TH Tích hợp đa văn hóa Đông Tây

Tập II — Cơ sở cấu trúc nhân thể theo Đông Y học, Thời Châm học và Trường sinh học

Chương 9

Sơ bộ về cơ sở của Đông Y học

Trang 183–197 của bản in·Xem ảnh quét
183TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

sơ BỘ VỀ Cơ SỞ CỦA ĐÔNG Y HỌC

I - KHÁI QUÁT VỀ CẤU TRÚC HỆ THỐNG

Cơ sở của Đông Y học và Thời Châm học nói riêng và của các học thuyết về con người nói chung đều dựa vào các nguyên lý sau :

- Nguyên lý Vũ Trụ là MỘT, - Nguyên lý Con Người là một Tiểu Vũ trụ, - Nguyên lý Thiên - Địa - Nhân hợp nhất.

Do các nguyên lý này dựa vào các cấu trúc Âm Dương - Tứ Tượng - Ngũ Hành - Bát Quái - Cửu Cung, như chúng ta đã thấy một phần ở Phần Đại Cương, nên

" các học thuyết về nhân thể nói chung cũng phải mang những cấu trúc đó.

Nói cách khác, các nguyên lý này phải được xem như hệ thống tiên đề cơ bản nhất cho phép xây dựng những học thuyết khác nhau về con người. Logic của các học thuyết về nhân thể xuất phát từ đây.

Theo tinh thần của nguyên lý Đơn Nhất và Đa Dạng, các nguyên lý chung ở trên biểu thị cái Đơn nhất. Còn cái Đa dạng biểu thị ở hệ thống các hệ thống con suy từ các nguyên lý đó.

- Các hệ thống con này, trong Đông Y học, là hệ thống các đường Kinh Chính (Kinh Dương, Kinh Âm), hệ thống Tạng, Phủ...

- Các hệ thống con đó, trong Thời Châm học, là hệ Linh Quy Bát Pháp, Tý Ngọ Lưu Chú...

- Cần nói thêm là các hệ thống con này, trong lý thuyết Trường Sinh học, -là các cơ thể vô hình của nhân thể. Giữa cấu trúc các Kinh, Mạch, Huyệt trong Đông Y học, Thời Châm học và cấu trúc Trường Sinh học phải có một mối quan hệ hữu cơ. Có thể nói chính cấu trúc Trường Sinh học dẫn đến cấu trúc Kinh, Mạch, Huyệt. Tính thống nhất của Vũ trụ, hay tính Đơn nhất, phải được biểu hiện khắp mọi nơi. Một sự nghiên cứu các học thuyết cổ Đông phương, nếu không dựa vào kim chỉ nam trên, sẽ không thể đi đến cùng được.

184NHÂN THỂ - ĐÔNG Y HỌC

CÁC NGUYÊN LÝ CƠ VŨ TRỤ LÀ MỘT. CON NGƯỜI LÀ MỘT TIỂU VŨ TRỤ, NGUYÊN LÝ THIÊN - ĐỊA - NHÂN HỢP NHẤT BẢN CẤU TRÚC CẤP TÔI THƯỢNG

CẤU TRÚC CẤP | CẤU TRÚC TRƯỜNG SINH HỌC : HỆ THỐNG CÁC CÓ THỂ VÔ HÌNH CỦA NHÂN THỂ = HỆ THỐNG 64 QUẺ VĂN VƯƠNG ?

CẤU TRÚC CẤP II HỆ THỐNG KINH, MẠCH, HUYỆT CỦA ĐÔNG Y HỌC VÀ CÁC HỆ THỐNG TRONG THỜI CHÂM HỌC, DẪN XUẤT TỪ TRƯỜNG SINH HỌC

II - CẤU TRÚC THỰC THỂ Của ĐÔNG Y HỌC

A - CÁC NHÂN TỐ CƠ BẢN TRONG ĐÔNG Y HỌC VÀ THỜI CHÂM HỌC. LƯỚI, PLASMA SINH HỌC, KINH, MẠCH, KHÍ, HUYỆT Để xây dựng các cấu trúc hay hệ thống về nhân thể, trong Đông Y học và Thời Châm học, xưa và nay đã có những thuật ngữ sau về cấu trúc bản thể (TSH : Trường Sinh học) :

XƯA : TRIẾT Kinh, Mạch Khí Huyệt ĐÔNG PHƯƠNG

NAY : KHOA HỌC Lưới các cơ thể Plasma Điểm giao thoa vô hình, hay của sinh học các sóng dừng TÂY PHƯƠNG TSH TSH

B - SỰ THỐNG NHẤT GIỮA HUYỆT VÀ TRƯỜNG SINH HỌC - Về Trường Sinh học hay tập hợp các cơ thể vô hình của nhân thể, chúng ta sẽ nói chi tiết hơn trong Phần Kinh Dịch, do có nhiều khả năng là tập hợp này có cấu trúc giống như tập hợp các hào của các Quẻ trong Kinh Dịch. Trong chương này chúng tôi chỉ giới thiệu là Trường Sinh học có 7 lớp với số thứ tự và tên sau : (đếm từ "trong ra ngoài") (Hình 4) :

185TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY
Hình trong sách

HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG - LÊ HỮU TRÁC

186NHÂN THỂ - ĐÔNG Y HỌC

В редакцию приходит немало писем о академики Юрия Bacuanenuwd TYUJIHEтак называемых биополях и приписыва- BA и заведующего лабораторней радиоемь MU необычных эффектах. Ответить электронных методов исследования бш Hữ содержащиеся в них вопросы WHTẠ- логических объектов доктори физик телей наш специальный корреспондент атематических наук Эдупрда Эммил Александр ПЕРЕВОЗЧИКОВ попросил вловича ГОДИКА. HanuCawHWIU Hũ о заместителя директори Института може беседы с ними статью предлагаем диотехники и электроники "AH CCCP, вниманию читателей.

РАДУГА ФИЗИЧЕСКИХ IIUWIEI ЧЕЛОВЕКА

Hình 53. TRƯỜNG SINH HỌC ĐƯƠC CHUYẾN MỘT PHẦN • THÀNH TRƯỜNG VẬT LÝ CÓ THỂ CHỤP ĐƯỢC (Công bổ của viện sinh học diện tủ Liên Xô tại Mátcova, năm 1986)
Hình 53. TRƯỜNG SINH HỌC ĐƯƠC CHUYẾN MỘT PHẦN • THÀNH TRƯỜNG VẬT LÝ CÓ THỂ CHỤP ĐƯỢC (Công bổ của viện sinh học diện tủ Liên Xô tại Mátcova, năm 1986)
187TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY
Hình 54. CÁC TRUNG HUYỆT BARBARA ANN BRENNAN VÀ TANSELEY
Hình 54. CÁC TRUNG HUYỆT BARBARA ANN BRENNAN VÀ TANSELEY

1. Cơ thể Etheric Cấu trúc lưới (bình diện Vật lý)

2. Cơ thể Cảm xúc Chất plasma sinh học (một loại chất lưu nào đó, gồm các hạt nào đó) (bình diện Vật lý)

3. Cơ thể Tâm thần Cấu trúc lưới (bình diện Vật lý)

4. Cơ thể Trung gian Một chất plasma sinh học khác tinh hơn hay Tinh tú chất plasma sinh học trước

5. Cơ thể Etheric mẫu Cấu trúc lưới (bình diện Tâm linh)

6. Cơ thể Thiên Một chất plasma sinh học khác nữa tinh nhất (bình diện Tâm linh).

7. Cơ thể Ketheric mẫu Cấu trúc lưới (bình diện Tâm linh).

- Các lưới gốm những đường (ống) năng lượng trong đó có các chất plasma sinh học chảy.

- Các lưới này đều có ít nhất cấu trúc Âm Dương - Ngũ Hành - Bát Quái.

188NHÂN THỂ - ĐÔNG Y HỌC

- Các cơ thể vô hình gổm nhiều sóng dừng (như sóng dây đàn, khác với sóng vô tuyến gọi là sóng chạy). - Theo David Tanseley, thì huyệt vị chính là nơi giao thoa của các sóng dừng các cơ thể vô hình. Cụ thể là :

SỰ THỐNG NHẤT GIỮA TRƯỜNG SINH HỌC VÀ HỌC THUYẾT CÁC HUYỆT

ĐIỂM GIAO THOA ĐIỂM GIAO THOA ĐIỂM GIAO THOA 21 SÓNG DỪNG 14 SÓNG DỪNG N SONG DÙNG, N ≤ 7

Đại huyệt hay Chakra Trung huyệt Huyệt thông thường (Hình 5) (Hình 54) (Các Hình 65 - 73) (Đavid Tanseley) (David Tanseley) (David Tanseley)

C- KHÍ HẬU THIÊN, KHÍ TIÊN THIÊN 1. Hải thượng Lãn ông Hải Thượng Lãn Ông đã viết trong tác phẩm Y Lý Thâu Nhàn, Y Huấn Cách Ngôn, Y Nghiệp Thần Chương của ông : "Mệnh Môn Hỏa ở giữa hai quả Thận, là khí Thái Cực trong nhân thể. Đó là Chân Dương, sẵn có từ khi mới bẩm thụ tinh, huyết của cha mẹ. Và người ta sống lâu hay chết yểu cũng đều quan hệ đến cái đó. Cho nên cái đó gọi là Tiên thiên. Khi con người được sanh ra rồi, thì các thứ ăn uống đi vào Vị, được văn hóa nhờ Tỳ, cùng với những cái hữu hình của Tâm, Can, Phế, Thận. Đó là những cái xuất hiện sau khi con người được sanh ra. Cho nên gọi những cái đó là Hậu thiên". 2. Barbara Ann Brennan Theo các nghiên cứu của Barbara Ann Brennan, thì có thể cho rằng : - Plasma sinh học của cơ thể Thiên số 6 là Khí Tiên thiên, - Plasma sinh học của cơ thể Cảm giác số 2 là Khí Hậu thiên, - Plasma sinh học của cơ thể Trung giạn số 4 có thể gọi là "Khí Trung gian".

CHÚ Ý - Nhiều nhà khoa học giả thiết rằng các Khí nói trên gồm những hạt nào đó, gọi là Preon. Orgon,... còn Trường sinh học, họ gọi là •Trường Sống. Trường Tư Tưởng. Trường có Tổ chúc... Cha ông chúng ta gọi đó là Phách, Vía, TrÍ..

189TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

- Nhiều nhà nghiên cứu tách rời học thuyết Kinh, Mạch, Huyệt với

Trướng Sinh học, thậm chi' phủ nhận sự tồn tại của Trường Sinh học.

trong lúc hai thực thể đó lại chỉ là một : Kinh, Mạch, Huyệt chi' là dẫn xuất của Trường Sinh học

CẤU TRÚC CỦA XÁC - Tức LÀ CÓ THỂ Vật LÝ - ĐƯỢC XÁC ĐỊNH BỞI CẤU TRÚC CỦA CÁC CƠ THỂ VÔ HÌNH. MÀ GẦN NHẤT BỞI CÓ THỂ ETHERIC.

III - CẤU TRÚC CHỨC NĂNG CỦA ĐÔNG Y HỌC

A - CẤU TRÚC CHỨC NĂNG ÂM DƯƠNG - NGŨ HÀNH TRONG HỌC THUYẾT KHÍ - HÓA CỦA ĐÔNG Y HỌC

1. Cấu trúc ngũ hành

Theo nghiên cứu của Trương Thìn thì các chức năng Khí - Hóa trong Đông Y học tuân theo cấu trúc Ngũ Hành :

1. Chức năng phát động thuộc Mộc khí : Vận động của các cơ bắp, sợi cơ ở khắp cơ thể. 2. Chức năng phát nhiệt thuộc Hỏa khí : Sản sinh nhiệt do sự chuyển hóa của tất cả mọi tế bào. 3. Chức năng tiết xuất thuộc Thổ khí : Vận động đưa các chất ra ngoài cơ quan, bộ phận của mình. 4. Chức năng hấp thụ thuộc Kim khí : Vận động thu hút các chất vào các cơ quan, bộ phận của mình. 5. Chức năng lùng trữ thuộc Thủy khí : Vận động dự trữ chất ở trong các cơ quan, bộ phận của mình để khi cần đem ra tiêu dùng. Năm chức năng này là phổ biến tại mọi cơ quan của nhân thể, ngay cả ờ mức tế bào. Các chức năng này rất quan trọng vì chúng có quan hệ với mọi hiện tượng sinh lý và bệnh lý.

2. Cấu trúc Âm - Dương

Theo nguyên lý Lưỡng Nghi, mỗi khí của Ngũ Hành phải có hai mặt Âm Dương của nó. Mặt Âm là ức chế chức năng, còn mặt Dương là hưng phấn chức năng đó.

Cụ thể là với các khí Ngũ Hành trong Kinh Dương thì :

Khí Dương Mộc : hưng phấn phát động Khí Âm Mộc : ức chế phát động

Khí Dương Hỏa : hưng phấn phát nhiệt Khí Âm Hỏa : ức chế phát nhiệt

Thổ : hưng phấn tiết xuất Khí Dương Khí Âm Thổ : ức chế tiết xuất

Khí Dương Kim : hưng phấn hấp thụ Khí Dương Kim : ức chế hấp thụ

Khí Dương Thủy : hưng phấn tàng trữ Khí Âm Thủy : ức chế tàng trữ

190NHÂN THỂ - ĐÔNG Y HỌC

Với các khí trong Kinh Âm thì cần hoán vị : khí Âm *-» khí Dương (theo nguyên lý Biểu lý tương truyền).

B - CẤU TRÚC CHỨC NĂNG ÂM- DƯƠNG NGŨ HÀNH TRONG TÂM LÝ HỌC

Theo cấu trúc của các cơ thể vô hình số 1, 3, 5, 7 và cơ thể xác - Vật lý, thì mọi biểu hiện Tâm - Sinh - Lý của nhân thể ít nhất phải mang tính Âm Dương -Ngũ Hành. Do đó, theo y học cổ truyền, cổ nhân đã phân loại 5 trạng thái Âm Dương - Ngũ Hành về Tâm lý học như sau (theo Trương Thìn) :

I. Nhóm Mộc

MỘC VƯỢNG. Loại người năng động, liều lĩnh, can đảm, hay bực mình, hay nói giận, bất mãn, phẫn nộ, ghen tuông, hay nói, la hét, trong giấc mơ thường thường hay thấy ẩu đả, rượt bắt, chiến tháng, thấy cây xanh tươi, rừng xanh, các vật màu sáng.

MỘC SUY. Loại người thụ động, nhu nhược, không dám hành động, bi quan, chủ bại, trong giấc mơ thường hay bị rượt bắt, bị đánh đập, bị tấn công nhưng không chiến đấu nổi, thấy các vật màu xanh úa.

2. Nhóm Hỏa

HỎA VƯỢNG. Loại người này sồi nổi, nóng nảy, cuống nhiệt, hay cười vô cớ, trong giấc mơ thấy màu sác đỏ tươi như máu, thấy lửa, các vật màu đỏ rực.

HỎA SUY. Loại người này tinh thần bất ổn, hay lo lắng thiếu sáng suốt, trong giấc mơ thấy vật tái bệch hay đỏ bẩm.

3. Nhóm Thổ

THO VƯỢNG. Loại người này vô tư, hay hát, trong giấc mơ thấy cảnh vật màu vàng tươi.

THỔ SUY. Loại người này hay ưu tư, hay nghĩ ngợi, hay thương nhớ, trong giấc mơ thấy cảnh vật màu sắc vàng úa.

4. Nhóm Kim

KIM VƯỢNG. Loại người này hay trầm tính, biết chịu đựng, kiên nhẫn, ôn hòa. Trong giấc mơ thấy cảnh vật màu sắc trắng bóng.

KIM SUY. Loại người này hay buồn rầu, hay khóc, trong giấc mơ hay thấy màu trắng bệch, hay thấy mình bay bổng lên cao.

5. Nhóm Thủy

THỦY VƯỢNG. Loại người này có ý chí mạnh.

THỦY SUY. Loại người này hay sợ hãi, khiếp đảm, hay rên rỉ, run rẩy khi có biến động, trong giấc mơ thường hay thấy lạnh lẽo, thấy nước, các cảnh vật màu đen.

191TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

C-CẤU TRÚC CHỨC NĂNG ÂM DƯƠNG - NGŨ HÀNH TRONG TẠNG TƯỢNG HỌC

Cũng theo cấu tạo chung của các cơ thể lưới vô hình và xác, thì cấu trúc Tạng Tượng của nhân thể phải mang tính chất Âm Dương - Ngũ Hành như sau :

1. Chức năng cộng đồng tăng trữ tinh, khí của các tạng (phần Âm)

TẠNG TÂM. Chủ thần khí, huyệt mạch, khai khiếu ỏ lưỡi.

TẠNG CAN. Chủ sơ tiết, tàng huyết, chủ gân, khai khiếu ở mắt.

TẠNG TỲ. Chủ văn hóa, thống nhiếp huyết, chủ cơ nhục, khai khiếu ở miệng.

TẠNG PHẾ. Chủ khí, thông điều thủy đạo, chủ lông da, khai khiếu ở mũi.

TẠNG THẬN. Tàng tinh, chủ thủy, chủ xương, sinh túy, thông đến não, khai khiếu ở tai.

2. Chức năng cộng đồng thu nạp, tiêu hóa, đùn đẩy, bài tiết của các phủ (phần Dương)

PHÚ TIỂU Trường. Tiêu hóa, hấp thu, gạn lọc chất.

PHỦ ĐỜM. Tàng trữ mật.

PHỦ VỊ. Thu nạp thủy cốc.

PHÙ ĐẠI TRƯỜNG. Đùn đẩy cặn bả ra ngoài.

PHỦ BÀNG QUANG. Chuyển đưa dưỡng liệu thủy dịch, bài tiết phế liệu.

Mỗi Tạng, Phủ bao gồm nhiều cơ quan cùng thực hiện một số chức năng công đoạn nhất định và có quan hệ mật thiết với nhau. (Vấn đề Phủ Tam Tiêu sẽ trình bày theo Kình Tam Tiêu).

Ví DỤ - Tạng, Kinh Phế (Kim) Mộc suy : Thở yếu, cơ hỗ hấp yếu liệt, yếu liệt thanh quản...

- Tạng, Kinh Phế Mộc vượng : Viêm rát cổ họng. Ho, suyễn cấp. Viêm khí quản...

- Tạng, Kinh Thận (Thủy) Mộc vượng : Viêm thận, đau giật vùng thất lưng, đau quanh bụng dưới. Viêm bộ phận sinh dục...

- Tạng, Kinh Thận Mộc suy : Tử cung co bóp yếu, sinh đẻ khó, bí tiểu...

- Phủ, Kinh Đại Trường (Kim) Mộc suy : Nhu động ruột yếu liệt, táo bón.

Bại liệt tay phải, nửa người bên phải...

- Phủ, Kinh Đại Trường Mộc vượng : Đau quặn bụng quanh rốn. Viêm ruột già...

- Tạng, Kinh Tâm Mộc vượng : Tim mạch nhanh, mạnh. Cao huyết áp.

- Tạng, Kinh Tỳ Mộc suy : Ăn không tiêu, dạ dày mệt, dãn.

- Tạng, Kinh Can Hỏa suy : Mắt yếu mờ, thiếu máu...

192NHÂN THỂ - ĐÔNG Y HỌC

- Tạng, Kinh. Thận Hỏa suy : BÍ đái, lưng yếu, liệt dương, ù tai...

- Tạng, Kinh Tỳ Hỏa vượng : Môi đỏ, miệng ]ở, miệng có vị ngọt...

- Tạng, Kinh Phế Hỏa vượng : Hơi thở nóng, nghẹt mũi, chảy máu cam...

- Tạng, Kinh Thận Hỏa vượng : Viêm nhiệt Thận, nước tiểu đỗ, xuâi huyết đường tiểu, rong kinh, huyết trắng, xuất tỉnh. miệng có vị mặn...

- Tạng, Kinh Can Thủy suy : Mắt yếu, hay chảy nước mắt sống...

- Tạng, Kinh Tâm Thủy suy : Hay xuất mồ hôi lạnh...

- Tạng, Kinh Tỳ Thủy suy : Thũng tay chân, bón...

- Tạng, Kinh Thận Thủy suy : Tiểu nhiều, xuất tinh, huyết trắng...

- Phủ, Kinh Đởm Thủy suy : Chảy nước mắt sống, ớn lạnh...

- Phủ, Kinh Tiểu Trường Thủy suy : Tiêu chảy...

- Phủ, Kinh Vị Thủy suy : Tiêu chảy, liệt mặt...

- Phủ, Kinh Bàng Quang Thủy suy : Tiểu nhiều, huyết trắng... - Tạng, Kinh Can Thổ vượng : Chảy nước mắt sống, huyết trắng...

- Tạng, Kinh Tâm Thổ suy : Không có mồ hôi, nặng ngực, tê hai bàn tay...

- Tạng. Kinh Thận Thổ vượng : Tiểu nhiều, xuất tinh, huyết trắng...

- Phủ, Kinh Đởm Thổ vượng : Nhiều nước mắt sống...

- Phủ, Kinh Tiểu Trường Thổ suy : Nặng bụng, bón, tê thủng theo lộ trình Kinh Tiểu Trường...

- Phủ, Kinh Bàng Quang Thổ vượng : Tiểu nhiều, xuất tinh, huyết trắng..'.

- Tạng, Kinh Can Kim vượng : Táo bón, yếu gân cơ...

- Tạng, Kinh Tỳ Kim suy : Suy dinh dưỡng, người khô khan, thiếu nước, sình sôi bụng...

- Tạng, Kinh Tỳ Kim vượng : Táo bón nặng...

- Tạng, Kinh Tâm Kim suy : Xuất nhiều mổ hôi, lưỡi khô, trắng...

- Tạng, Kinh Thận Kim vượng : Tiểu ít, thủy thũng hai chân, lưng... - Phủ, Kinh Đơm Kim vượng : Yếu gân cơ, táo bón... - Phủ, Kinh Vị Phế suy : Tiêu chảy, sình sôi bụng... - Phủ, Kinh VỊ Phế vượng : Táo bón nặng... - Phủ, Kinh Tiểu Trường Kim suy : Tiêu chảy, sình sôi bụng...

- Phủ, Kinh Bàng Quang Kim vượng : Tiểu nhiều, viêm bọng đái..

D - CẤU TRÚC CHỨC NĂNG ÂM DƯƠNG- NGŨ HÀNH VỀ TIẾT KHÍ, PHƯƠNG HƯỚNG

MỘC : Chức năng mùa Xuân, buổi sáng, phương Đông, phong khí

HÒA : Chức năng mùa Hạ, buổi trưa, phương Nam, thử khí

THỒ : Chức năng mùa Trưởng Hạ, buổi xế chiều, thấp khí

KIM : Chức năng mùa Thu, buổi xẩm tối, phương Tây, táo khí

THÙY : Chức năng mùa Đông, buổi khuya, phương Bắc, hàn khí.

193TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

HỎA MỘC NGŨ HÀNH

Phát triển Sinh T Trương

Đắng Chua VỊ

Sắc Đỏ Xanh

Khí Thứ, Nhiệt Phong

Đông Nam Phương

Xuân Hạ Mùa

Buổi Sáng Trưa

Can Tâm, Tâm Bào Tạng

Tiểu Trường Dòm Phủ

Tam Tiêu

Thể Gân Mạch

Nước mắt Mồ hôi Dịch

Mắt Lưỡi Cơ quan

Chí Mừng Giận

Cười La hét Thanh

Co quắp Báo đông Nhăn nhó

Bảng 7. BẢNG QUY

Ngoại cảm do Tiết khí

- Thấp hại Ti, mạch nhu

- Táo hại Phế, mạch sác

- Hàn hại Thận, mạch khẩn - Phong hại Can, mạch phù

Ngũ tà

- Thực tà là tà từ phía trước - Hư tà là tà từ phía sau - Tặc ta là tà từ chỗ thắng đi tới - Vi tà là tà từ chỗ kém đi tới - Chính tà là tà do bản tạng.

THỦY KIM THỔ

Tàng Hóa Thâu

Cay Mặn Ngọt

T Trắng Vàng Đen

Thấp Hàn Táo

Bắc Tây Trung ương

Trường Hạ Đông Thu

Chiều Tối Khuya

Phế Tỳ Thận

Đại Trường Bàng Quang ■ Vị

Thịt Da xương

Nước miếng Nước Tiểu Nước mũi

Miệng Mũi Tai

Lo nghĩ Buồn Sọ hãi

Khóc Rên Hát

Oẹ Ho Run

QUY LOẠI THEO NGŨ HÀNH

194NHÂN THỂ - ĐÔNG Y HỌC

Chẳng hạn lấy chinh tà ở Tâm thì ta có - Tâm Hỏa bị thương ; thử : Chính tà - Trúng phong Mộc : Hư tà - Ăn uống mệt mỏi bị thương Tỳ : Thực tà - Thương hàn : Tặc tà - Trúng thấp : Vi tà.

IV - CẤU TRÚC GENETIC CỦA ĐÔNG Y HỌC Chúng ta chuyển sang cấu trúc genetic của Đông Y học. Nếu muốn nói một cách sâu xa, thì do học thuyết Kinh, Mạch, Huyệt dẫn xuất từ Trường Sinh học, cho nên ta có thể hình dung cấu trúc genetic của Đông Y học như sau :

Các cơ thể vô hình thuộc → Kinh, Mạch, Huyệt, Khí bình diện Tiên thiên Tiên thiên Lưới và Plasma sinh học GENETIC GENETIC : MỆNH MÔN HỎA

Các cơ thể vô hình thuộc → Kinh, Mạch, Huyệt, Khí bình diện Hậu thiên Hậu thiên Lưới và plasma sinh học

Hình 55. VỀ CẤU TRÚC GENETIC CỦA ĐÔNG Y HỌC Nói chung, trên nguyên tác, nguyên lý Thiên - Địa - Nhân hợp nhất là nguồn gốc sâu xa nhất của cấu trúc genetic. Còn theo Bảng trên, đóng vai "gen" trong cấu trúc genetic là bình diện Tiên thiên và Mệnh Môn hỏa. Chúng ta hãy nêu lên một quan điểm về vấn đề này. Lão Tử Ông viết : "Đông và Nam gặp nhau tại trung tâm phía trên, gọi là Ly, hay Tâm, hay là Rồng, hay là Mặt Trời. Còn Tây và Bắc thì gặp nhau tại trung tâm phía dưới, gọi là Khảm, hay là Thận, hay là Hồ, hay là Mặt Trăng." Và như thế, bốn phạm trù cơ bản quy về hai (Hình 57). Hiện tượng này được gọi là Hạ Chu Thiên. Đó là quan điểm của Lão Tử về bình diện Tiên Thiên trong nhân thể con người, ông đã dùng chữ "Hạ" để trỏ "địa chỉ" là con người. Hiện tượng này ông gọi là SỰ THỐNG NHẤT GIỮA TÂM VÀ THẬN, HAY LÀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA RỒNG XANH VÀ HỔ TRẮNG.

195TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY
Hình trong sách

Hình 56. MỘT Loại HAT TINH TẾ THUỘC Thành PHẦN CÁC CƠ THỂ VÔ HÌNH (THEO THÔNG THIÊN HỌC)

Như vậy, theo Lão Tử, Ngũ Hành Tiên Thiên trong nhân thể chỉ còn quy về hai Hành là Tâm và Thận hay là Thủy và Hỏa, hay là Ly và Khảm.

Ha

Hình trong sách

Ma Ka → ø

Ta = Ta

Hình 57. SỰ THỐNG NHẤT GIỮA RỒNG XANH VÀ HỔ TRẮNG (LÃO Tử)

Trung Y học khái luận Trong sách Trung y học khái luận, có viết : "THẬN LÀ GỐC CỦA TIÊN THIÊN, MỆNH MÔN HỎA LÀ GỐC CỦA NGUYÊN KHÍ. MỆNH MÔN HỎA LÀ NGUỒN GỐC CỦA HÓA SINH.." Hải thượng Lãn ông - Lê Hữu Trác Khái niệm Mệnh Môn Hỏa là niềm tâm đắc nhất của đại danh y Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông. Ông đã nhắc đến khái niệm này ở nhiều nơi trong các tác phẩm của ông : Đại Lưu Dư Vận, Y Hải Cầu Nguyên, Y Gia Quan Miện, Huyền Tân Phát Vi. Theo ông, MỆNH MÔN LÀ THÁI CỰC TRONG THÂN NGƯỜI.

196NHÂN THỂ - ĐÔNG Y HỌC

Sử dụng từ Thái Cực - tức là Vũ trụ - để trỏ Mệnh Môn Hỏa, ông đã nâng khái niệm đó lên vị trí chủ đạo (gen) cao nhất trong nhân thể. Chính nhờ sự đánh giá vị trí đó của Mệnh Môn mà ông đã phân tích được nhiều phát biểu của nhiều tác giả trong nhiều tài liệu kinh điển và tìm ra được mô hình về sự tồn tại của Thủy Hỏa Tiên thiên trong nhân thể, mà chúng ta đã nói đến qua hai Quẻ Ly, Khảm trong phần Đại cương.

Ông viết (Y Gia Quan Miện) : "Thận giữ chức năng tác cường, tàng tinh và chí. Thận chủ xương, dẫn khí thông vào cốt tủy, nó là cái bể chứa khí huyệt, là nơi nương tựa của tinh thần, và là căn bản của sinh mệnh. Có hai quả cật nằm song song với nhau áp sát ỏ hai bên xương sống, ỏ giữa là Mệnh Môn, tức là Tiên thiên Thái Cực trong thân người.

Mệnh Môn có thể sánh ngang với Tâm, đều là quan chủ, không có hình thể để nhìn thấy, nó gọi là Hoàng Đỉnh, là nơi tàng tỉnh của nam giới, và là chỗ liên hệ bào cung của nữ giới. Các nhà đạo dẫn thì gìn giữ để tu luyện, người thường thì thuận theo sự phát dục đề sinh ra người."

Ông lại viết (Huyền Tần Phái Vi) : "Chính ở chỗ bên đốt sống số 8, có một quả tiểu Tâm, bên tả là một quả Thận thuộc Âm Thủy, bên hữu là một quả Thận thuộc Dương Thủy, đều cách ra ngang một thốn 5 phân, khoảng giữa là Cung Mệnh Môn... Nguyên Dương, Long Hỏa, Chân Dương đều là tên riêng của Mệnh Môn."

"Trong Nội Kinh không thấy có tên Mệnh Môn, tên gọi Mệnh Môn xuất xứ từ điều 36 sách Nạn Kinh của Biểu Thước."

Ông lại viết (Huyền Tẫn Phát Vi) : "Hỏa cổ nhân Hỏa và tướng Hỏa, nhân Hỏa là hỏa cháy ở ngoài đồng, gập cỏ thì nóng lên, gặp cây thì đốt cháy, có thể dùng nước mà dập tắt trực tiếp, loại Hoàng Liên có thể ức chế được nó.

Còn tướng Hỏa là Long Hỏa, gặp ướt thì bốc ngọn lên, gặp nước thì càng bùng cháy, thường đang lúc mây đặc mưa rào thì ngọn lửa càng bùng lên mạnh. Khi thấy lửa sấm sét đốt cháy cỏ cây mà lấy nước tưới vào thì ngọn lửa càng bùng lên mạnh, nhưng nếu lấy lửa (bình thường, NHP) ném vào thì ngọn lửa sấm sét tắt ngay".

Ông lại viết (Y Hải Cầu Nguyên) : "Trong nhân thể, trái tim sánh với Quẻ Ly mà sinh ra huyết, là trong Dương có Âm, tức là Chân Âm. Quả Thận sánh với Quẻ Khảm mà sinh khí, là trong Âm có Dương, tức là Chân Dương (Mệnh Môn Hỏa, NHP).

Ông lại viết : (Huyền Tẫn Phát Vi) "Đối lập với Thủy Hậu thiên chỉ là Hỏa Hậu thiên, tức là Ly Hỏa, không đối lập với Thủy Hậu thiên là Hỏa Tiên thiên (Mệnh Môn Hỏa, NHP), tức là Chân Hỏa, là nguồn của Thủy."

Ông lại viết (Huyền Tẩn Phái Vi) : "Tỳ, VỊ sở dĩ văn hóa được là nhờ hai khí Thủy Hỏa (Tiên thiên, NHP), chứ không phải là Tỳ, VỊ có thể tự làm được.”

Ông lại viết (Y Nghiệp Thần Chương) : "Lại còn một tạng nữa là Mệnh Môn. Nếu lấy Tâm Bào Lạc làm tạng thì nó không phải là tạng chính. Nếu lấy Tam Tiêu làm phủ, thì nó không phải là phủ chính." Như thế, Hải Thượng Lãn ông đã nghiên cứu rất sâu sắc khái niệm Mệnh Môn một cách độc đáo. Chiếu sâu của hệ tư tưởng Thủy - Hỏa của Hải Thượng Lãn ông nằm ở chỗ Ông đã liên hệ được Mệnh Môn Hỏa với Tỳ, Vị, Tâm Bào, Tam Tiêu...

197TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Và tính độc đáo của ông nằm ở chỗ ông đã đặt được Mệnh Môn vào một cấu trúc quan trọng bậc nhất của nhân thể là Thận, và đã sử dụng được hai Quẻ Ly, Khảm làm biểu tượng cho Tâm, Thần, như đã trình bày trong phần Đại cương (Hình 26). Quả thực là Mệnh Môn Hỏa đã đóng vai trò nhân tố tối cao trong hệ Tạng : Phủ, Kinh, Mạch, Huyệt…. Mệnh Môn Hỏa điều khiển mọi tiểm năng năng lượng và nhiệt lượng cần thiết cho cơ thể (Nguyễn Văn Nghị, Mai Xuân Đồng.. Sémilogie el Théruneutiqwe en Médecine chinoise). Nó xứng đáng đóng vai trò "GEN" trong cấu trúc genetic của Đông Y học. Nhưng Hải Thượng Lãn Ông còn đi xa hơn trong các quan niệm của ông về các mối liên hệ giữa Thủy, Hỏa Tiên thiên. Hậu thiên. Và điều này đã nói liễn các công trình về Thủy - Hỏa của ông với nhiều công trình của nhiều nhà khoa học hiện đại về cái gọi là không gian Âm, chẳng hạn của nhà khoa học Barbara Ann Brenna, mà chúng ta đã nói phần nào trong các chương cuối của phần Đại cương (qua khái niệm Hàm Âm Dương - 1).

Barbara Ann Brennan Theo các quan sát nghiên cứu của mình, Barbara Ann Brennan viết : (Hands of liglu, Bàn lay ánh sáng) : "Như thế, cơ thể Etheric mẫu của hào quang tạo ta một. không gian Âm, trong đó cơ thể Etheric có thể tổn tại được. CÓ THỂ ETHERIC MẪU LÀ KHUÔN MẪU CỦA CƠ THỂ ETHERIC, CƠ THỂ NÀY LẠI LÀ KHUÔN CỦA CƠ THỂ VẬT LÝ. Như thế, cơ thể Etheric mẫu của Trường Năng lượng Vũ trụ chứa được tất cả các hình dạng của cơ thể Vật lý, ngoài ra còn có những hình dạng khác của cơ thể Etheric mẫu mà cơ thể Vật lý không có. Những HÌNH DẠNG NÀY CỦA CƠ THỂ ETHERIC MẪU TỔN TẠI TRONG MỘT KHÔNG GIAN ÂM tạo ra được một không gian trống rỗng nào đó, trong đó cơ thể Etheric có thể lớn lên được, và trên cơ sở đó, tất cả các biểu hiện của cơ thể Vật lý có thể tồn tại được." Như thế, ta thấy rằng các tư tưởng của Hải Thượng Lãn Ông về mối quan hệ giữa Thủy, Hỏa Tiên thiên, Hậu thiên (như Hỏa Hậu thiên khắc Hỏa Tiên thiên, Thủy Hậu thiên không khắc Hỏa Tiên thiên ! và các quan sát của Barbara Ann Brennan về "tính Âm" liên quan đến cơ thể Etheric mẫu là không xa nhau. Và, bằng con đường toán học các tập mờ - như đã chứng minh trong phần Toán học với khái niệm hàm Âm Dương -, chúng tôi đã bác được MỘT CHIẾC CẦU NỐI các dòng tư tưởng đó lại với nhau. TRONG CÁC TÍNH TOÁN NÀY, SỰ KIỆN THAY ĐỔI DẤU CỦA HÀM ÂM DƯƠNG BIỂU THỊ CÁC TÍNH CHẤT ÂM DƯƠNG CỦA CÁC KHÔNG GIAN CÓ LIÊN QUAN. Có thể nói rằng hàm Âm Dương là một nhân tố cho phép hiểu được phần nào cơ chế của cấu trúc genetic của nhân thể nói chung và của Đông Y học nói riêng. Điều này đã được trình bày phần nào trong phần Đại cương, để bạn đọc làm quen dần với cấu trúc genetic hay với nguyên lý Thiên - Địa - Nhân hợp nhất.

Nguyễn Hoàng Phương, Tích hợp đa văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1996. Bản số hóa từ ảnh quét; văn bản do OCR nên có thể còn sai sót — bấm vào số trang trong bài để đối chiếu ảnh quét nguyên bản.

Trong mục này