Tập IV — Cơ sở Thái Ất — học thuyết dự báo chung cho cộng đồng, Thiên cơ
Chương 33
Khái niệm cục trong học thuyết Thái Ất
KHÁI NIỆM CỤC TRONG HỌC THUYẾT THÁI ẤT
I - KHÁI NIỆM VÀ CÁCH TÍNH NIÊN cục
A - CÁC SỐ 360 VÀ 72
Số 360
Trong Triết cổ Đông phương, con số 360 tức là số năm trong mỗi Vận như đã biết, đóng một vai trò hết sức quan trọng. Con số này có các mối quan hệ sau :
- Mối quan hệ với số Can í 10) và số Chi (12) : 360 là một bội số của 10 và 12.
- Mối quan hệ với số nhà Phật : 1.080 = 3 X 360 (1.080 là số trường hợp của Độn Giáp ! 1
Số 360 đóng vai một chu kỳ nào đó trong nhịp điệu của Vũ trụ.
SỐ 72
Con số quan trọng thứ hai là số 72. Đó là số năm trong mỗi Nguyên như đã biết. Số này cũng là một bội số của 12. Số 72 trỏ một loại nhịp diệu khác của Vũ trụ bằng số mạch tim trung bỉnh trong một phút.
Để xây dựng học thuyết Thái Ất, người xưa đã bắt đầu bằng hai con số đó.
B-SỐ 360 NGUYÊN TÝ TRONG MỘT NĂM PLATON
Năm Platon có thể xem là một tập hợp gồm 360 Nguyên Tý hay là 360 Vận :
C-SỐ 15 NGUYÊN TÝ TRONG MỖI TIẾT PLATON
Ta có ngay đẳng thức sau, do mỗi tiết Platon gồm 1.080 năm :
D- Sự PHÂN PHỐI CÁC NGUYÊN TÝ TRONG MỖI VẬN THEO SỐ NĂM
Ta có sự phân phối cụ thể sau về các Nguyên Tý trong mỗi Vận :
Nguyên Giáp Tý từ năm thứ đến năm thứ 72. Nguyên Bính Tý - 73 144, Nguyên Mậu Tý 145 216, Nguyên Canh Tý - 217.... 288, Nguyên, Nhâm Tý 289 360. E - KHÁI NIỆM ÂM CỤC VÀ DƯƠNG CỤC CHO NĂM (HAY DƯƠNG, ÂM NIÊN CỤC) Như đã thấy, sự nối tiếp nhau giữa Âm và Dương là huyết mạch của quan điểm cổ Đông phương về sự tiến hóa. Không thể hiện được sự luân phiên Âm Dương này thì không tài nào dựng được bất cứ lý thuyết nào của sự tiến hóa. Bài toán tiếp theo là vấn để xác định chu kỳ cho mục tiêu đang xét. Trong học thuyết Thái Ất, để xác định sự hưng thịnh của cộng đồng, một trong những chu kỳ Âm Dương là Tháng Platon, gồm hai tiết, như đã biết. Trong mỗi Tháng Platon, Tiết thứ nhất gọi là Âm, còn Tiết thứ hai gọi là Dương. Như thế, nếu chúng ta bát đầu từ gốc O của thời gian tuyến tính để tính các Tiết Platon, thì các tiết có số thứ tự lẻ là Tiết Âm. còn các Tiết có số thứ tự chẵn là Tiết Dương :
NĂM 1080 2160 3240 4320 5400 6480 7560... SỐ THỨ TỰ CỦA TIẾT 1 2 3 4 5 6 7 8 ÂM, DƯƠNG Âm Dương Âm Dương Âm Dương Â111 Dương
Ta lấy ví dụ cụ thể sau : Với năm 2.403, tương ứng với A = 10.156.320, ta được 10.156.320/1.080 = 9.404 Tiết Platon. Điều này có nghĩa là từ năm 1324 đến năm 2404 (không kể năm cuối 2404) là khoảng thời gian của Tiết là Dương do số thứ tự 9.404 là Dương. Còn trong khoảng thời gian từ năm 244 đến năm 1324 hay từ năm 2404 đến năm 3484 ta có Âm Tiết.
F - ĐỊNH NGHĨA VỀ ÂM NIÊN CỤC, DƯƠNG NIÊN CỤC Những năm thuộc Âm Tiết gọi là có Niên Cục Âm. Những năm thuộc Dương Tiết gọi là có Niên Cục Dương. Cả Niên Cục Âm và Dương, theo định nghĩa, đều có chu kỳ bằng 72, nghĩa là chu kỳ này bằng khoảng thời gian của mỗi Nguyên Tý. Với định nghĩa này, chúng ta thấy rằng - do thời đại Bảo Bình bát đầu từ năm 2104 - chúng ta có 1.080 năm với Âm Niên Cục. Hiện nay, nhân loại chúng ta đang ở vào thời kỳ Dương Niên Cục, kéo dài cho đến năm 2403 (kể cả năm cuối 2403). 0........... 13241996--2404---- -3484 4702 Tiết Âm, Thời kỳ Tiết Dương Thời kỳ Tiết Âm 4701 Tiết Dương thứ 4702 thứ 4703 DƯƠNG NIÊN CỤC ÂM NIÊN CỤC

Nghị, thì ngày Dương lịch tương ứng với ngày đầu tiên (tức là ngày mồng một) của tháng Âm này (tức là ngày mống một tháng Giáp Tý nói trên) là ngày 29-11-1323 Dương lịch.
H. Tháng giêng (Âm) Bính Dần của năm Giáp Tý 1324. Ngày mồng một của tháng Âm này là tương ứng với ngày Dương 27-01-1324 (Cần nhớ rằng năm 1324 là năm đầu tiên của thời Bảo Bình với Niên Dương Cục).
1. Tháng 11 (Âm) Bính Tý, năm Ất Mão 1999. Ngày mồng một của tháng Âm đó là ngày Dương 08-12-1999.
J. Tháng giêng (Âm) Mậu Dần của năm Canh Thìn 2000. Ngày đầu tiên của tháng đó là tương ứng với ngày Dương lịch 05-02-2000.
Bây giờ chúng ta hãy tìm Nguyệt Cục của các tháng Âm lịch, ký hiệu là G, H, I. J nói trên.
- Về tháng G. Từ tháng 11 Giáp Tý năm Giáp Tý, tức là từ gốc O(T) của tháng, cho đến tháng 11 Âm Giáp Tý (không kể tháng này) của năm Quý Hợi của thời gian G (kể cả năm này), tổng số tháng là :
(1323 4- 1 - 424) X 12 = 10.800 tháng Âm.
Con số 1 trong dấu ngoặc xuất hiện do chúng ta đã kể đến năm Quý Hợi. Từ đó sổ Nguyệt Cục cần tìm của tháng, ký hiệu là A(H) bằng :
A(H) = 10.800 + 3 = 10.803 Nguyệt Cục, số 3 đẳng thức trên trỏ số tháng từ 11 Giáp Tý năm 1323 (trước đây chưa kể đến) đến tháng giêng (1) năm Giáp Tý 1324 (kể cả tháng giêng này).
Tương tự như vậy. số Nguyệt Cục kể từ gốc O(T) đến tháng J tức là tháng Mậu Dần năm Bính Tý (không kể năm, nhưng kể tháng), ký hiệu là A(J) bằng :
ATJ) = 1(1999 + 1 - 424) X 12 } + 3 = 18.912 + 3 = 18.915 tháng Âm.
Tiếp theo, như với các Niên Cục, ta được cho thời điểm J :
B(J) = A(J) modulo 360 = 8.915 modulo 360 = 195, C(J) = B(J) modulo 72 = 51 (Nguyệt Cục của J), D = Mậu.
Như thế, tháng Âm Mậu Dần J, năm Canh Thìn 2000 có Nguyệt Cục bằng 51 và thuộc Nguyên Mậu Tý.
Bây giờ ta chuyển sang tính chất Âm Dương của Nguyệt Cục. Theo học thuyết Thái Ất thì tính Âm hay Dương của Nguyệt Cục bằng tính Âm Dương của năm chứa tháng đang xét. nghĩa là chúng ta có Âm Nguyệt Cục từ năm 244 đến năm 1324 (không kế năm này) và có Dương Nguyệt Cục từ năm 1324 (kể năm này) đến năm 2404 (không kể năm này). Và bắt đầu từ năm 2404, chúng ta lại có Âm Nguyệt Cục. Như thế, tháng giêng Mậu Dần, năm Canh Thìn 2000 có Dương Nguyệt Cục 51.
MỘT SỐ NIÊN HIỆU CẦN THIẾT
Bây giờ, để tiện bạn đọc theo dõi, chúng tôi đưa ra một số niên hiệu cần thiết sau :
Năm Dương NĂM THỨ NHẤT TRIỀU ĐẠI tương ứng
Chính Trị Mậu Ngọ 1558
Canh Thân Cảnh Hưng 1740
Quý Sửu Cành Thịnh 1793
Quý Mão Cảnh Trị 1663
Chính Hòa Canh thân 1680
Quý Sửu Long Khánh 1373
Quý Mùi Phúc Thái 1643
Mậu Thìn Quang Thái 1383
Mậu Dần Quang Hưng 1578
Ất Mão vĩnh Hựu 1735 vĩnh Khánh Kỷ Dậu 1729 Ất Dậu vĩnh Thịnh 1705
Vĩnh Tộ Kỳ Mùi 1619
Ví dụ
1) Tính số Nguyệt Cục của tháng giêng Canh Ngọ, thuộc năm thứ 13 Triều đại Chính Trị. Năm này thuộc năm Dương lịch 1558 + 12 = 1570. Ta có
A = {(1570 - 424) X 12} + 3 = 13.752 + 3 = 13.755,
B = 13.755 modulo 360 = 75, c = B modulo 72 = 3, Dương Cục.
2) Cũng như bài toán trên cho tháng giêng, năm Canh Thân, là năm đầu tiên của Triều đại Cảnh Hưng. Năm Dương tương ứng là : 1740. Ta có :
A = {(1740 - 424) X 12} + 3 = 15.792 + 3 = 15.795,
B = 15.795 modulo 360 = 315, C = B modulo 72 = 27, Dương Cục.
3) Cũng như bài toán trên cho tháng giêng năm Giáp Tý, là năm thứ 5 của Triều đại Cảnh Hưng. Năm Dương tương ứng là 1744. Ta có
A = {(1744 - 424) X 12} + 3 = 15.840 + 3 = 15.843,
B = A modulo 360 = 363, c = B modulo 72 = 3, Dương Cục.
4) Cũng như bài toán trên với tháng giêng năm Bính Tuất, là năm thứ 17 của Triều đại Cảnh Hưng. Năm Dương tương ứng là năm 1740 + 16 = 1756. Ta có :
A = {(1756 - 424) X 12} + 3 = 16.107,
B = A modulo 360 = 267, c = 267 modulo 72 = 51, Dương Cục.
Vài con số khác :
Tháng Giáp Dần (tháng giêng) năm Quý Hợi 1993 :
A = {(1993 - 424) X 12} + 3 = 18.831, Dương Cục.
Tháng Bính Dần (tháng giêng) năm Giáp Tuất 1994 :
Tháng giêng năm 1995, A = 18.855, Tháng giêng năm 2000,
III - KHÁI NIỆM VÀ CÁCH TÍNH NHẬT cục
Trong những tình hình khẩn trương, cần tính Cục cho ngày và giờ. Các Cục tương ứng gọi là Nhật cục và Thời Cục.
A-CÁCH TÍNH NHẬT cục, THỜI cục NĂNG, VÀ KHÁC CÁCH TÍNH NIÊN CỤC, NGUYỆT cục NHƯ THẾ NÀO ?
Cách tính Nhật Cục và Thời Cục cũng tương tự như cách tính Niên Cục và Nguyệt Cục, chỉ khác một thời điểm như sau :
Với Niên Cục và Nguyệt Cục thì cả Âm Cục, cả Dương Cục cũng đều bát đầu từ Đông Chí. Ví dụ Niên Cục Dương cũng như Nguyệt Cục Dương bắt đầu từ năm 1324 (Đông Chí), còn Âm Niên Cục cũng như Âm Nguyệt Cục đều bắt đầu từ năm 2404 (cũng Đông Chí).
Nhưng với Nhật Cục và Thời Cục thì Dương Nhật Cục cũng như Dương Thời Cục đều bắt đầu từ Tiết Đông Chí (cũng như trong Độn Giáp), còn các Âm Nhật Cục cũng như Âm Thời Cục đều bắt đầu từ Tiết Hạ Chí (cũng như trong Độn Giáp). Chúng ta nhớ lại rằng trong mỗi năm thì Tiết Đông Chí thường bắt đầu từ ngày21 hay 22 tháng 12 Dương lịch, còn Tiết Hạ Chí thì cũng vào khoảng 21 hay 22 tháng 6 Dương lịch.
B - KHÁI NIỆM VÀ CÁCH TÍNH NHẬT cục
Theo Lê Quý Đôn, gốc tính Nhật Cục, ký hiệu là O(N), được chọn là ngày Giáp Tý, là ngày thứ nhất của tháng giêng Giáp Tý của năm Quý Hợi, năm này là năm thứ nhất thuộc Triều đại Cảnh Bình của nhà vua Danh Dương Vương, thuộc đời Tống (Trung Hoa). Ngày Dương lịch tương ứng là ngày 19 tháng 2 năm 423 :
O(N) = 19 - 02 - 423.
VÍ dụ :
Tính Nhật Cục của ngày 14 tháng 12 Dương Lịch, năm 1992. Đó là ngày Giáp Tý, ngày đầu của tháng Quý Sửu năm Nhân Thân. Chúng ta có các kết quả sau :
a) Hiệu số từ năm 1992 (đang xét) đến năm 423 (của gốc O(N)) :
1992 - 42 3 = 1569 (năm Dương lịch).
b) Hiệu số từ ngày 13 (đang xét) đến ngày 14 (là ngày gốc O(N) :
19 - 14 = 5 ngày.
c) Số ngày "mất" trong Dương lịch :

h) 01-01-2000 :
A = 575.635, B = 334. c = 67, Nguyên Nhâm Tý.
i) 25-12-1999 I
A = 575.628, B = 327. c = 60, Dương Cục. Nguyên Nhâm Tý.
IV - KHÁI NIỆM VÀ CÁCH TÍNH THỜI cục
CÁCH TÍNH THỜI cục
Tính chất Âm, Dương của thời Cục (tức là cho giờ) cũng xác định như cho Nhật Cục, như đã nói trên đây, tức là Dương Thời Cục bát đầu từ Đông Chí, còn Âm Thời Cục bắt đầu từ Hạ Chí.
Để tính Thời Cục, người sử dụng bảng Can Chi (dùng cả cho ngày, giờ, năm) (xem Phụ lục). Ví dụ : N.41 Nhâm Dần là số thứ tự của ngày Nhâm Dần từ gốc Ngày N.l Giáp Tý. Nhưng N.41 Nhâm Dần cũng đồng thời là số thứ tự của giờ N.41 Nhâm Dần, kể từ giờ N.l Giáp Tý. Điều này đã thấy một lần trong Độn Giáp.
Ví dụ :
1) Tính Thời Cục của giờ Giáp Tý, thuộc ngày Giáp Thìn, tương ứng với ngày 23-01-1992. Đó là ngày đầu tiên của năm Quý Dậu. Cách tính chia thành nhiều bước như sau :
a) Ngày Giáp Thìn có số thứ tự N.41. Thành thử, từ ngày Giáp Tý đến ngày N. 40 Quý Mão (trước ngày đang xét một ngày) kể cả ngày này, chúng ta có 40 ngày với tổng số giờ là :
40 X 12 = 480 giờ (giờ cổ !).) ■ b) Từ ngày N.l Giáp Tý đến giờ đầu tiên Giáp Tý của ngày N.41 Giáp Thìn, ta có tổng số giờ :
c) Bây giờ ta tính B, c. Ta được :
B = A modulo 360 = 481 modulo 360 = 121, c = B modulo 72 = 49, Ị d) Vì các Dương Cục cho ngày bắt đầu từ ngày 21 hay 22 tháng 12 (Dương), nên ngày Giáp Thìn, tương ứng với ngày Dương lịch 23-01, là thuộc Dương Cục. từ đó ta được đáp số cuối cùng :
Giờ đầu tiên ngày Giáp Thìn 23-01-1992 có Thời Cục c = 49, Dương Cục.
2.) Giờ Canh Tý của ngày Đinh Mão, tương ứng với ngày 10-02-1994 (Dương). Ta có N.4 Đinh Mão. nên tổng số giờ cần tìm và đáp số là
A = 3 X 124-1 = 37, B = c = 37 Dương Cục.
3) Giờ Canh Ngọ, ngày 15 Âm lịch, tháng 8 Âm lịch, năm Quý Hợi (ngày Tết Trung Thu các cháu).
a) Tháng 8 Âm lịch là tháng Tân Dậu, ngày 15 này là ngày N.51 Giáp Dần.
b) Số giờ từ giờ Giáp Tý ngày Giáp Tý đến giờ Canh Ngọ ngày Giáp Dần :
A = (50 X 12) + 7 = 607, B = 607 modulo 360 = 247, c = 247 modulo 72 = 31. Dương Cục.
Từ kết quả trên, ta dễ suy ra ngay các Thời Cục sau ;
Giờ Mùi (của ngày trên) : c = 32, Giờ Thân (cũng của ngày trên) : c = 33...
4) Giờ thứ nhất của ngày thứ nhất của tháng Âm thứ nhất (tháng giêng) trong năm 2000, là năm Canh Thìn.
Tháng Âm đầu tiên đó là tháng Mậu Dần. Ngày đang xét là tương ứng với ngày Dương 5 tháng 02, năm 2000 (xem chẳng hạn lịch của Nguyễn Trọng Bính...), đó là ngày N.30 Quý Tị, năm nhuận, tháng nhuận. Từ đó ta được tổng số giờ
A = (29 X 12) + 1 = 349, B = A modulo 360 = 349, c = B modulo 72 = 61, Dương Cục.
V-CÕNG DỰNG CỦA NIÊN cục, NGUYỆT cục, NHẬT CỤC VÀ THỜI CỤC TRONG HỌC THUYẾT THÁI ẤT
A - NIÊN CỤC (THEO LÊ QUÝ ĐÔN)
Dùng Niên Cục để xem việc lành hay dữ của quốc gia. Đó là nhiệm vụ của nhà Vua và Hoàng Hậu, để sáng chính hóa, sửa đức giáo, xét cơ mưu động thay tỉnh.
B- NGUYỆT CỤC
Dùng Nguyệt cục để xem lành hay dữ của các công khanh, được hay mất, để điều hòa thái độ hòa hay trị.
c- NHẬT CỤC
Dùng nhật cục để đánh giá họa, phúc trong nhân dân, hưng hay suy, dùng cho mọi người lớn hay nhỏ, để theo đúng Đạo (trong cộng đồng, NHP).
D - THỜI CỤC
Dùng để tính mưu kế, sách lược, định chủ vận hay khách vận. Đây là việc của các tướng tá. Dùng Thời Cục để theo dõi sự thay đổi thời tiết trong ngày, hiện tượng động, tỉnh của các nước (xung quanh), các biến động trong nhân dân (giặc giã, cướp bóc...).
Tất nhiên, với tình hình phát triển khủng khiếp hiện nay của thông tin viễn thông tin học, việc xem Thời Cục (cướp thời gian !) là quan trọng biết chừng nào !(NHP).