Tập II — Cơ sở cấu trúc nhân thể theo Đông Y học, Thời Châm học và Trường sinh học
Chương 18
Bài toán chẩn đoán Đông Y đặt ra như thế nào?
BÀI TOÁN CHẨN ĐOÁN ĐÔNG Y ĐẶT RA NHƯ THẾ NÀO ?
I - NỘI, NGOẠI, BẤT NỘI - BẤT NGOẠI NHÂN
Nói về bệnh, cần giải quyết hai vấn để : nguyên nhân sinh bệnh và phân loại bệnh.
NGUYÊN NHÂN BỆNH
Bệnh có thể phát sinh ra ở phần Âm hay phần Dương. Bệnh phát sinh ở phần Âm là do ăn uống, mừng giận thất thường... Bệnh phát sinh ở phần Dương là do nhiễm phải mưa gió, rét, nắng...
PHÂN LOẠI BỆNH
Có ba loại :
- Loại do ngoại nhân là do cảm phải lục dâm (thời tiết : phong hàn, thử, thấp, táo, bón).
- Loại vì thất tình (mừng, giận, lo, nghĩ, buồn, sợ, kinh) ở trạng thái.thái quá là do nội nhân.
- Nếu do ăn uống, vấp ngã đâm... chém là do bất nội, bất ngoại nhân.
II - LOGIC TRUYỀN BIẾN BỆNH
ẴM CHỨNG VÀ DƯƠNG CHỨNG
Chứng hậu là tập hợp các chứng trạng biểu hiện khi các chức năng của cơ thể giảm sút, bất bình thường. Các chứng trạng xuất hiện rất phức tạp, lẫn lộn nhau, biến hóa nhiều cách, nhưng cũng có quy luật nhất định và lại còn quan hệ mật thiết với nhau.
Nói chung, khi mới phát bệnh, chính khí con người chưa bị suy yếu, và các chứng trạng xuất hiện với những hiện tượng dữ dội. Hiện tượng này gọi là Dương
chứng Tam Dương bệnh gồm : Thái Dương, Dương Minh và Thiếu Dương. Nói chung đây là các bệnh loại nhiệt chứng và thực chứng.
Nếu trong quá trình bị bệnh mà chính khí nhân thể đã bị suy yếu, còn các chứng trạng lại biểu hiện một cách yếu đuối, thì các hiện tượng này gọi là Âm chứng Tam Âm bệnh gồm : Thái Âm, Thiếu Âm, Quyết Âm. Nói chung, đây là các bệnh loại hàn chứng và hư chứng.
Với các bệnh ngoại cảm thì tà khí lần lượt tiến sâu vào từ biểu (ngoài) sang lí (trong). Vì các Kinh Thái Dương (Kinh Tiểu Trường, Bàng Quang) là chủ phần biểu của nhân thể, nên khi ta đã từ ngoài lấn vào, thì trước hết phải xuất hiện các chứng hậu của các Kinh Thái Dương. Vì thế, bệnh của các Kinh Thái Dương có thể làm đại biểu cho các hiện tượng mới bị ngoại cảm.
Nếu bệnh của các Kinh Thái Dương không khỏi và lại truyền vào trong, thì có thể xuất hiện các chứng hậu của các Kinh Thiếu Dương (Tam Tiêu, Đởm) có phấn bán biểu, bán lý...
Tiếp theo, bệnh có thể lại tiếp tục vào các Kinh Dương Minh (Đại Trường, Vị) và có tính lý.
Nếu khi tà khí đã truyền vào khấp các Kinh Dương mà bệnh vẫn không khỏi, và lúc đó chính khí lại đã hư, thì ta sẽ truyền vào các Kinh Âm, từ đó xuất hiện các chứng hậu của các Kinh Âm.
Trong các bệnh của các Kinh Âm, bệnh các Kinh Thái Âm (Phế, Tỳ) là bệnh nhẹ hơn cả, sau đó bệnh truyền đến các Kinh Thiếu Âm (Tâm, Thận), và thậm chí đến các Kinh Quyết Âm (Tâm Bào, Can).
HIỆN TƯỢNG BIỂU LÝ TƯƠNG TRUYỀN
Do quan hệ biểu lý giữa các đường Kinh Dương và Âm, bệnh có thể truyền từ Thái Dương sang Thiếu Âm, hay từ Dương Minh sang Thái Âm, hay từ Thiếu Dương sang Quyết Âm. Các hiện tượng truyền bệnh này thường gặp trong lâm sàng và gọi là hiện tượng
BIỂU - LÝ TƯƠNG TRUYỀN
mà chúng ta đã nói đến rất nhiều lần trước đây
CÁC LOẠI TRUYỀN BIẾN BỆNH KHÁC
Nhưng sự phát triển của bệnh có thể có nhiều hình thái khác nhau, bệnh có thể truyền tắt từ Thái Dương sang Dương Minh mà không qua Thiếu Dương, mà cũng có thể không qua cả Thiếu Dương, cả Dương Minh mà truyền thẳng đến Tam Âm...
Trực chứng
Đó là trường hợp tà không từ Dương Kinh truyền vào Ẳm Kinh, mà khi mới phát bệnh đã cố ngay những chứng hậu của Tam Âm, chẳng hạn là các hiện tượng nôn mửa, ia chảy, đấy bụng, miệng không khát... ở kinh Thái Âm. Lý do lâm bệnh là Dương khí không đủ, chính khí suy kém. Các chứng hậu Tam Âm đều có bệnh biến về trực chứng, thường hay gặp với các Kinh Thái Âm và Thiếu Âm.
Lý chứng chuyển thành biểu chứng
Đó là các trường hợp người bệnh có chính khí dần dần trở lại. Khi trong lâm sàng người ta nhận thấy chứng Tam Âm chuyển thành chứng Tam Dương, thì có thể dự đoán rằng bệnh tình có chiều hướng phát triển tốt. Chẳng hạn đó là các trường hợp sau khi các triệu chứng nôn mửa, la chảy (chứng Hậu Thái Âm) kết thúc, thì xoay sang các triệu chứng phát nống, miệng khát (chứng hậu Dương Mình).
Hợp bệnh
Đó là hiện tượng vài đường Kinh đồng thời bị cảm tà (khác với trường hợp truyền biến bệnh), chẳng hạn là trường hợp cả ba đường Kinh Dương đều bị bệnh... Trong các sách Đông Y đều có trình bày chứng hậu các tạng, phủ. ơ đây, chúng tôi chỉ nhấn mạnh tính logic của vấn để nhằm đi vào phương pháp luận, chẳng hạn là hiện tượng truyền biến bệnh.
Bát cương và tứ chẩn
Về mặt chẩn đoán, nói chung có Bát Cương (Âm Dương, Biểu Lý, Hàn Nhiệt, Hư Thức) và Tứ Chẩn. Trong các sách Đông Y đều có trình bày Bát Cương và Tứ Chẩn một cách cặn kẽ.
Cần chú ý rằng Bát Cương lấy Âm Dương làm tổng cương.
III - LOGIC TRONG QUAN HỆ GIỮA TRIỆU CHỨNG VÀ BỆNH
TÍNH ĐA TRỊ, TÍNH KHÁCH QUAN VÀ CHỦ QUAN
Bài toán quyết định nhất trong Đông Y học (cũng như trong các khoa học khác) là xác lập mối quan hệ nhân quả giữa nguyên nhân và kết quả. Đây là một bài toán ngược dẫn đến những nghiệm da trị nói chung, vì nhiều nguyên nhân khác nhau có thể dẫn đến một kết quả như nhau.
Bài toán này có tính bán thực nghiệm, một mặt dựa trên các thống kê lâm sàng, có toán học thống kê - máy móc tham gia, và mặt khác dựa vào hệ chuyên giu (lương y, bác sỉ, dược sĩ, nhà chữa bệnh bằng Trường sinh học).
Hệ chuyên gia mang tính chủ quan, tính nghệ thuật, nhiều lúc mang đến nhiều hiệu quả bất ngờ và thuộc vào phần mềm của bài toán.
Về phần cứng cho đến nay cốt lỗi là các phương trình lập mờ của Sanchez mà chúng tôi sẽ trình bày sau đây trong phần toán học, chương sau.
LOGIC CHẨN ĐOÁN THEO TRƯƠNG THÌN
Theo Trương Thìn, logic chẩn đoán Đông Y gồm nhiều bước như sau :
1. Chẩn đoán khí suy hay vượng
Căn cứ vào sự thống kê các loại triệu chứng theo cơ chế Âm Dương - Ngũ Hành Khí và theo loại triệu chứng nhận dạng khí nào suy hay vượng.
2. Chẩn đoán kinh bị bệnh theo các huyệt chẩn đoán mộ, du
Căn cứ vào sự thống kê chức năng các huyệt Mộ, Du... tương ứng với các đường Kinh xác định, người ta phát hiện Kinh có bệnh bằng cách an các huyện trên, khi bệnh nhân có cảm giác đau.
3. Kết luận về nguyên nhân : kinh nào với khí nào suy hay vượng
Đó là kết quả tổng hợp hai bước trên.
4. Suy diễn về các hậu quả xa hơn trên các kinh bị bệnh
Vận dụng nguyên lý Âm Dương - Ngũ Hành sinh khác để suy diễn ra các triệu chứng khác có liên quan đến kết luận 3), đồng thời để kiểm tra lại kết luận này.
Ví dụ :
BẠI LIỆT NỬA NGƯỜI BÊN Phải Nhân THỂ (TRƯƠNG THÌN)
1. Triệu chứng a) Liệt tay (hay chân) phải, liệt thanh quản, mất ngủ, liệt mặt, táo bón do nhu động ruột yếu.
b) Sung huyết ở phần trên cơ thể, xuất huyết não.
c) Tiết nhiều nước miếng, nước mũi.
d) Tức ngực, sình bụng. • e) Cơ thể gầy dần, teo cơ, sở lạnh, ớn lạnh.
Phân TÍCH TRIỆU CHỨNG THEO CẤU TRÚC Âm DƯƠNG - NGŨ HÀNH
a) Trỏ Mộc, suy (Âm Mộc suy trong Kinh Âm = Dương Mộc suy trong kinh Dương)
b) Trỏ Hỏa vượng, c) Trỏ Thổ vượng, d) Trỏ Kim suy.
e) Trỏ Thủy suy.
Kết luận : Thủy suy (Hình 106 cho Khí Âm và 107 cho Khí Dương).
2. Kinh mắc bệnh Phương pháp dùng huyệt chẩn đoán là huyệt Mộ, huyệt Du (Hình 72 và 73). Chẳng hạn, nếu ấn đau các huyệt sau : Tỳ Du, Ý Xá, Chương Môn, Đại Trường Du, Thiên Xu, Vị Du, Vị Thương, Trung Quản, Phế Du, Phách Hộ, Trung Phủ, thì các Kinh mắc bệnh sẽ là : Tỳ - VỊ, Phế - Đại Trường (Biểu Lý tương truyền).
3. Kết luận về bệnh
Kết hợp phương pháp cấu trúc Âm Dương - Ngũ Hành và phương pháp ấn huyệt chẩn đoán ta kết luận về bệnh :
Tỳ (Âm) Thủy suy, VỊ (Dương) Thủy suy, Phế (Âm) Thủy suy, Đại Trường (Dương) Thủy suy.
4. Suy diễn về các hậu quả xa hơn trên các đường kinh bị bệnh
Nếu Thủy suy thì, theo cấu trúc Ngũ Hành, ta có thể suy ra là Mộc suy, và Kim suy, Thổ vượng, Hỏa vượng tại các kinh Tỳ, Vị, Phế, Đại Trường nói trên (Hình 108), tức là ta suy ra các hiện tượng sau :
Tỳ Mộc suy, Tỳ Kim suy, Tỳ Thổ vượng, Tỳ Hỏa vượng.
VỊ Mộc suy, Vị Kim suy, VỊ Thổ vượng, Vị Hỏa vượng.
Phế Mộc suy, Phế Kim suy, Phế Phổ vượng, Phế Hỏa vượng.
Đại Trường Mộc suy, Đạo Trường Kim suy, Đại Trường Thổ vượng, Đại Trường Hỏa vượng,


Do Dương Mộc suy, Dương Thủy suy, Do Âm Mộc suy, Âm Thủy suy, Dương Kim suy, Dương Thổ vượng, Âm Kim suy, Ẳm Thổ vượng, Dương Hỏa vượng trong các kinh Dương, Âm Hỏa vượng trong các kinh Âm, nên kết luận : nên kết luận :
Dương Thủy suy trong các Kinh Dương Âm Thủy suy trong các Kinh Âm (các ký hiệu với dấu ngang đầu (các ký hiệu không có dấu ngang đầu trò các Dương khí) trò các Âm khí)
ni : Khí Âm Mộc, h : Khí Âm hỏa, w : Khí Âm Thổ, h : Khí Âm Hỏa, t : Khí Âm Thủy, X = Kinh Âm, X = Kinh Dương, w = Kinh Tỳ, Vị, K = Kinh Phế, Đại Trường
HẬU QưÂ
BỆNH



Căn cứ vào các tư liệu thống kê về triệu chứng để kiểm tra lại các suy diễn Ngũ Hành này, từ đó khẳng định (hay bác bỏ) kết luận Âm Thủy suy trên các đường Kinh trên.