TH Tích hợp đa văn hóa Đông Tây

Tập II — Cơ sở cấu trúc nhân thể theo Đông Y học, Thời Châm học và Trường sinh học

Chương 17

Cấu trúc toán học của Linh Quy Bát Pháp

Trang 297–310 của bản in·Xem ảnh quét
297TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

CẤU TRÚC TOÁN HỌC CỦA LINH QUY BÁT PHÁP

Hình trong sách

•NGUYÊÍrư TƯƠNG ĐÓl',NGfo‘;THÊIỈ

Nói chung, những vấn để toán học trong Linh Quy Bát Pháp là những bài toán rất khó, có thể nói là rất ẩn. Lý do chủ yếu là ở chỗ trong lúc Tý Ngọ Lưu Chú được xây dựng trên cấu trúc Ngũ Hành, thì Linh Quy Bát Pháp lại được xây dựng trên một cấu trúc phức tạp hơn là cấu trúc Bát Quái - Cửu Cung. Nhưng cấu trúc Bát Quái - Cửu Cung chỉ được làm sáng tỏ trong một học thuyết khác về Tiết khí là học thuyết Độn Giáp.

Tuy nhiên tài năng của cổ nhân là ở chỗ, ngay khi chưa trình bày lý thuyết về Tiết khí, cũng đã xây dựng được lý thuyết về Linh Quy Bát Pháp, bàng một số thuật toán xác định, tưởng chừng không hể đà động đến Tiết khí, nhưng thực ra lại gần đúng nằm ngay trong lòng lý thuyết đó.

Vì thế, một số nghiên cứu toán học trong chương này chỉ mang tính sơ bộ.

Cũng cần nhấn mạnh đến vai trò các lạc trong một số bài toán của Linh Quy Bát Pháp, vì Lạc về mặt toán học, chính là những thực thể tạo nên các quan hệ mờ mang tính đối xứng...

I - VẤN ĐỀ BỐN ĐƯỜNG KINH BỊ LOẠI TRONG LINH QUY BÁT PHÁP

Như đã thấy ngay từ đầu của học thuyết Linh Quy Bát Pháp, trong khi kết hợp với các Kỳ Kinh Bát Mạch, thì bốn đường Kinh Chính là Tâm, Đại Trường, Can và VỊ đã "bị loại" ra ngoài. Tại sao ? Về mặt thực thể, chỉ có thực nghiệm mới làm sáng tỏ được cơ chế "loại" bốn đường kinh đó. Nhưng tất nhiên điều này không có nghĩa là chỉ có thực nghiệm mới giải thích được những bí ẩn đó. vì chúng ta biết rằng Triết cổ Đông phương là một học thuyết về đối xứng, cũng theo phương pháp luận đối xứng như trong Vật lý Lý Thuyết hiện đại. Mà sở dĩ như thế là vỉ

298NHÂN THỂ - THÁI ẤT

con người chúng ta cũng là một hệ thống mang nhiều tính đối xứng khác nhau. Thành thử, trong những bài toán bí ẩn nhất của Triết Đông phương, về Vũ Trụ hay nhân thể, cần luôn luôn hướng về phương pháp luận đối xứng. Đây là một bài toán đa tiêu chuẩn về đối xứng. Theo dòng suy nghỉ này, chúng tôi để ra một cách giải bài toán bốn đường Kinh bị loại đó, dựa vào nhiều tính đối xứng khác nhau như sau. Trước hết chúng ta hãy quay lại nguyên lý tương hợp Can - Hành, được viết lại dưới dạng Bảng sau :

GIÁP-KỶ ẤT - CANH BÍNH-TÂN ĐINH-NHÂM MẬU - QUÝ Thổ Kim Thủy Mộc Hỏa Bảng 36. QUAN HỆ CAN - HÀNH THỨ NHẤT Bây giờ, chúng ta chuyển sang một quan hệ Can - Hành khác GIÁP - ẤT BÍNH-ĐINH MẬU - KỶ CANH-TÂN NHÂM- QUÝ

Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy Bảng 37. QUAN HỆ CAN - HÀNH THỨ HAI • Tiếp theo, ta lại xét mối quan hệ Can - Kinh dưới dạng Bảng sau

GIÁP-    KỶ        ẤT-          CANH               BÍNH-                   TÂN                       ĐINH-NHÂM                                MẬU-                                   QUÝ

Mã - Wo Mo -Kö Hà - ko Ho - To Wi - To Bảng 38. QUAN HỆ CAN - KINH A - NGUYÊN LÝ TƯƠNG HỢP ĐỐI NGẪU Bây giờ, kết hợp ba Bảng trên lại với nhau, ta được Bảng sau BẢNG 37 BẢNG 36 BẢNG 38 Giáp - Ất = Mộc / Mộc = Đinh - Nhâm Đinh-Nhâm = Ho-To Bính - Đinh = Hỏa Hỏa = Mậu - Quý Mậu-Qúi = Wto-To Mậu - Kỷ = Thổ | Thổ = Giáp - Kỷ Giáp-Kỳ = : Mo-Wg Canh - Tân = Kim | Kim = Ất - Canh Ất-Canh Mp-Ka Nhâm - Quý = Thủy : Thủy = BÍnh - Tân Bính-Tân = : H'o-Ko

Bảng 39. DÃY CÁC QUAN HỆ CAN - HÀNH - KINH

299TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Từ bảng 39, ta suy ra ngay mối quan hệ cần tìm sau GIÁP - ẤT BÍNH-ĐINH MẬU - KỶ CANH-TÂN NHÂM-QUÝ Ho - To Wã - To Mó - Wo Mo - Kệ Hó - Ko

Bảng 40. NGUYÊN LÝ TƯƠNG HỢP ĐỐI NGẪU Quan hệ này - tính được từ nguyên lý Tương hợp - gọi là nguyên lý Tương hợp đối ngẫu (dual) kết quả của sự phối hợp giữa nguyên lý Tương hợp với tính đối xứng Ngũ Hành. Như thế, theo nguyên lý Tương hợp đối ngẫu này, 8 đường Kinh Chính được chia thành 4 lớp, tương ứng với các Thiên Can từng đôi Giáp - Ất, Bính Đinh... xếp theo Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy : {a-Tol (mo-Taj, (mi-woj, (M. -K0}, H5 - K.}. Bảng 41. CÁC CẶP ĐƯỜNG KINH THEO NGUYÊN LÝ TƯƠNG Hợp ĐỐI NGẪU và trong mỗi cặp, các thành viên không được tách rời nhau. B - THIÊN NHẤT SINH THỦY : TÍNH ĐỐI XỨNG NGUỒN Bài toán đặt ra là một bài toán đa tiêu chuẩn, với tiêu chuẩn đầu là nguyên lý tương hợp đối ngẫu. Tiêu chuẩn thứ hai là một tiêu chuẩn cũng hết quan trọng, gọi là tính Đối xứng Nguồn, có hai sắc thái, với nội dung như sau. Sắc thái thực thể của tính Đối xứng Nguồn Sắc thái này xuất phát từ hệ thống các lạc Phu - Phụ, mà chúng ta đã nói tới trước đây trong Chương I1 Phần I. Bây giờ, chúng ta hãy diễn các quan hệ Phu Phụ đó dưới dạng ký hiệu, và một lần nữa chúng ta thấy ở đây lại xuất hiện nguyên lý Biểu lý tương truyền :

TÂM   -  PHẾ      TIỂU       TRƯỜNG          ĐẠI          TRƯỜNG                CAN                 -                 TỲ
                                         ĐỚM                                           -                                           VỊ
Ho(y)-Ko(y)
             Hü(yt)                -Kü(y*)                       Mo()                          -                         Wo(y)                             Mo(y+)                                -Wa(yt)

TÂM Bào - THẬN TAM TIÊU-BÀNGQUANG

• Zoly-To(y) Zt (vt) - To(v*)

Bảng 42a. QUAN HỆ PHU PHỤ, XUẤT XÚ THỰC THỂ CỦA TÍNH ĐỐI XỨNG NGUỒN ch u n cn u nhn ch à t đn nàn chôn gin càc ni T th t à trong các công thức của các dường kinh.

300NHÂN THỂ - THÁI ẤT

Những quan hệ tạo nên bởi các Lạc Phu Phụ được trình bày ở Hình 93. Hình ày mn tán i xùn đặc tếển vi mn tran dc bì đ h Cư g gi c cc Can - Phế, Đởm - Đại Trường. Trục này gọi là trục đối xứng Phu Phụ hay trục Đối xứng Nguồn, còn bản thân tính đối xứng gọi là tính Đối xứng Nguồn. Các yếu tố đối xứng trục qua tính Đối xứng Nguồn trên là H,→ W, K →M, (a) I, →T, TÍNH ĐỐI Xứng NGUỒN Sắc thái giải tích của tính Đối xứng Nguồn Chúng ta hãy tìm một cơ sở khác của tính Đối xứng Nguồn. Đó là sắc thái giải tích, xuất phát từ các hệ phương trình cân bằng của các đường Kinh Chính, viết lại để độc giả để theo dõi :

Hình trong sách

Trục Đốc đối xứng wt

Ht к* H

Hình 93 : BIỂU HIỆN HÌNH HỌC CỦA TÍNH ĐỐI XỨNG NGUỒN

HỆ PHƯƠNG TRÌNH 12 ĐƯỜNG KINH CHÍNH BÊN TRÁI, KINH ÂM M(,1a) = {(K U H) ^ (W U T)) () = M() Ha(V, Ya) = ((I U W) n (E U M)) (v) x Tu W.U. Ya) = {(M U B) M (T U H)) () x Ia K(,Y)= {(HUT) ^ (M U W)} (v) = K(y)

301TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

TỚ, ya) = {(W u M) n (ã u Kì} 0) X Ha z„<y, ư = Í(Ã u T) n (í n M)J (y) X Ta

HỆ PHƯƠNG TRÌNH 12 ĐƯỜNG KINH CHÍNH BÊN PHẢI, KIMH ÂM

{(X n T) u (ĨỸ n H)} (y) = M(y) M„ừ, Jj =

H„{y, ya) = {(í n M) u (Ẩ n W))w X Ta wo(y, ya) = {(ũ n H) u (ỹ n K)} 0) X Ta

Kjy, ỵj = {(ã n W) u (M n T)} (y) = K(y)

T„ứ, ý.) = {(S n K) u (5 n M)] ờ) X Ha z&, yj = ((H n M) u (K n T))« X 7 ;

Nếu chúng ta thực hiện phép hoán vị (a), viết dưới dạng chỉ tiết hơn sau :

M *=>K, H &w, T

T^T* Ha~Ha Q3)

^, ~ ^ «0 ~ ^,. « T„ thì 4 phương trình đầu tiên của cả hai hệ sẽ hoán vị cho nhau, phương trình thứ 5 của T vẫn giữ nguyên. Như thế trong khuôn khổ cấu trúc Ngũ Hành thì các hệ phương trình cân bằng là không đổi đối với phép hoán vị. Sự kiện này trong Vật lý học gọi là bất biến, ký hiệu là inv (từ chữ invariant). Các nhà vật lý gọi đó là bất biến (a) hay inv. (a)

Nhưng nếu bây giờ chúng ta không hạn chế ở các hệ phương trình Ngũ Hành, mà xét thêm phương trình của Tâm Bào và Tam Tiêu, thì rỗ ràng sẽ xuất hiện một sự kiện không inv ở các phương trình của Tâm Bào và Tam Tiêu. Tính bất biến (ữ) bị vi phạm. Đó là một điều tất yếu không thể tránh được.

Vấn đề là tìm xem sự vi phạm tính bất biến là tối thiểu ở đâu.

Nếu chúng ta xem xét các phương trình của Tâm Bào (và Tam Tiêu) thì thấy rằng phương trình này ỏ hệ phải có phần (H CÌ M) trùng với phương trình của Thận. Chính điều này có nghĩa là sự vi phạm bất biến (a) sẽ tối thiểu khi xem Tâm Bào "gần" với Thận.

Thành thử nếu không kể đến sự khác nhau giữa To và Zo, thì phép hoán vị Q3) gần đúng như phép hoán vị («). Và đó chính là tính chất giải tích (gần đúng) của tính Đối xứng Nguồn.

c-sự LOẠI BỐN ĐƯỜNG KINH

Đến đây, chúng ta cần kết hợp hai tiêu chuẩn là nguyên lý Tương hợp đối ngẫu và tính Đối xứng Nguồn lại với nhau.

Với tính Đối xứng Nguồn, chúng ta diễn ra như sau :

1) Do điều kiện Ta = inv, Ha = inv chúng ta - như trên - không ghi các lượng ya vào các công thức sau.

2) Chúng ta lại sử dụng nguyên lý Biểu lý tương truyền, tức là thực hiện phép thay thế

302NHÂN THỂ - THÁI ẤT

X(y) bằng X (vt) hay ngược lại. Ta được Bảng sau : (a) (b) (c) Mo → Ko Mo(y) → Ko) Ho() = Ki03, Mó(y*) → Ho → Wo Ho (y) → Wo() Ho) Wo (y HD*(y*) = Wo() To → To To) =To(y) To(y) → To(y*) Tot(yt) =To(y)

Báng 42b. CÁC CẶP ĐƯỜNG KINH CHÍNH THEO TÍNH ĐỐI XỨNG NGUỒN Đến đây, chúng ta đối chiếu các kết quả thu được từ hai tiêu chuẩn trên là các Bảng 42a và 42b. Rõ ràng chỉ có các cặp ở (c) Bảng 42b, khi kết hợp với nhau thành bộ (M), K", Ht, W,, Tt, T.), mới phù hợp với Bảng 42a. Bộ này là điểm chung giữa hai tiêu chuẩn trên. Như thế là bốn đường Kinh M,, Kt, H,, Wt bị loại.

II - BÀI TOÁN KẾT HỢP BỐN ĐƯỜNG KINH TRONG LINH QUY BÁT PHÁP Chúng ta trở lại Bảng 27 về sự kết hợp các huyệt hay đường Kinh trong Linh Quy Bát Pháp ; (m) (n) (p) (9) Z$ - Mó Hà - Tạ - To Wo- Zo • Ko Hai trường hợp (m), (n) là do sự tồn tại các Lạc nối các Kinh liên tiếp nhau trong Đại Chu Thiên. Còn hai trường hợp sau (p), (q) lại do tính đối xứng của hai trường hợp trên qua trục Đối xứng Nguồn (Hình 94)

Hình trong sách

Hình 94. SỰ KẾT Hợp CÁC DƯỜNG KINH TRONG LINH QUY BÁT PHÁP VÀ TÍNH ĐỐI XỨNG NGUỒN.

303TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

III - BÀI TOÁN KẾT HỢP KINH VỚI MẠCH TRONG LINH QUY BÁT PHÁP. TINH, KHÍ, THẦN

Chúng ta hãy xét mối quan hệ giữa các Kinh và Mạch trong Linh Quy Bát Pháp, song song với bài toán Tinh, Khí, Thần.

1) Cập { {Zÿ Hui 1 Kinh H° xét ở hệ trái trong lân cận của nghiệm chung của hai hệ phải, trái.

Trục nối hai Kinh này (Hình 20) rỗ ràng mang tính Dương, đi qua cả hai Mạch Dương là Mạch Dương Duy và Mạch Đốc. Trục này có thể gọi là trục Thần, do nó liên đới tới Tâm qua Tiểu Trường, mà Tâm thì tàng Thần.

Chúng ta biết rằng Mạch Dương Duy có chức năng điều hòa các Kinh Dương, trong lúc đó thì Mạch Đốc là Mạch Dương quan trọng nhất, còn giao hội huyệt các đường Kinh Dương KY, HỆ, z^ (tức là huyệt X 8) lại nằm trên đường Kinh Tam

Tiêu. Cho nên, sự có mặt các Mạch Đốc và Dương Duy trên trục Thần - Dương là hợp lý2) Cặp {Zo « Tol, Kinh To ở hệ phải, trong lân cận của nghiệm chung. Trục này mang tính Âm, có liên quan đến Thận, mà Thận thì tàng Tinh. Trục này đi qua hai Mạch Âm là Âm Duy và Âm Kiểu. Trục này có thể gọi là trục Tinh.

Với Mạch Âm Duy có chức năng điều hòa các Kinh Âm, còn giao hội huyện các Kinh Âm K^ Ho, Z(ì (tức là huyệt IX) lại nằm trên Tâm Bào Kinh, nên chúng ta thấy rằng việc Mạch Âm Duy kết hợp với Tâm Bào Kinh và Kinh Thận là hợp lý.

3) Cặp {MỸ} Wơ} có liên quan đến nguyên lý Tương hợp đối ngẫu (Bảng 40).

Cặp này tạo nên trục Trung ương do, theo nguyên lý Tương hợp đối ngẫu (Bảng 40), hai yếu tố của cặp này hợp nhau để "hóa" thành Trung ương Thổ.

Hình 95. CÁC TRỰC TINH, KHÍ, THẦN VÀ TRUNG ƯƠNG TRONG LINH QUY BÁT PHÁP
Hình 95. CÁC TRỰC TINH, KHÍ, THẦN VÀ TRUNG ƯƠNG TRONG LINH QUY BÁT PHÁP
304NHÂN THỂ - THÁI ẤT

4) Cặp { T*, Kơ} có thể cho là trục Khí, do Phế chủ khí. Mặt khác, trên Mạch

Nhâm có một huyệt hết sức quan trọng là huyệt Khí Hải (biển Khí). Thành thử ta có sự phối hợp Nhân - Phế.

5) Giữa các đường Kinh và các Mạch còn lại M^, T*, Wn, Tf). Âm Kiểu, Dương

Kiểu. Xung, Đới thì rõ ràng cách ghép, Thận - Ầm Kiểu, Bàng Quang - Dương Kiểu, Xung - Tỳ và Đới - Đởm là hợp lý nhất (Hình 98).

IV - MỘT NHẬN XÉT VỀ MÃ số LINH QUY BÁT PHÁP VÀ BÀI TOÁN PHƯƠNG HƯỚNG

Có thể đưa ra một nhận xét về mã số của Linh Quy Bát Pháp dựa trên tính Đối xứng Nguồn. Trước hết chúng ta nhận xét rằng các hệ phương trình cân bằng các đường Kinh nhận nhiều tính đối xứng trục, đi qua các Hành khác nhau (Hình 98, 99, 100, 101).

Nếu gọi chỉ số các Hành theo Bảng sau (với modulo 5)

HỔA THỔ KIM THỦY MỘC

4 1 3 5 2 thì rỗ ràng tổng các chỉ số các Hành đối xứng với nhau là bằng nhau, tổng số này chúng tôi gọi là trọng số của Hành nằm trên trục đối xứng.

Hình trong sách
Hình trong sách

Hình 97. Hình 96. TÍNH ĐỐI XỨNG TRỤC TÍNH ĐỐI XỨNG TRỤC QUA HÀNH THỔ QUA HÀNH HỎA

Trọng số Hành Thổ = 3(W) + 3(W) * Trọng số Hành hỏa = 2(H) + 2(H) =

2(H) + 4(K) = 1(M) + 5(T) =6 1(M) + 3(W) = 5(T) + 4(K) = 4 modulo 5

305TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY
Hình trong sách

Trọng số của Thủy

Hình 98. TÍNH ĐỐI XÚNG TRỤC QUA HÀNH THẬN

Trọng số Hành Thận ■ 2(W) + 3(7) ■ 1(W + 4(K) = 5(7) + 5(7") = 5 moduloõ

Nguồn gốc của tính chất trên rất là giản đơn, đó chỉ là hệ quả của tính hoán vị vòng quanh 5 vật (Hành).

Nhưng nếu bây giờ chúng ta vận dụng tinh thần này vào mã số Linh Quy Bát Pháp, thì chúng ta cũng có một tình hình như thế, nhưng chỉ với Hành Thận mà thôi, nghĩa là chỉ trong khuôn khổ của Tính Đối xứng Nguồn, khi không xét đến các Hành z.

Quả vậy, theo Linh Quy Bát Pháp thì với tính Đối xứng Nguồn :

M ^K, H <=^w, T^T.

ta có ngay đẳng thức :

4 {Mã số (A^)} + 9 {Mã số un} = 7 {Mã số (H1)} 4- 6 {Mã số (W)} = = 1 {Mã số (T+)} + 2 {Mã số (T)} = 3 modulo 10.

(Ta đã.bỏỊchỉ số o cho đơn giản). Phải chăng đây là một dụng ý của cổ nhân, hay chỉ là một điều "tỉnh cờ" ?

Tuy nhiên, nếu chỉ chú trọng đến tính chất tổng mã số không thay đổi này, thì rõ ràng chúng ta có nhiều khả năng về phương hướng của Linh Quy Bát Pháp (các Hình 99, 100, 101).

Các Hình này nói lên một điều : Ly - Hỏa không cứ chỉ ở phương Nam, Khảm - Thủy không cứ chỉ ở phương Bắc, Đoài không cứ chỉ ở phương Tây và Chấn không cứ chỉ ở phương Đông.

Cụ thể hơn : Với Bắc bán cầu thì Ly - Hỏa ở phương Nam, cũng như Khảm - Thủy ở phương Bắc là đúng. Còn với Nam bán cầu thì sao ? Tất nhiên với bán cầu này thì Nhiệt - Hỏa lại ở phương Bác, còn Hàn - Thủy lại ở phương Nam !

Mặt khác, Đông và Tây chỉ là hai khái niệm tương đối, đối với hai người ở hai điểm đối tâm của Quả Đất, cùng úp mặt xuống đất và đầu cùng hướng về phương Bắc - và nếu công nhận Đông ở bên phải còn Tây ở bên trái - thì cái gọi là Đông của người này, lại là Tây của người kia và ngược lại ’

Còn nếu ở trên đường Xích Đạo thì sao ? Còn nếu di chuyển từ Bắc bán cầu sang Nam bán cầu thì sao ? Đây chỉ là một số gợi ý của chúng tôi.

306NHÂN THỂ - THÁI ẤT

Hình 99

Hình 100

Hình 101

Hình trong sách
Hình trong sách
Hình trong sách

V - TÍNH CHẤT TÔPÔ CỦA LINH QUY BÁT PHÁP

Trong Linh Quy Bát Pháp nói riêng và trong Triết cổ Đông phương nói chung, có những biểu hiện tôpô, cụ thể dưới dạng con đường số 8 hay là Mebius, như đã bàn tới trong Phần Đại cương. Cũng như đã thấy ở đây, sự kiện này biểu thị một trong những quan điểm cơ bản của cổ nhân là mọi vật đều Dịch, Dịch theo những con đường xoắn lốc.

307TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Tại đây, chúng ta hãy đi cụ thể vào tính chất tôpô của Linh Quy Bát Pháp.

1) Nếu chúng ta đánh số hào Âm ở dưới có giá trị 1, hào Âm ở trên có giá trị 2, mọi hào Dương đều có giá trị bằng 0, sau đó cộng các giá trị đó lại với nhau rồi thêm 1 vào để thành giá trị của cả Quẻ, thì sẽ thu được Bảng giá trị sau của các Quẻ Thái Âm, Thiếu Dương, Thái Dương, Thiếu Âm :

Thái Âm Thiếu Dương Thái Dương Thiếu Âm

1+2+1 = 4 0+2+1 = 3 0+0+1 = 1 1+0+1 - 2

Tiếp theo, nếu đi theo chiều tăng hay giảm liên tục của các giá trị các Quẻ, thì sẽ thấy rằng chúng ta đi theo con đường số 8 ! (Hình 102).

Hình trong sách
Hình 102. CON ĐƯỜNG SỐ 8 Hình 103. CON ĐƯỜNG SỐ 8 CỦA
Hình 102. CON ĐƯỜNG SỐ 8 Hình 103. CON ĐƯỜNG SỐ 8 CỦA

Tứ TƯỢNG CỦA Đ.C.THIÊN

Hình trong sách
Hình trong sách

Mùi Ngọ Ty Thin

Hình 104. Hình 105. TÔPÔ LÁ MEBIUS TÔPÔ BÌNH KLEIN

308NHÂN THỂ - THÁI ẤT

Tương tự như thế, nếu xếp các đường kinh theo trình tự thông thường : Thận, Tâm Bào, Tiểu Trường, Đờm, Can, Tiểu Trường, Tâm, Tỳ, Vị, Phế, Bàng Quang, Thận (Hình 103), thì con đường Đại Chu Thiên cũng là một con đường số 8.

Tiếp theo, nếu đồng nhất các Can Chi cùng mã số ngày, giờ Linh Quy Bát Pháp lại với nhau, (Hình 104, 105) chúng ta cũng được các hình tôpồ của lá Mebius hay bình Klein (Hình 9).

Tính chất tôpô là Mebius có ý nghĩa sâu xa gì ?

'Trong một loại thực nghiệm ở Trường Đại học Colorado, sau khi tạo được các phân tử hữu cơ, người ta cho các xích phân từ đó tự khép kín lại. Họ thấy có hai loại khác nhau. Một loại khép kín thành băng trụ. Còn loại thứ hai khép kín thành bảng Mebius. Các phép đo với máy cộng hưởng từ hạt nhân cho thấy rằng hai dạng tôpô khác nhau đó lại có những tính năng khác nhau, dù có phổ năng lượng như nhau. Các băng trụ có độ cứng của tinh thể. Còn các băng Mebius lại lỏng như dầu. Như thế, ta thấy Tự nhiên đã chọn hai con đường tôpô khác nhau... với những tính năng khác nhau ’

CẤU TRÚC TOÁN HỌC CỦA LINH QUY BÁT PHÁP NẰM Ở CHỖ NÀO ?

Chúng ta đã cố gắng giải một số bài toán của Linh Quy Bát Pháp, nhưng phải thừa nhận rằng chưa đi sâu được vào bản chất cấu trúc toán học của hệ này. Chúng ta chưa phát hiện được cái gì nằm đàng sau Bảng 28 của hệ Linh Quy Bát Pháp...

Theo chúng tôi, như đã nói trước đây, khung toán học của Linh Quy Bát Pháp còn nằm trong một hệ thống khác, rộng hơn và sâu hơn, với ba tập hợp số

{1, 7, 4}, {3, 9, 6} và {2, 8, 5}.

Trong ba tập hợp này, tập {2, 8, 5} được biểu hiện rõ nhất trong Linh Quy Bát Pháp với trục Tinh và các Kinh Tâm Bào và Thận.

Còn để rõ vị trí hai tập khác, cần đi sâu hơn vào cấu trúc của Bát Quái và lình vuông sao Thổ.

309TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

PHẦN BA

Sơ LƯỢC VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN BÁN THỰC NGHIỆM TRONG CHẨN ĐOÁN ĐÔNG Y

310NHÂN THỂ - THÁI ẤT

(trang để trắng trong bản in)

Nguyễn Hoàng Phương, Tích hợp đa văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1996. Bản số hóa từ ảnh quét; văn bản do OCR nên có thể còn sai sót — bấm vào số trang trong bài để đối chiếu ảnh quét nguyên bản.

Trong mục này