bình diện Hậu thiên sang bình diện Tiên thiên, và ngược lại. Đó chính là một trong những biểu hiện của quan hệ bản thể giữa các Quẻ Nội và Ngoại của Kinh Dịch. Có tác giả cho rằng, sở dĩ cổ nhân dùng thuật ngữ Giả Kim Thuật là do khị chuyển từ trọc sang thanh, các nguyên tố N1a, O16 chuyển thành C12 (nhẹ nhất) tức là có hiện tượng Cận hóa học. Tiếp theo một sự luyện tiếp có thể biến C12 thành Kim Cương trong nhân thể, gọi là Ngọc Xá Lợi (đốt không cháy).

Nguyễn Hoàng Phương, Tích hợp đa văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1996. Bản số hóa từ ảnh quét; văn bản do OCR nên có thể còn sai sót — bấm vào số trang trong bài để đối chiếu ảnh quét nguyên bản.

Trong mục này