Tập V — Các hệ 64 Quẻ — cơ sở di truyền, Phong Thủy
Chương 47
Hệ Văn Vương với các học thuyết Độn Giáp và Thái Ất
HỆ VĂN VƯƠNG VỚI CÁC HỌC THUYẾT ĐỘN GIÁP VÀ THÁI ẤT
Chúng ta chuyển sang các hệ thống có khả năng được biểu hiện trong Kinh Dịch, về mặt cấu trúc, cũng như với hệ thống Bát Tự Hà Lạc trước đây. Sự nghiên cứu ở đây có liên quan đến thứ tự (hay trình tự) các Quẻ của hệ Văn Vương, tức là đến cấu trúc logic của hệ đó.
I - VỀ CẤU TRÚC THỨ Tự TRONG KINH DỊCH
Một trong những băn khoăn lớn của nhiều người nghiên cứu Kinh Dịch là thứ tự các Quẻ (tức là phần Tự Quái truyện của Thập Dực). Tìm hiểu điều này như thế nào ?
Sự phân chia hệ Văn Vương thành hai hệ thống con là Hình Nhi Thượng và Hình Nhi Hạ trước hết mang được những đặc tính logic nào ? Sau đây là một số kết quả nghiên cứu của chúng tôi về vấn để này.
A - CẤU TRÚC THỨ Tự cục BỘ CỦA KINH DỊCH
1. Cách nhìn hệ Văn Vương theo tính đối xứng
Thông thường trong một số sách như trong cuốn Dịch học Tinh Hoa của tác giả Thu Giang Nguyễn Duy Cần, có đoạn :
"Trùng Quái chia làm hai loại :
a) 8 Quẻ "bất dịch"
Đó là các Quẻ : Bát Thuần Kiền, Bát Thuần Khôn, Bát Thuần Ly, Bát Thuần Khảm, Trạch Phong Đại Quá, Sơn Lôi Di, Lôi Sơn Tiểu Quá, Phong Trạch Trung Phu.
b) 28 Quẻ "đảo điên" dịch.
Đó là các cặp Quẻ :
{Thiên Thủy Tụng, Thủy Thiên Nhu}, {Địa Thiên Thái, Thiên Địa Bĩ}, {Trạch Lôi Tùy, Sơn Phong Cổ}, {Hỏa Lôi Phệ Hạp, Sơn Hỏa Bí},... {Thủy Hỏa Ký Tế, Hỏa Thủy Vị Tế}, {Thiên Phong Cấu, Trạch Thiên Quải}.
Cách phân chia này, nói cho cùng, dựa vào tính đối xứng trục đối với trục đì qua giữa Nội và Ngoại Quái.
Cũng còn một cách nhìn khác về đối xứng như sau : Muốn thế, cần chú ý rằng các Quẻ trong hệ văn Vương được xếp theo từng cặp một, hai Quẻ xếp liền nhau. Và biết được một trong hai Quẻ đó thì sẽ biết được cả Quẻ thứ hai như dễ thấy ngay sau đây.
2. Nguyên lý Phản Phục và con đường số 8
Ta thử hỏi : Tại sao cổ nhân lại chọn một'cách xếp theo cặp như thế ?
Qua các nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng đây chủ yếu là một hệ quả trực tiếp của một trong những nguyên lý cơ bản của Kinh Dịch : Đó là nguyên lý Phản Phục, mà chúng ta đã nhiều lần nhắc đến trong nhiều chương trước đây :
"Có đi, nghĩa là có chính đề, thì phải có về, nghĩa là phải có củ phần đề".
Hai mặt đối lập đó của nguyên lý phi bài trung đã hiện ra trên hình ảnh khá gắn bó với Triết Đông phương là lá Mebius và con đường số 8, như đã nói trước tiên trong phần Đại Cương.
Có hai trường hợp cần xét :
ỉ) Đi và về là hai con đường khác nhau (Hình 133a)
1) Đi và về trên cùng một đường như nhau (Hình 133b)

Ví dụ về trường hợp a) đi và về theo hai con đường khác nhau là tính tuần hoàn Xuân (Thiếu Dương), Hạ (Thái Dương), Thu (Thiếu Âm) và Đông (Thái Âm) (hình 133a).
Thông thường, người ta biểu diễn tính tuần hoàn theo vòng tròn. Nhưng nếu chúng ta biểu diễn theo hình số 8, thì ta thấy xuất hiện ngay tính phản đối xứng qua trục (hai đường thẳng đứng trong hình 133a), nghĩa là hào Ẳm biến thành hào Dương và hào Dương biến thành hào Âm.
Như thế, nguyên lý Phản Phục, trong trường hợp trên, bằng cách vận dụng con đường số 8, đã dẫn đến một tính đối xứng mà chúng tôi đã gọi là tính đối xứng phản trục.
Bây giờ, chúng ta hãy chuyển sang trường hợp thứ hai b), ở đó đi và về theo cùng một con đường như nhau (Hình 133b).
Trong trường hợp này, chúng ta hãy biểu diễn :
Lộ trình đi bằng thứ tự các chữ A, B, c, D, Lộ trình về bằng thứ tự các chữ D, c, B, A.
Sau đó vận dụng con đường số 8.
Cuối cùng ta được một tính đối xứng thứ hai là tính đối xứng tâm, qua tâm 0 của Hình 133b.


3. Nguyên lý Phản Phục và tính đối xứng cục bộ của hệ Văn Vương
Bây giờ chúng ta hãy vận dụng hai kiểu đối xứng trên vào cấu trúc thứ tự của hệ Văn Vương. Một điều đập ngay vào mắt là hệ này chia thành từng cặp như (1, 2), (3, 4),... (29, 30), (31, 32),... (61, 62), (63, 64). Và tại mỗi cặp đố, chúng ta thấy biểu hiện hoặc tính đối xứng thứ nhất, hoặc tính đối xứng thứ hai, hoặc cả hai.
Các tính đối xứng trên tạo nên cái gọi là cấu trúc thứ tự cục bộ của hệ Văn Vương. Như thế là cấu trúc thứ tự cục bộ của hệ này được xác định bởi nguyên lý cơ bản Phản Phục.
B- CẤU TRÚC THỨ Tự TOÀN BỘ CỦA HỆ VĂN VƯƠNG
Bây giờ chúng ta chuyển sang trọng tâm của sự nghiên cứu : Hệ Văn Vương có thể biểu hiện những cơ sở của các cấu trúc khoa học nào, đặc biệt về mặt cấu trúc thứ tự - logic ?
I. Một số đặc điểm của các phần Thượng và Hạ Quan sát cấu trúc của phần Thượng từ Quẻ 1 đến Quẻ 30, ta nhận xét có các đặc điểm sau : a) Phần Thượng chứa các Quẻ Kiền, Khôn nhiều hơn phần Hạ trong các Quái 01, 02. 05, 06. 08. 09, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 19, 20, 23, 24, 25 và 26. bì Phần Thượng trong các Quái 03. 04, 05, 06 chỉ chứa các Đơn Quái Kiền 1, Khảm ở, Cấn 3, Chấn 4 thuộc Thiên Nội có mặt trong học thuyết Thái Ất, cũng như thuộc Dương Độn trong học thuyết Độn Giáp. Quan sát cấu trúc của phần Hạ từ Quẻ 31 đến Quẻ 64, ta nhận xét các đặc điểm sau : c) Phần Hạ chứa các Quẻ Ly, Khảm nhiều hơn phần Thượng trong các Quái 35, 37, 38, 39, 40, 17, 48, 49, 50, 55, 56, 60, 63, 64. d) Phần Hạ trong các Quái 35, 36, 37, 38 chỉ chứa các Đơn Quái Tốn 9, Ly 2 : Khôn 7, Đoài 6, thuộc Thiên Ngoại có mặt trong học thuyết Thái Ất, cũng như thuộc Âm Độn trong học thuyết Độn Giáp. Như thế, phần Thượng hướng về Trời - Kiền Đất - Khôn, về "quê hương Nội", về Dương. Còn phần Hạ hướng về Tâm - Ly, Thận - Khảm, về "quê hương Ngoại", về Âm. 2. Kinh Dịch chứa các cơ sở của học thuyết Thái Ất trong phần Thượng và của học thuyết Độn Giáp trong phần Hạ Chúng ta sắp bước đến một kết luận cơ bản vẽ tầm cỡ của hệ Văn Vương, xem như một lý thuyết hệ thống tối ưu phổ quát (nhất ?). Quả vậy, nếu theo dõi các cặp trong phần Thượng, chúng ta thấy có xuất hiện một phần quỹ đạo của học thuyết Thái Ất :
QUẺ QUẺ QUẺ QUẺ QUÉ QUÉ QUẺ NỘI NGOẠI NỘI NỘI NỘI NỘI Khảm ở số 7| Tốn ở số 9 Kiền ở số11 Ly ở số 13|Cấn ở số 15 Chấn ở số17 Đoài ở số 19
MÃ SỐ MÃ SỐ MÃ SỐ MÃ SỐ MÃ SỐ MÃ SỐ MÃ SỐ THÁI ẤT 8 ! THÁI ẤT 9 THÁI ẤT 1 THÁI ẤT 2 THÁI ẤT 3 THÁI Ất 4 ' THÁI ẤT 6
Ta thấy ngay rằng, phần Thượng (nếu không tính đến điều chưa thực ăn khớp ở Quái số thứ tự 9) có chứa quỹ đạo của học thuyết Thái Ất, nghĩa là hệ Văn Vương - nếu xem là học thuyết phổ quát về hệ thống Đông phương - đã biểu thị được các cơ sở của học thuyết Thái Ất. Tương tự như thế, theo dõi các cặp trong phần Hạ, chúng ta nhận thấy có một phần quỹ đạo của học thuyết Độn Giáp.
QUẺ NỘI QUẺ NỘI QUẺ NỘI QUẺ NỘI QUẺ NỘI
Cấn ỏ số 39 Đoài ỏ số 41 Ly ò số 37 Kiền ỏ số 43 Tốn ỏ số 46
MÃ SỐ MÃ SỐ MÃ SỐ MÃ SỐ MÃ SỐ
ĐỘN GIÁP 8 ĐỘN GIÁP 9 ĐỘN GIÁP 7 ĐỘN GIÁP 6 ĐỘN GIÁP 4
Nếu không tính đến điều không ăn khớp ỏ Quẻ 46 (đáng lý ra phải là Quẻ 45 ’) thì rõ ràng chúng ta thấy rằng hệ Văn Vương - xem như lý thuyết phổ quát về hệ thống tối ưu Đông phương - quả thực có chứa cơ sở của học thuyết Độn Giáp (quỹ đạo của Độn Giáp).
Một điểu rất quan trọng cần lưu ý trong phần này là nếu với phần quỹ đạo của học thuyết Thái Ất trong hệ Văn Vương các mã số tăng lên dần, thì trong phần quỹ đạo của học thuyết Độn Giáp các mã số, ngược lại, lại giảm dần. Lại một lần nữa, biểu hiện nguyên lý "Thiên tả hoàn, Địa hữu chuyển" của Triết cổ Đông phương.
Trong hình 133d, chúng tôi đã ghi lại hệ Văn Vương, trong đó có điều chỉnh lại đôi chút một số Quẻ cho hợp với các quỹ đạo của các học thuyết Thái Ất và Độn Giáp.

<1 THÉP iu" 0 o 1! ! lillll MU illlli 11 In
.111111 J !l! ! Ti iliìl =ộ= 0 fl!l lilili ỉllill
111111 liilil siilil õ 0. a HI! ! [II illil llilli o „111111 “illỉll iii ò 0 sl11 llilll 111
Hình 133c. MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC CỦA HỆ VĂN VƯỚNG VÀ CÁC Quy ĐẠO ĐỘN GIÁP, THÁI ẤT
Còn có một số khả năng khác như 8/6 -* 18, 8/3 —* 62, 8/4 -* 26 3/8 —* 27, 6/3 -♦ 17, 7/3 -• 25

Ng. Lý 3-7 NGUYÊN LÝ THIÊN ĐỊA NHÂN HỢP NHẤT
URSA MAJOR
THÁI ẤT Quỹ đạo Tuyên Mã thời tiết 1-2-4-8 Mã thời HÌNH NHI tiết THƯỢNG
5
ĐÔNG Y, THỜI HÌNH NHI HẠ Tuyên CHÂM Quỹ đạo 1-2-5-8-9 Mã thời tiết Quỹ đạo Quỹ đạo ĐỘN Giáp
Hình 133d. MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐÔNG Y, THỜI CHÂM, ĐỘN GIÁP, THÁI ẤT VÀ HỆ 64 QUẺ VĂN Vương. TÍNH THỐNG NHẤT CỦA TRIẾT CỔ ĐÔNG PHƯƠNG HAY LÀ HỆ 64 QUẺ VĂN VƯƠNG LIÊU CÓ PHẢI LÀ LÝ THUYẾT HỆ THỐNG PHỔ QUÁT TỐI ƯU NHẤT CỦA TRIẾT ĐÔNG PHƯƠNG.
III - VỀ CHỮ thời của dịch
A - Ý KIẾN CỦA MỘT SỐ HỌC GIẢ
Trong Kinh Dịch, chữ Thời, Trung thực là quan trọng, vì thế, trước hết có thể trích dẫn.lnột số nhận định sau của nhiều bậc uyên thâm về Kinh Dịch. NGUYỄN HIẾN LÊ
"Dịch là chữ Thời. Dọc cả bộ Dịch, chúng ta chỉ thấy tóm lại trong chữ Thời. Tùy thời mà vẫn giữ được Trung chính, đó lại là một luật bất biến nữa trong đạo biến dịch. Nắm được luật đó, ta có thể ứng dụng được với vạn cái biến trong đời.
Chúng ta biết được lúc nào nên cương, lúc nào nên nhu, lúc nào nên tiến, lúc nào nên thoái, lúc nào nên động, lúc nào nên tỉnh, lúc nào nên nhường nhịn, lúc nào nên tấn công. "ích” (tầng) không phải là luôn luôn tốt, cần phải biết khi nào nên ích, ích cái gì, ích cho ai. Tổn không phải là luôn luôn xấu, tổn giảm được cái tật của mình thì lại là tốt, tổn của người giàu để ích cho người nghèo là tốt, cải cách phải hợp thời mới tốt...
Biết tùy thời là điều rất khó, phải bỉnh tỉnh vô tư, sáng suốt, phải có trí."
NGUYỄN DUY CẦN
"Có thể nói rằng Bộ Chu Dịch tóm lại chỉ có một chữ Thời mà thôi.
Chữ Thời và chữ Cơ ở Chu Dịch rất là quan trọng. Cho nên thường nói là Thời Có. Nói đến Thời và Cơ hãy lưu ý đến hai chữ "cập thời". Hiểu được hai chự đó đâu phải dễ. Người Quân tử tiến đức tu nghiệp chỉ cầu hành động cho kịp thời, bởi như thế mới không lỗi lầm. Đạo là tất cả bí quyết trong đạo xử kỷ tiếp vật của Chu Dịch.
Bỏ mất chữ thời thì hành động nào cũng sẽ hỏng, có khi nguy hiểm cho xã hội và cá cho bản thân mình là khác".
"Chữ thời của Chu Dịch không phải là xu thời phụ thế, mà phải biết tùy thời mà thuận, đừng làm mất cái đạo Trung. Chữ Thời phải hiểu với hai nghĩa như thế, theo hai nghỉa thuận nghịch của Âm Dương.
Thời là biến, nhưng là biến đúng thời, theo đúng với đạo Trung.
Thời là khi nên nghỉ thì nghỉ, khi nên làm thì làm. Nếu động tĩnh không sai thời thì đạo mới sáng tỏ được.
Nhưng Thời có hai nghĩa, nghĩa bên ngoài và nghĩa bên trong. Trong đạo xử thế, trước phải rõ cái đạo trong ta. Rõ được cái thời trong ta, nhiên hậu mới có thể bàn đến cái thời bên ngoài. Nếu cái thời trong ta chưa được dự bị, thì cái thời bên ngoài, dù có tốt đẹp bao nhiều, cũng không nên bàn đến làm chi vô ích. Nổi theo binh thư, đó là cái đạo tri kỷ, tri bỉ. Thời bên trong và thời bên ngoài phải tương đương mới tương ứng : đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu.
Bậc thức giả phải lo dự bị cái thời bên trong để chờ đợi cái thời bên ngoài, mà hành sự.
Nội và Ngoại dùng làm biểu lý cho nhau, không thể rời nhau, nên mỗi Quẻ đều có 6 hào, 3 hào nội, 3 hào ngoại, tượng trưng nội thời và ngoại thời. Trong một
đơn quái cũng có nội, ngoại, hào giữa là hào chính trung, gọi là nội hào, còn hai hào trên dưới thì gọi là ngoại hào. Nội ngoại tương ứng một cách sít sao, cho nên luật đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu là một trong những quy luật quan trọng nhất của Dịch lý. Tóm lại nói về chữ Thời trong Kinh Dịch là nói đến vấn đề Trung Chánh của Dịch." B - ĐI TÌM LOGIC CỦA CHỮ THỜI Vậy chữ Thời và Trung là vô cùng quan trọng khi nói đến Kinh Dịch. Và phải tính đến cả Nội Thời, cả Ngoại Thời. Nhưng làm sao nắm được cụ thể chữ Thời bên trong cũng như chữ Thời bên ngoài, nghĩa là chữ Thời của Trời Đất, chữ Thời của cá nhân và chữ Thời của các cộng đồng ! Nếu theo góc độ của nền khoa học Tây phương, thì chữ Thời có nghĩa là biến số thời gian của mọi hiện tượng, theo một phương trình vi phân hay không vi phân, và cuối cùng, khi giải bài toán, chữ Thời đó chính là biến số thời gian của quỹ đạo của một quá trình, hiện tượng. Nhưng theo tinh thần của chữ Thời trong Chu Dịch, thời có nghĩa là thời tối ưu (optimum). Cho đến nay, các học thuyết Đông phương không sử dụng thời gian liên tục, mà thời gian ghi số (digital). Như thế, chữ Thời của Kinh Dịch có nghĩa là tìm những giá trị của thời gian trong hệ thống các giá trị ghi số của nó để tÌm cái optimum. Nhưng theo logic nào để đi tìm một hay những giá trị đó của thời gian ? Để giải bài toán này, có thể nhìn nhận như sau : 1) Nếu công nhận các hệ 64 Quẻ là lý thuyết phổ quát tối ưu Đông phương, thì để tìm các giá trị đó, cần xuất phát ngay từ chính hệ đó. Tính logic là ở chỗ này. 2) Chúng ta đã tìm được những đặc trưng về thứ tự một số Quẻ trong các Hình Nhi Thượng và Hình Nhi Hạ (mặc dầu chưa được trọn vẹn !). Đó là những đặc trưng về quỹ đạo, với hai kiểu Thiên tả hoàn, Địa hữu chuyển khác nhau. Hai kiểu trái ngược nhau đó nói chung có khả năng đưa đến những giải đáp bổ sung cho nhau. 3) Tiếp theo, cần xem hai chuỗi số đó sẽ dẫn đến những hệ thống cụ thể nào, có thể ứng dụng được trong thực tiễn. 4) Ngoài ra, còn chữ Thời từ các học thuyết dẫn xuất khác của Kinh Dịch. CỘNG ĐỒNG 8 9 1 2 3 4 6 7 KHÁM TỐN KIỀN LY CẤN CHẤN ĐOÀI KHÔN
CÁ NHÂN 9 8 7 LY CẤN ĐOÀI KIẾN TỐN CHẤN KHÔN KHẢM
PHẦN HAI
HỆ 64 QUẺ TIÊN THIÊN HỆ 64 QUẺ Y DỊCH LỤC KHÍ VÀ HỌC THUYẾT Mã DI TRUYỀN
(trang để trắng trong bản in)