TH Tích hợp đa văn hóa Đông Tây

Tập I — Đại cương Đông và Tây

Chương 4

Các nhà khoa học Tây phương đang hướng dần về Đông phương

Trang 111–134 của bản in·Xem ảnh quét
111TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Chương 4 CÁC NHÀ KHOA HỌC TÂY PHƯƠNG ĐANG HƯỚNG DÂN VỀ ĐÔNG PHƯƠNG

Con người hành tinh chúng ta đang dần dần hướng về cái MỘT, đó là một tất yếu lịch sử. Từ đó sự tích hợp đa văn hóa Đông Tây, một biểu hiện cụ thể của xu hướng trên, cũng tất nhiên là một tất yếu. Nói cách khác, giữa những phân hóa ngày càng sâu, dẫn đến những đa dạng ngày càng phức tạp đã tạo nên được một Nghi Âm, thì theo nguyên lý Âm Dương của Triết cổ Đông phương tất yếu phải hình thành một Nghi Dương. Nghi Dương này chính là cái Đơn nhất, hay là sự Thống nhất, hay nói riêng là sự Tích hợp đa văn hóa Đông Tây.

THỜI ĐẠI CHÚNG TA PHẢI ĐI THEO CON ĐƯỜNG TÌM CÁI ĐƠN NHẤT TRONG CÁI Đa DẠNG, TÌM SỰ TÍCH HỢP ĐÔNG TÂY TRƯỚC HẾT VỀ VĂN HÓA ĐÓ LÀ MỘT TRONG 'NHỮNG PHƯƠNG CHÂM LỚN CỦA THỜI ĐẠI.

Mầm mống của sự tích hợp đa văn hóa Đông Tây đã dần dần xuất hiện trong quá trình phát triển của khoa học Tây phương xung quanh các vấn để sau : - Quan điểm Vũ trụ là MỘT, - Quan điểm vạn vật đồng nhất thể, - Quan điểm toàn đồ, - Quan điểm nhân vị, - Quan điểm về chân không và vật chất.

112ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY

I - QUAN ĐIỂM VŨ TRỤ LÀ MỘT DƯỚI GÓC Độ KHOA HỌC TÂY PHƯƠNG

Ngày trước nhà hiền triết Pythagore đã nói :

MỘT LÀ QUY LUẬT CỦA DẤNG HÓA CÔNG, - CÁI

SỰ TIẾN HÓA LÀ QUY LUẬT CỦA sự SỐNG, -

CON SỐ LÀ QUY LUẬT CỦA vũ TRỤ. -

Như đã nói trước đây, quan điểm về cái MỘT là trung tâm của ý thức hệ Triết học cổ Đông phương. Bây giờ ta chuyển sang quan điểm này trong giới các nhà khoa học Tây phương.

A - QUAN ĐIỂM CỦA NEWTON VỀ MỘT vũ TRỤ TÁCH RỜI

Theo quan điểm cơ giới của Newton, Vũ trụ chỉ là một sự lắp ghép nhiều bộ phận khác nhau tách rời nhau lại uới nhau, và các bộ phận này là tương tác với nhau. Hệ thống các bánh xe tương tác với nhau trong chiếc đồng hồ là hình ảnh gần đúng của Vũ trụ quan cơ giới của Newton. Một Vũ trụ quan như thế gọi là Vũ trụ quan cơ giới lách rời (Univers sépurubfe).

B - QUAN ĐIỂM VŨ TRỤ KHÔNG TÁCH RỜI, HỘI THẢO CORDOUE

Nhưng dần dần các nhà khoa học Tây phương nhận thấy rằng Vũ trụ quan Newton là không đúng. Năm 1987 nhiều nhà khoa học nổi tiếng như Capra, Josephson, Vigier, Costa de Beauregard, Puthoff, Targ... đã hợp lại với nhau tại thành phố Cordoue để bàn về một Vũ trụ quan khác hẳn với Vũ trụ quan Newton, đó là quan điểm một Vũ trụ không lách rời (Univers nonxéperabfe). Hội thảo này đã gây ra nhiều tranh luận gay gắt kéo dài trên báo chí, thậm chỉ (như trong Science et vie) có nhiều tác giả "nằm ngoài khoa học" đã cho rằng các nhà khoa học tham gia hội thảo đó chỉ là... những kẻ bịp bợm, đang muốn đánh lừa quần chúng.

Tất nhiên, trong một thời gian dài, những người ngoài cuộc đã hoang mang về những kết luận của hội thảo đó, xung quanh cấu tạo tách rời hay không tách rời của Vũ trụ, và hiểu lầm ngay cả đối với nhân cách của các nhà khoa học tham gia hội thảo. Nhưng bây giờ thì mọi việc đã rõ dần, và người ta thấy rõ là những người viết báo công kích dữ dội hội thảo đó đã... không hiểu gì hết.

Một trong những điểm trung tâm của hội thảo là một vấn đề khoa học hết sức tinh, gọi là nghịch lý Einstein - Podokski - Rosen và có nội dung đại khái như sau.

c. NGHỊCH LÝ EINSTEIN - PODOLSKI - ROSEN. ĐỊNH LÝ BELL

Người ta lấy một nguồn phát ra hai electron (điện tử) theo hai phương trái ngược nhau, một electron bay sang bên trái, còn electron thứ hai bay sang bên phải chẳng hạn. Người ta sắp đặt thế nào để cho chuyển động của hai electron quanh trúc của chúng là hoàn toàn không xác định (trong Vật lý nguyên tử, chuyển động này gọi là spin : khi chuyển động trong nguyên tử, electron không chỉ quay xung

113TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

quanh hạt nhân, mà còn quay xung quanh trục riêng của nó, như Quả Đất chuyển động xung quanh Mặt Trời và đồng thời quay quanh trục riêng của mình. Trong vật lý nguyên tử, hiện tượng trên - hiện tượng trục quay không có phương xác định gọi là tương spin không định hướng. Người ta cũng bố trí như thế nào để các electron không tương tác với nhau, nghĩa là cắt mọi quá trình trao đổi năng lượng, thông tin giữa các electron đó. Nhưng khi các electron đó đã ra khỏi nguồn, người ta tìm cách để một trong hai electron phải có trục quay được định hướng (spin định hướng), chẳng hạn là có trục hướng thẳng đứng lên phía trên. Thế thì điều gì đã xảy ra ? Điều đã xảy ra này thực là khó hiểu : Không hiểu tại sao "trúc của electron thứ hai, từ trước hoàn toàn không xác định, "tự nhiên" lại được xác định, cụ thể là hướng về phia dưới, mặc dấu chẳng có "ai dụng đến nó cả". Hiện tượng này mang tên là nghịch lý Einstein - Podolski - Rozen. Một hiện tượng thay đổi mà không hề "có nguyên nhân" ! Với một quan điểm Vũ trụ tách rời như của Newton, khó mà hình dung được hiện tượng "biến đổi vô cớ" trên. Nhưng sự thực - oái oăm thay - lại đúng như thế ! Mà cái nguyên nhân sâu xa của nó là... Bản thể của Vũ trụ ! Cái Bản thể này lại đang còn nằm ngoài quan điểm "quá cũ kỹ" của chúng ta, cái quan điểm do tư tưởng cơ giới vỉ đại của nhà khoa học Newton đã quá ăn sâu vào trong nhận thức của chúng ta, từ bé, ngay trên các ghế nhà trường trung học. Sau này, nhiều nhà khoa học đã thực hiện tất cả 7 thực nghiệm về cái hiện tượng oái oãm này, và đã thu được 5 kết quả dương tính. Nói nôm na là nếu không ai tác động trực tiếp vào anh cả, thì anh vẫn có thể... "thay hình đổi dạng", khi có một nguyên nhân khởi động nào đó - cùng nguồn với anh - đã tìm cách thay hình đổi dạng của chính mình ! Hiện tượng này có thể xảy ra với anh em sinh đôi chẳng hạn. Một nhà khoa học đã tìm cách chứng minh chặt chẽ hơn hiện tượng trên bằng một định lý nổi tiếng. Đó là nhà khoa học Bell và định lý này gọi là định lý Bell. Tất nhiên, nguồn gốc sâu xa của hiện tượng này - như đã nói ở trên - chính là Bản chất, Bản thể của Vũ trụ : Vũ trụ là MỘT, trong đó các bộ phận khác nhau của nó - xét cho đến cùng - là không tách rời nhau. Từ đó, các nhà khoa học - qua các thực nghiệm trên - quan niệm rằng :

VŨ TRỤ LÀ KHÔNG TÁCH Rời, VŨ TRỤ CHỈ LÀ MỘT, CÁC BỘ PHẬN CỦA NÓ ĐỀU CÓ LIÊN QUAN BẢN THỂ VỚI NHAU (RELATION ONTOLOGIQUE).

Những quan hệ mà chúng ta thường tai nghe mắt thấy chỉ là quan hệ bên ngoài.

KHOA HỌC ĐANG DẦN ĐI TỪ CÁI BÊN NGOÀI ĐẾN CÁI BẢN THỂ TỨC LÀ CHUYỂN TỪ TIỂU NGÃ ĐẾN ĐẠI NGÃ CỦA MỌI SỰ VẬT.

114ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY

Vũ trụ quan Newton đã sụp đổ. Chúng ta đang dần dần thấy xuất hiện nhiều chứng minh của một Vũ trụ quan mới, là Vũ trụ quan của Triết Đông phương, sau một thời gian khá dài khoa học Tây phương phát triển cao đô.

Cho nên nhà triết học nổi tiếng T.De Chardin đã nói :

KHI LÊN TỞi NHỮNG ĐÍNH CAO HUY HOÀNG

THÌ CHÚNG TA SẼ QUAY TRỎ LẠI.

Lại con đường số 8 !

II - NGUYÊN LÝ VẠN VẬT ĐỒNG NHẤT THỂ VỚI CÁC NHÀ KHOA HỌC TÂY PHƯƠNG. HAI PHONG CÁCH TƯ DUY ĐÔNG VÀ TÂY. TƯ DUY HOLISTIC VÀ TƯ DUY PHÂN TÍCH

A - HAI PHONG CÁCH TƯ DUY ĐÔNG, TÂY

Theo Triết cổ Đông phương, như đã thấy, mọi vật, thực thể trong Vũ trụ đều có nguồn gốc bản thể như nhau (origine ontologique). Do đó, Triết cổ Đông phương chủ yếu đi tìm cái chung ngay giữa những hiện tượng bên ngoài rất là khác nhau. Chẳng hạn, nhà Yogi uyên thâm đi tìm ngôn ngữ chung giữa con người và động vật. Phong cách tư duy này gọi là tư duy tổng hợp, holistic, lức là mang tính tổng thể, không có chia cắt.

Trái lại, đa số các nhà vật lý, hóa học, sinh học, tâm lý học Tây phương (nói chính xác hơn từ trước cho đến phần đầu thế kỷ này) lại theo phong cách lư duy phân lích, có khả năng phân tích được sự khác nhau ngay giữa những hiện tượng bên ngoài trông hết sức giống nhau. Một trong những ví dụ điển hình về tư duy phân tích là các nhà vật lý thế kỷ chúng ta đã tính được sự khác nhau hết sức nhỏ giữa vạch năng lượng cơ bản của Hydro khi "chưa" tương tác và khi "đã" tương tác với... Chân không vật lý (gọi là hiện tượng xê dịch Lambư Thực là rất tài tình !

Tuy nhiên, một xu hướng phân tích như thế đã dẫn đến xu hướng chia cát cực đoan, gọi là chủ nghĩa chia cắt vật lý (physicalisme). Chính xu hướng cực đoan này đã dẫn đến phản đề của nó là xu hướng tổng hợp, thống nhất... (Nguyên lý Phản Phục).

Đó chính là sự ra đời của một lý thuyết vì đại của thế kỷ : đó là Lý thuyết Siêu Thống nhất các Trường Vật lý, chẳng hạn là thống nhất lý thuyết trường điện từ với các lý thuyết các tương tác yếu và mạnh... Đã bát đầu chớm nở sự tích hợp hai phong cách tư duy holistic và tổng hợp Đông và Tây... Sau đây là một vài ví dụ minh họa.

B - CON NGƯỜI VÀ CÂY CỎ. SAUVIN

Một nhà khoa học tên là Sauvin đã tìm cách gắn điện kế lên các cây của ông và kiểm tra đều đặn xem chúng đang làm gì. Nếu ông đi vắng, ông gọi điện về nhà để người nhà cho ông biết về những tín hiệu cây phát ra. Ông phát hiện được

115TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

rằng cây phát tín hiệu khi ông đang cảm thấy vui vẻ hoặc khi ông cảm thấy khó chịu, ngay khi ông cách xa nhà hàng dăm. Nếu ông bị đứt ngón tay hay gặp một người bạn gái, thì cây cũng phát tín hiệu.

Sauvin tìm cách sử dụng các khả năng của cây vào việc mở cửa gara ôtô khi ông lái xe về đến nhà. Đây cũng là một cách bảo mật độc đáo, chỉ dành riêng cho những ai hiểu được tâm thức của cây cỏ.

CHÚ Ý

Có hiện tượng cây trầu héo hon đi khi người chủ chết.

c. NÓI CHUYỆN VỚI CÂY CỎ, HASHIMOTO

Tiến sỉ điện tử Nhật Hashimoto lại cho biết cây cỏ cũng biết nói chuyện với con người. Ông đã chế tạo một thiết bị biến các tín hiệu điện của cây thành âm thanh mà con người cảm nhận được. Các nội dung nói chuyện khác nhau dẫn đến những âm thanh khác nhau. Âm thanh này cũng phụ thuộc vào những hiện tượng xảy ra xung quanh cây. Chẳng hạn, khi cây được tưới nước hoặc bị di chuyển thì âm thanh phát ra thay đổi.

D. PHẢN ỨNG CỦA CÂY TRƯỚC sự ĐE DỌA. BACKSTER

Backster là một nhà khoa học chuyên về luật. Ông cho rằng cây cỏ có thể làm chứng vô tư hơn con người. Do đó ông nghiên cứu các phản ứng của cây cỏ khi có quan hệ với người.

Người ta thấy rằng cây cỏ có thể phát ra trường sinh học khá xa, hàng trăm dặm và cũng thấy rằng những phương pháp thông thường dùng để ngăn chặn trường điện từ (như lồng Faraday), là vô hiệu đối với cây cỏ. Nghĩa là cây cỏ có thể bắt được những tín hiệu của cây cỏ khác, ngay trong điều kiện có ngăn chặn như thế.

Backster lấy hai điện cực nối với hai phía của cái lá philadentron, và ông xem cây cỏ có cảm nhận được một sự đe dọa nào hay không. Nhà khoa học cho một chiếc lá cùng loại rơi vào trong một cốc cà phê nóng. Ông không thấy một phần ứng nào của một chiếc lá thứ hai, ở đó có nối với một máy ghi, nhờ một dây dẫn.

Nhưng bây giờ, nếu cho một chiếc lá vào lửa thì sao ? Nhà khoa học tự hỏi, Và chính trong trường hợp này (trường hợp đe dọa !), cái kim của máy nối với chiếc lá thứ hai... bỗng nhiên quay ! Hiệu ứng cảm xúc hay là phản ứng trước sự đe dọa này thế giới gọi là hiệu ứng Backster. Cần lưu ý rằng cây cỏ làm quen dần (trơ dần) với các tình huống bi thảm. Chẳng hạn, cái kim nói trên sẽ quay yếu dần khi thi nghiệm với lửa lặp đi lạp lại nhiều lần.

Cũng theo tinh thần đó, nhà khoa học làm thí nghiệm sau. Trong phòng có hai cành philadentron. Và có sáu người đi vào trong phòng, lần lượt nhau. Người thứ bảy là Backster. Ông thấy đã xảy ra một sự cố : có một cành lá bị một người trong sáu người trên vò nát, nghĩa là trong sáu người đó, có một thủ phạm "giết lá". Ai là thủ phạm của vũ "án mạng" này ?

116ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY

Backster liền nối các điện cực của cái máy có kim quay vào cái lá còn lại, và sau đó, ông bảo sáu người đó lần lượt ra khỏi phòng. Khi đúng thủ phạm, đến lượt minh, vừa ra khỏi phòng thì cái lá thứ hai đóng vai sinh thể làm chứng, liền biểu hiện có một cảm xúc mạnh nào đó : và cái kim quay ! Điều này chứng tỏ rằng lá có trí nhớ, và còn hơn thế ! Người ta cũng còn thấy rằng cây cỏ cũng nhận biết được người nào đó đã phá hoại một cây khác cùng loại ở ngoài phòng. Chẳng hạn, một người vừa mới chặt một cây bước vào phòng. Cây trong phòng liền phát tín hiệu.

III - QUAN ĐIỂM TOÀN ĐỒ (HOLOGRAMME) A. CÁI BỘ PHẬN LÀ CÁI TOÀN BỘ Một quan điểm cơ bản nữa của Triết cổ Đông phương là quan điểm loàn đồ (hologramme). Theo Triết học này, electron là cả một Vũ trụ (xem chẳng hạn cuốn sách L'évolution occulte de l'humanité của C.Jinarajadasa, 1950). Hay là cái bộ phận là cái loàn bộ. Điều này có nghĩa là cái bộ phận mang đủ thông tin cơ bản của cái toàn bộ. B. NGUYÊN LÝ LẤY CẤU TRÚC CON NGƯỜI LÀM MẪU CHÂN LÝ Như đã nói trước đây, nguyên lý con Người là một Tiểu Vũ trụ chính là ví dụ nổi bật nhất của nguyên lý toàn đổ, và con người xem là đối xứng với Vũ trụ. Kết quả này có tầm hết sức quan trọng về phương pháp luận, ở chỗ : MỌI HỌC THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CÁC MẶT TÂM LINH - VẬT LÝ TRONG VŨ TRỤ ĐỀU CÓ Thể DỰA VÀO MẪU NHÂN THỂ ĐỂ XÁC ĐỊNH TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA MÌNH. MUỐN TÌM HIỂU VŨ TRỤ, HÃY QUAY LẠI CHÍNH MÌNH, VÀ QUA CON ĐƯỜNG TRỞ VỀ NÀY, HÃY TÌM LẠI NHỮNG GÌ DƯỜNG NHƯ ĐÃ MẤT, ĐỐI VỚI CON NGƯỜI, ĐÓ LÀ MỘT KHÁT VỌNG LỚN LAO... Cái dường như đã mất đó, chính là Đại Ngã hay Bản thể của mình. Nhiều người đã vô tình đánh rơi mất những gì cơ bản nhất của mình. Bây giờ chúng ta chuyển sang nền văn minh Tây phương. Hiện tượng toàn đồ cũng đã được phát hiện trong quang học. Người phát hiện đó là nhà khoa học Hung Gabor, đã được giải thưởng Nobel. C. CƠ CHẾ CỦA TOÀN ĐỒ, SÓNG ĐỐI TƯỢNG VÀ SÓNG TỰA Trong kỹ thuật chụp ảnh thông thường, người ta cẩn một nguồn sáng, chẳng hạn là nguồn sáng từ Mặt Trời, sóng ánh sáng phát ra từ nguồn này phản xạ lên

117TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

đối tượng muốn chụp và được ghi vào trên phim (âm bản). Sóng phản xạ này gọi là sóng đối tượng.

Còn trong cơ chế toàn đồ, vấn để có phức tạp hơn. Trong cơ chế của Gabor, ngoài sóng đối tượng, ông còn sử dụng cả sóng phát trực tiếp từ nguồn, gọi là sóng tự. Như thế, phim toàn đồ (hologramme) thu được bằng sự giao thoa hai loại sóng khác nhau : sóng đối tượng (phản xạ từ vật muốn chụp) và sóng tựa, lấy trực tiếp từ nguồn.

Với toàn đồ thu được, chỉ trích (cắt) ra một mảnh nhỏ, tức là một bộ phận nhỏ, đưa bộ phận đó vào một máy đặc biệt, là đủ để có thể thu được toàn bộ ảnh của vật được chụp.

Hình trong sách

Như thế, hiện tượng toàn đổ của Gabor cũng có thể xem như một biểu hiện cụ thể của sự tích hợp nào đó giữa các thành tựu của các nền văn minh Đông Tây. Sự phản ánh các đặc trưng của con người lên mặt, lên tay, tai... (xem tướng mặt, tướng tay, tướng tại...) cũng dựa trên nguyên lý toàn đồ này.

Ngày trước, các khoa xem tướng mặt, tướng tay... được xem như những trò bịp bợm, vô nghĩa. Thực ra, đó chỉ là những ngộ nhận mang tính lịch sử. Và suy cho cùng, những ngộ nhận hay phủ nhận như thế đều là hậu quả của chủ nghĩa Duy lý Tây Phương (Rationalisme Occidental) cực đoan, có thể nói là đã ngự trị gần một thế kỷ trên quả Địa cầu chúng ta.

Tại sao ? Vì chủ nghĩa Duy lý đi liền với chủ nghĩa Tất định (Déterminisme), cái gì cũng muốn hiện ra "rành rành", trong lúc đó thì các hiện tượng trong đời sống, các quy luật Tâm - Sinh - Lý trong đời sống nói chung đều chỉ là những quy luật "không rành rành", nghĩa là mờ (flou).

IV - QUAN ĐIỂM VỊ NHÂN (ANTHROPIQUE)

Ngoài hiện tượng toàn đồ, một trong những xu hướng mới nữa của nền văn minh Tây phương hiện nay, nhằm tiến sát đến gần nền văn minh Đông phương, là quan điểm vị nhân (antropique).

118ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY

Trong Kinh Dịch, như chúng ta đã thấy nhiều lần. có nguyên lý Phản Phục, một trong những biểu hiện lớn nhất của nguyên lý đó là khái niệm tuyến Nội, tuyến Ngoại Tuyến Ngoại trỏ con đường đi từ Tiên thiên đến Hậu thiên (cối Trần), còn tuyến Nội trò con đường đi từ cõi Hậu thiên trở về cõi Tiên thiên (cõi Trời).

Theo khái niệm tuyến Ngoại, con người được bắt đầu tạo nên từ một chương trình nào đó, bắt nguồn không phải từ cõi Trần (Quả Đất chúng ta), tức là không phải theo thuyết tiến hóa của Darwin. Trong nền văn hóa Đông phương, có từ "Thiên ha", tức là một cộng đồng "hạ" từ "Thiên" xuống.

Còn theo tuyến Nội để trở về. chính là theo con đường trở lại về nguồn, về lại với Dại ngã, là con đường bao gồm cả những phương pháp cải lão hoàn đồng. cải tử hoàn sinh của Giả Kim thuật (Alchimie' (xem phần Kinh Dịch). Giả Kim thuật ờ đây hiểu theo nghĩa thanh cao của nó, chứ không theo nghĩa tầm thường của những người dốt nát về thực chất của Hóa học, cặm cụi ngày đêm với những lọ cổ cong, với các đám mây phùn phụt đủ màu, trong những gian nhà bí mật. cốt để biến chỉ, thiếc thành... vàng, để thỏa mãn lòng tham của mình.

Bây giờ, chúng ta chuyển sang Thiên văn học của nền văn minh Tây phương. Ngay từ năm 1986, nhà khoa học Carter B, thuộc Viện Thiên văn Cambridge, đã chứng minh rằng : Nếu trị số của hằng số cấu trúc tỉnh vi « (hằng số này xuất hiện trong các thuyết về điện từ trường) :

a = hc/e“ = 137,0360 ■ thay đổi vào khoảng một phần trăm {h gọi là hằng số Planck, c là tốc độ ánh sáng trong chân không, e là điện tích của electron) thì các tinh tú sẽ đổi màu. Nếu hằng số cấu trúc tinh vi đó giảm, thì các tinh tú sẽ chuyển sang màu đỏ. Nếu hằng số đó tàng, thì màu các tinh tú sẽ chuyển sang màu xanh dương. Và cả trong hai trường hợp này sự thay đổi trị số đó, sẽ không thể xuất hiện các vì sao như Mặt Trời chúng ta. tức là từ đó sẽ không thể xuất hiện sự sống trên hành tinh chúng ta.

Mặt khác, nhà vật lý học nổi tiếng Dicke R.H. đã viết trong tạp chi Wørure như sau :

"Tôi không đặt vấn đề là : với một Vũ trụ như hiện nay thì con người sẽ như thế nào. Mà tôi đặt ngược lại : Muốn có con người như hiện nay, thì Vũ trụ phải như thế nào ?

Nói cách khác :

- Vũ trụ (vật lý, NHP') sẽ có ý nghĩa gì nếu như không có chủ thể nhận thức được nó ?

- Nhưng để nhận thức cấn có sự sống, - Nhưng để tồn tại sự sống, cần phải có những nguyên tố Hydro nặng, - Nhưng để tạo được những Hydro nặng, cần phải có những phản ứng tổng hợp nhiệt hạch, - Nhưng để trong lòng các tinh tú xuất hiện được những điều kiện cần thiết cho những phản ứng tổng hợp nhiệt hạch, cần có những khoảng thời gian hàng chục tỉ năm, - Nhưng theo lý thuyết tương đối tổng quát thì khoảng thời gian hàng chục tỉ năm đó chỉ tương thích với mẫu Vũ trụ đóng (Vũ trụ đóng là một thuật ngữ của

119

lý thuyết tương đối tổng quát dùng đế trỏ một trong hai khả năng : đóng hay mở. Còn nghĩa nôm na của từ đóng là bên ngoài nó hoàn toàn không có gì, NHP). Còn bản kinh của nó tại thời điểm bành trướng lớn nhất ít nhất phải bằng hằng chục tỷ năm ánh sáng...

Hiện nay, các nhà vật lý học đã chứng tỏ được rằng thực sự bản kỉnh của Vũ trụ vật lý chúng ta có độ lớn như thế. 1« chinh bản kinh đó phải như thế, để thực hiỂn mỗi mục đích sâu xa : khả năng tần lại con người.

Trên đây là những đưởng ban đầu. sản sinh ra một trong những tư tưởng lớn nhất của thời đại chúng ta : đó là quan điểm vị nhân tức là vì con người lanthropique). Nghĩa là, nói cách khác, sự xuất hiện con người trong Vũ trụ không phải do một sự ngẫu nhiên nào, như nhà sinh học Jacques Monod đã khẳng định trong một cuốn sách nổi tiếng của ông.

Nhưng vì để có thể xuất hiện con người theo ý đổ đó - đó chính là nội dung của nguyên lý vị nhân - thì các hằng số của Vũ trụ vật lý hữu hình phải có những giá trị nhất định, như chúng ta đo được hiện nay.

Cho đến nay. các nhà khoa học đã đi xa trên con đường này. Và một trong những luận cứ cơ bản nhất là các hiện tượng xung quanh cái gọi là vụ nổ lớn (big bang). Đó là hiện tượng nguyên thủy của Vũ trụ vật lý tất nhiên trong một chu trình, theo Vivekananda).

Chúng ta hãy tưởng tượng đang đứng trước một Vũ trụ đang bắt đầu tồn tại. Sau vụ nổ big bang lịch sử, đáng lý ra chúng ta chờ đợi một sự hỗn độn khủng khiếp. Nhưng không phải thế, chỉ sau một khoảng thời gian từ 10 55 giây đến 10 32 giây thì đã có... sẵn sàng khoảng 15 hằng số cơ bản Inhư hằng số Planck, tốc độ ánh sáng...) lạo nên một Trật tự vác định, một hệ thống giá trị và quan hệ xác định,... để con người có thể tôn lại được, theo một mục đích luận (FinaHxme) xác định ỉ

Sự kiện này là lùng đến nỗi người ta khó lòng tin rằng sự sống con người xuất hiện chỉ do ngẫu nhiên như trước. Trái lại, nhiều nhà khoa học đã đi đến kết luận rằng con người đã sinh ra trong một Vũ trụ đã được tạo ra vì chính nó !...

V - QUAN ĐIỂM VỀ CHÂN KHÔNG

Quan điểm vị nhân sẽ không có điều kiện phát triển nếu người nghiên cứu tự bó mình trong quan điểm về vật chất chỉ mang tính vật lý như trước. Thực vậy, ngay vật lý học cũng "đã biết điều" ỏ chỗ xác định được giới hạn của chính mình ! Các tính toán cho thấy rằng mật độ vật chất tối đa của vật lý học là

1093 gram/cm3.

Nghĩa là ngoài giới hạn đó thì các quy luật vật lý không còn tác động nữa. Trước đây nhà toán học Laplace đã nhấm khi cho rằng Cơ học lý thuyết là toàn bộ khoa học nhân loại. Ông cho rằng :

120ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY

Dựa vào các quy luật cơ học, nếu biết được các sơ kiện (tức là vị trí ban đầu và tốc độ ban đầu) của Vũ trụ tại một thời điểm nào đó, thì sẽ biết chấc chắn toàn bộ Vũ trụ trong tương lai. Luận điểm này gọi là Thuyết Tất định Laplace (Déterminisme de Laplace). Ngày nay, do đã qua quá nhiều kinh nghiệm, các nhà vật lý học đã tỏ ra có thái độ đúng đán hơn... và đã tìm cách xác định giới hạn trên. Mặt khác, những phát triển của Điện Động lực học lượng tử (Electrodynamique quantique) cho thấy rằng có tổn tại một môi trường vật chất đặc biệt nào đó gọi là chân không vật lý, hay là Vacuum vật. lý. Từ chân không đó, nếu có đủ điều kiện về năng lượng, sẽ sản ra những cập hạt - phản hạt, như electron - positron (psitron là phản hạt của electron), proton - phản proton... Chính do Vacuum vật lý là mẹ để ra mọi hạt vật lý đủ loại qua các pha thàng giáng, nên nó có mật độ rất cao, bằng

10<J4 gram/cm3 > mật độ giới hạn của vật lý học = 1093 gram/cm3.

Đây là một nghịch lý rất lớn ! Cái chân không vật lý lúc đầu quan niệm là cái "không gì cả", lại có mật độ lớn hơn mật độ vật chất vật lý cao nhất !

Trong Điện Động lực học lượng tử, người ta chứng tỏ được rằng Vacuum vật lý này lại chính là diễn đàn của những chuyển hóa dữ dội nhất :

CÁI KHÔNG ĐỀ RA CÁI CÓ 1

Quan điểm này, ngày trước nhà Minh Triết Lão Tử đã nói ra từ lâu rồi khi đưa ra khái niệm Đạo Chân không là Mẹ đẻ của Trời và Đất. Theo quan điểm của học thuyết Yoga thì Akasha và Prana (qua sự trình bày của Swami Vivekananda trong chương I) cũng chính là cái chân không hiện nay của Vật lý học hiện đại. Và ngay trong kinh nhà Phật, đã biết bao nhiều lần nhắc đi nhắc lại quan điểm :

SẮC SẮC, KHÔNG KHÔNG 1

Mặt khác, hầu như mọi người chúng ta đều biết các tên tuổi Ngộ Không, Minh Khỗng (thời nhà sư Từ Đạo Hạnh). Tại sao người đời xưa lại dùng chữ Không cho những nhân vật kỳ tại đó ? ơ đây, sẽ có người đặt câu hỏi : Cho rằng Lão Tử, học thuyết Yoga, nhà Phật nói đúng, nhưng tại sao họ lại không chứng minh ? Nhưng có người sẽ vận lại : Thế nào là chứng minh ? Chứng minh hiểu theo nghĩa nào, theo phương pháp luận nào ? Chứng minh không thể chỉ định nghĩa hay hiểu theo khuôn khổ của chủ nghĩa Duy lý, xem như loại chứng minh độc tôn, không chấp nhận những khuôn khổ chứng minh khác !

VI - VACUUM VẬT LÝ VÀ QUAN ĐIỂM ý thức THUẦN TÚY. MAHESH MAHARISHI

A - THỜI ĐẠI KHOA HỌC ĐANG VƯƠN LÊN THÀNH THỜI ĐẠI MINH TRIẾT

Sự phát triển của quan niệm về Vacuum vật lý đã tạo ra được một cơ sở cho phép đi sâu vào lĩnh vực ý thức và vô thức, tâm thức nói chung. Sau đây là phát

121TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

biểu của nhà hiển triết đương thời Mahesh Maharishi, nhà sáng tạo ra trường Đại học quốc tế về Siêu Thiển định hay Thiến định Tiên nghiệm (Méditation transcendante). Ông viết : THỜI ĐẠI KHOA HỌC ĐANG VƯƠN LÊN THỜI ĐẠI MINH TRIẾT Các nhà khoa học luôn luôn hiểu rằng và nhiều người đã từng tuyên bố rằng khoa học về thực chất là một kỹ thuật để bành trướng các khả năng của ý thức. Thời đại chúng ta đã chứng kiến sự bành trướng khoa học của trí tuệ con người, và thậm chi mở rộng sự có mặt của mình - như một vật thể vật lý (chứ không phải thực thể tâm linh, NHP) - đến những địa hạt mới, từ nguyên tử đến Mặt Trăng, đến các vì sao... Thế nhưng, không hiểu vì sao con người vẫn tiếp tục đau khổ. Thực vậy, khoa học đã thành công trong việc mở rộng ảnh hưởng của con người ra các phương hướng bên ngoài, và cho phép con người nắm bắt được một số quy luật của thế giới tự nhiên. Thế nhưng, bản thân con người vẫn cảm thấy nội tâm không được thanh thản, và xã hội cảm thấy rất phức tạp, đầy rẫy nhiều vấn đề, luôn luôn mắc sai lầm, với bao nhiều hậu quả bất hạnh. Với tất cả các thành tựu về tri thức và sức mạnh của nó, khoa học cho tới nay vẫn chưa sao thực hiện được cái bí quyết làm cho con người sống hạnh phúc. Và thực là thú vị biết bao khi chúng ta có thể nói rằng sự thiếu sót này đang được sửa chữa đầy đủ, và hơn thế nữa, chúng ta thấy rằng đang hình thành một cách giải quyết dường như không phải để lẩn tránh những tiến bộ khoa học đang tiến triển, mà là để cố gắng tiến tới những đỉnh cao nhất tối hậu của nó. Nhưng sự hoàn thành của khoa học và sự trưởng thành của con người lại nằm ngoài sự bành trướng của ý thức - không chỉ đến các ngôi sao như trong vật lý học ngày nay - mà còn đến những gì xa hơn, tức là đến những kinh nghiệm trực tiếp (tục là kinh nghiệm bản thể, ontologique expérience, NHP) về một thực tại vô hạn, không biên giới, vĩnh hằng... (cái MỘT ! NHP)... Mà chỉ cái thực tại vĩnh hằng này mới cho phép hoàn thành được sự trưởng thành của con người, và là hy vọng, mục tiêu cuối cùng của sự tiến bộ khoa học. Kỹ thuật để đạt tới các thực tại nói trên của sự bành trướng ý thức là một kỹ thuật gọi là Siêu Thiền định hay Thiền định Tiên nghiệm (viết tắt là TM). Điều này rất đơn giản và tự nhiên, bởi lẽ bản chất và trí tuệ con người có xu hướng trôi dạt về phía vô hạn. Một khi mục tiêu này đã được hiện thực và trí tuệ vô biên của nó đã được xác lập, dưới dạng những kích thích tối thiểu tiến tới vị trí ổn định tuyệt đối, và đến sự linh hoạt hoàn chỉnh của nó, thì lúc đó hoạt động với tính tự nhiên của con người, sẽ trở nên ổn định, vì trạng thái Ý thức thuần khiết là "căn nhà của mọi quy luật của thế giới tự nhiên". TRẠNG THÁI CỦA TÂM THỨC, TRONG DÓ ĐÃ XÁC LẬP VÀ ỔN ĐỊNH ĐƯỢC ĐẦY ĐỦ Ý Thức THUẦN KHIẾT TRONG TÙNG NGƯƠI, ĐƯỢC GỌI LÀ MINH TRIẾT. SIÊU THIỀN ĐỊNH ĐÃ NÂNG THỜI ĐẠI KHOA HỌC LÊN THỜI ĐẠI MINH TRIẾT.

122ĐẠI CƯƠNG Đ ĐÔNG và tây

B - Ý THỨC THUẦN KHIẾT LÀ CỘI NGUỒN CỦA MỌI SÁNG TẠO HÀI HÒA

Ông nơi tiếp :

"Nhận thức chúng tôi rất đơn giản : Ý thức thuần khiết không giới hạn. cái trường của sự thông minh trong hình thức thuần túy và không biểu hiện của nó chính là cội nguồn của mọi sáng tạo, là năng lực. sự hài hòa, và sự phát triển của con người. Cũng như trong bông hoa thi chất nhựa, không màu. tinh khiết, là cội nguồn của các cánh hoa hông, là cái thúc đẩy cho cây phát triển và tiến hóa. Bằng cách học phương pháp tiếp xúc với cái trường thông minh thuần khiết này - là căn nhà của mọi quy luật tự nhiên trong bản thân mỉnh - con người tự nhiên sẽ giành được sự hỗ trợ của mọi quy luật đó để hành động. Con người trở nên thanh thản trong tâm hồn. tư tưởng trở nên có hiệu lực và hoạt động con người sẽ dần đến những thành công trong cuộc sống của mình. Con người trong trạng thái đó sẽ phát ra những sóng sinh đông và hài hòa với môi trường xung quanh..." (về mặt sáng tạo, chúng ta thấy quan điểm của Mahesh Maharishi là gần giống với quan điểm của Lão Tử, NHP).

c - CÁI MỘT GIỮA Ý THỨC VÀ VẬT CHẤT

Tư tưởng trên của nhà Yogi uyên thâm là "Các tư tưởng là những kích thích của ý thức", cũng tương tự như trong Điện Động lực học lượng tử, các hạt vật chất là những kích thích (dao động) của Chân không hay Vacuum vật lý. Vacuum vật lý là một trường không có biên giới trong không gian và hoàn toàn ổn định trong thời gian, và có trật tự hoàn chỉnh (hay như thường nói có Entropie bằng không). Còn đối với nhà tư tưởng Mahesh thì Ý thức thuần khiết cũng là một thực tại "không có giới hạn" và có "trật tự hoàn chỉnh". Như thế, hai khái niệm Vacuum vật lý là Ý thức thuần túy của Mahesh chiếm những vị trí tương tự trong các Vũ trụ tương ứng của chúng.

Tính tương tự này giữa Vacuum vật lý và Ý thức thuần khiết trong hai lĩnh vực Vật lý và Tâm lý có ý nghĩa vô cùng quan trọng : - Trước hết sự tương tự này chẳng qua cũng chỉ là một biểu hiện cụ thể của quan điểm Vũ trụ là MỘT, Tâm Vật giao hòa với nhau và xét cho cùng là cùng cơ thể. - Do tính thống nhất đó giữa Tâm và Vật (cái Đơn nhất trong cái Đa dạng !) nên mọi quy luật khái quát của Vũ trụ phải chứa cả hai mặt Tâm - Vật. Ta nói đó là các quy luật Tâm linh - Vật lý. Và chúng ta không lạ gì, chẳng hạn, Đông y học là một học thuyết vừa tâm, vừa thể (psychosomatique, psycho = tâm, soma = thể).

VII - TỪ CHÂN KHÔNG ĐẾN các cõi Ý THỨC VẬT CHẤT

Nếu chân không vật lý nằm cạnh biên giới của vật lý học, thì đồng thời nó cũng là "bước chân" để vượt ra ngoài biên giới đó của vật lý học, để chuẩn bị bước sang những cõi khác của Thực tại, mang những tính chất vật chất - ý thức cao hơn.

A. NHÀ KHOA HỌC L OKUN VÀ CÁC LÝ THUYẾT VỀ VACUUM

Trong cuốn sách nổi tiếng của mình Vật lý học các hụt Cơ bản (tiếng Nga) nhà vật lý lý thuyết L.Okun đã chứng minh rằng :

123TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

1. Chân không vật lý hay Vacuum - cái môi trường "không có gì" đó - ở đó xảy ra bao nhiều biến đổi dữ dội, chia thành từng vùng Âm Dương khác nhau. Nhưng trong vùng Dương lại có những vùng con Âm và trong vùng Âm lại có những vùng con Dương (.hình 41). Nghĩa là trong Âm có Dương và trong Dương có Âm, y hệt như trong Triết cổ Đông phương. (Nên nhớ rằng Vacuum vật lý đã "nằm ngoài" khuôn khổ của vật lý. Do đó, có thể xuất hiện nguyên lý phi bài trung trong Vacuum, là nguyên lý không tồn tại trong vật lý, NHP).

2 Có nhiều loại chân không. Hai chân không kế tiếp nhau được ngăn cách bởi một "ống" rất thanh mảnh, mật độ của ông này bằng hiệu số mật độ các chân không ké nõ

Hình trong sách

3. Có tồn tại một chân không cuối cùng, gọi là chân không nguyên thủy.

Ta dễ dàng thấy rằng các kết quả lý thuyết của Okun là phù hợp với một số quan điểm của Triết cổ Đông phương.

Có thể nói rằng nhà khoa học Okun đang tìm cách tiến dần đến Vũ trụ quan Đông phương. Cũng có thể cho rằng Triết cổ Đông phương cho những định hướng cơ bản cho sự phát triển khoa học Vật chất - Y thức.

VIII - CÁI ĐẠO TRONG VẬT LÝ CỦA FRITJOB CAPRA

A-ĐÔNG VÀ TÂY KHÔNG CÁCH XA NHAU. CÁI ĐẠO TRONG VẬT LÝ HỌC CỦA CAPRA

Khi nói đến những xu hướng tiến về Đông phương của các nhà khoa học Tây phương, thì không thể không nói đến cuốn sách The Tao of Physics (Cái Đạo trong Vật lý học) của nhà vật lý nổi tiếng Fritjob Capra của thời đại chúng ta.

Trước hết, tác giả nói đến sự bất lực của ngồn ngữ khi nói tới Đạo. Nhưng dù sao thì cũng phải... nói đến. Sau đó tác giả nói tới các quan điểm của Đạo Hindu, Đạo Phật, Triết Trung Hoa, học thuyết Thiển. Tiếp theo, tác giả nói tới sự sống song giữa nền văn minh vật lý hiện đại với các học thuyết huyền bí có liên quan đến các Đạo nói trên, trên các quan điểm Vũ trụ là MỘT, thuyết Lưỡng Nghi, Chân

124ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY

không và Hình thái, tính Động lực của Vũ trụ, các hạt quoác, các hiện tượng chuyển hóa giữa các hạt cơ bản, xem như một bức tranh tương tự với hệ 64 Quẻ Văn Vương, dựa vào các khái niệm Tứ Tượng, Bát Quái. Cuốn sách này đã được tái bản ba lẩn, với hàng triệu bản. Tuy nhiên... Fritjob Capra cũng chỉ đứng trên góc độ vật lý để tìm các mối quan hệ song song giữa Đông và Tây mà ông quan tâm, như tên cuốn sách đã chỉ Song để có thể hiểu Triết cổ Đông phương sâu sắc hơn, cần đặt vấn để dưới một góc độ khác. VẬT LÝ HỌC TÂY PHƯƠNG TRIẾT HỌC ĐÔNG PHƯƠNG HIỆN ĐẠI. CỔ ĐẠI DUY LÝ BÀI TRUNG ÂM DƯƠNG PHI BÀI TRUNG...... CÁI ĐẠO CỦA TRIẾT CÁI DUY LÝ MỜ CỦA TOÁN HỌC ĐÔNG PHƯƠNG TÂY PHƯƠNG CỔ ĐẠI HIỆN ĐẠI

CÔNG TRÌNH VỀ MỐI QUAN HỆ CÔNG TRÌNH VỀ MỐI QUAN HỆ TÂY - Động CỦA CAPRA ĐÔNG - TÂY TRONG CUỐN SÁCH NÀY Hình 42. SO SÁNH GIỮA CÔNG TRÌNH CỦA FRITJOB CAPRA VÀ CÔNG TRÌNH TRONG CUỐN SÁCH NÀY.

BẤC CÁI DUY LÝ MỜ CỦA TRIẾT CỔ ĐÔNG PHƯƠNG. VAI TRÒ CỦA TOÁN Vấn đề đặt ra là liệu có thể nhìn mối quan hệ giữa Đông và Tây (cổ Đông phương và kim Tây phương) xa hơn cái nhìn của Capra hay không, và nếu được, thì dưới góc độ nào ? Trong cuốn sách này của chúng tôi, đó là góc độ toán học, bởi nhiều lẽ như sau : 1) Một là do Triết cổ Đông phương có tính suy diễn, chứ Triết cổ Đông phương không phải là một tài liệu thống kê hiện tượng, một hệ thống thống kê hiện tượng như nhiều nhà khoa học Tây phương đã đánh giá (có lẽ do phần lớn họ không tìm thấy ở đây cái về Duy lý Descartes mà họ đã quá quen và muốn đâu đâu cũng thế !). Mà nếu Triết cổ Đông phương có tính suy diễn thực sự đi từ nhiều nguyên lý xem như tiên để (postulat) thì đó là khả năng cho phép đưa toán học vào như một công cụ logic thích hợp 2) Hai là nếu ngôn ngữ vật lý, hóa học... không đủ để nói lên các đặc điểm của nền văn minh cổ Đông phương (khác với nền văn minh Duy lý Tây phương) trong mức độ mà Tồn tại còn "hữu ngôn", (để diễn đạt) thì ngôn ngữ toán học lại có ít nhiều khả năng vượt được sự hạn chế đó, do tính trừu tượng, tính hình thức của nó.

125TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

3) Ba là - như đã nói ở trên - ngay nhiều nhà vật lý cũng đã thấy cần thiết phải vượt qua giới hạn của vật lý học chính thống, nếu muốn tìm hiểu Tồn tại xa hơn. Trong lúc đó thì các quan điểm về các Tầng Trời, các Cõi khác nhau của các đạo Lão, đạo Phật, của Thông thiên học.. có thể chuẩn bị một cái khung nào đó để tìm cách định hướng, dù còn hết sức bí ẩn... Nếu Fritjob Capra đi tìm cái lẽ của Đạo trong Vật lý học hiện đại trong cuốn sách của mình, thì trong công trình chúng tôi, chúng tôi với một góc độ khác để nhìn mối quan hệ giữa hai nền văn minh đó. Đó là tính chất logic mờ hay Duy lý mờ (Rationalisme flou) của nền văn minh cổ Đông phương. Như thế - tương tự như cách lấy tên sách của Capra - cuốn sách chúng tôi có thể lấy tên là (Hình 42). CÁI DUY LÝ MỜ CỦA TRIẾT CỔ ĐÔNG PHƯƠNG (THE FUZZY RATIONALISM OF THE OLD ORIENTAL PHILOSOPHY, LE RATIONALISME FLOU DE LA PHILOSOPHIE ORIENTALE ANTIQUE)

IX - VỀ SÓNG TỰ LẬP (AUTOWAVE)

A - SÓNG TỰ LẬP Các hệ thống không cân bằng đã được nghiên cứu từ lâu trong vật lý học. Trong số các loại hệ thống đó, có một loại gọi là môi trường bị kích thích. Môi trường này gốm ba trạng thái : - Trạng thái tỉnh, - Trạng thái bị kích thích, - Trạng thái không phản ứng (réfractaire, refractary). Khi không có tác động từ ngoài, trạng thái tĩnh bảo toàn. Nhưng khi có tác động từ ngoài thì xuất hiện trạng thái bị kích thích. Sau một thời gian ở trạng thái đó, yếu tố xoay sang trạng thái không phản ứng, nghĩa là không còn bị kích nào đó, khi lại có tác động bên ngoài, yếu tố lại có thể chuyển lại sang trạng thái tỉnh... Ta lại có một chu trình khác... Môi trường bị kích thích có thể hình dung như một mạng lưới, gồm nhiều yếu tố như thế. Và trong môi trường đó có thể lan truyền các sóng kích thích. Quá trình trên gọi là

SÓNG TỰ LẬP (AUTOWAVE).

B - CÁC ĐẶC TÍNH CỦA SÓNG TỰ LẬP Sóng tự lập truyền đi không tắt dần, vẫn giữ nguyên hình dạng và tốc độ của nó. Sự khuyếch tán cũng được trừ bù bằng năng lượng lấy từ ngoài vào. Sóng tự lập không phụ thuộc vào các sơ kiện (như phụ thuộc vào vị trí, vận tốc ban đầu trong cơ học). Tốc độ lan truyền của sóng cũng có tính chất không phụ thuộc đó. Các tham số trên của sóng (dạng, biên độ, tốc độ) đều chỉ phụ thuộc vào các đặc tính của môi trường mà thôi. Các phương trình của sóng là phương trình phi tuyến (nghĩa là có chứa những lũy thừa bậc cao).

126ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY

C- MỘT SỐ VÍ DỤ VỀ SÓNG TỰ LẬP 1. Sóng cháy thảo nguyên Ngay từ năm 1936. các nhà khoa học Ia B.Zeldovitch và D.A.Frank Kameneski đã xác nhận rằng sóng cháy trên thảo nguyên có dạng sóng tự lập. Đầu (front) sóng cháy chuyển động với một tốc độ không đổi, tốc độ này chỉ phụ thuộc vào các đặc tính của môi trường mà lại không phụ thuộc vào các sơ kiện của môi trường. Khi một sóng đi qua thảo nguyên thì sán tất cáa cà cỏ c thi tại chỗ i đó cháy lên, chuyển sang trạng thái kích thích, sau đó chuyển sang trạng thái không phản ứng. Nhưng sau một thời gian nào đó. có lại mọc lên và hiện tượng cháy lại có thể tiếp diễn. 2. Sóng Tự lập của xung thần kinh Xung điện lan truyền trong dây thần kinh với đường kinh 0,025mm và có chiều dài 1,5m, mà lại không tất dần. Chúng ta biết rằng dây thần kinh dẫn điện rất kếm, nó có điện trở có giá trị trong khoảng từ 10" đến 10'" Ôm/cm, điện trở này bằng 100 triệu lần điện trở của đồng ! Trong trường hợp này, nếu không tiếp năng lượng từ ngoài vào thì xung điện sẽ tắt rất nhanh. Như thế, sự lan truyền thông tin trong dây thần kinh đi theo cơ chế khác. Các nghiên cứu cho thấy rằng đó chính là cơ chế sóng tự lập. - 3. Sóng Tự lập tim và não Trong tim, sóng tự lập qua một lần trong một giây. Tác dụng của sóng này là làm cho cơ tim co lại. Người ta cũng thấy rằng trong vỏ não cũng xảy ra hiện tượng sóng tự lập. 4. Sóng Tự lập trong Hóa học Các nhà nghiên cứu Belousov và Jabotinski cho thấy rằng một số hiện tượng oxy hóa cũng mang tính chất sóng tự lập. D - SỰ KHÁC NHAU GIỮA SÓNG TỰ LẬP VÀ SÓNG THÔNG THƯỜNG Giữa các loại sóng tự lập và sóng thông thường (sóng vô tuyến chẳng hạn) có những sự khác nhau và giống nhau như sau :

TÍNH CHẤT CÁC SÓNG SÓNG THÔNG THƯỜNG SÓNG TỰ LẬP

Bảo toàn năng lượng Có Không Bảo toàn biên độ và dạng Không Có Giao thoa Có Không Huy diệt Không Có Phản xạ Có Không Tán xạ Có Có

Bảng 1. NHỮNG SỰ KHÁC NHAU VÀ GIỐNG NHAU GIỮA SÓNG THÔNG THƯỜNG VÀ SÓNG TỰ LẬP

127TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Theo bảng trên. ta thấy rằng hai loại sóng trên chỉ có tính chất ở hiện tượng tán xạ là trùng nhau. Các phương trình sóng tự lập gọi là phương trình Hogkin.

E - SÓNG TỰ LẬP THEO QUAN ĐIỂM ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH Có thể nhìn sóng tự lập theo quan điểm của Kinh Dịch, cụ thể hơn theo quan điểm Ngũ Hành như sau : Từ tính chất Âm Dương Ngũ Hành của sóng tự lập, đặt ra trên nền móng sâu xa của học thuyết Âm Dương Ngũ Hành, kết hợp với sự tổn tại của các hiện tượng sóng tự lập trong các dây thần kinh, sợi cơ, tim... chúng ta có thể giả thiết rằng CƠ CHẾ KHÍ - HÓA TRONG CÁC ĐƯỜNG KINH CÓ THỂ CŨNG THUỘC LOẠI SÓNG TỰ LẬP.

Hóa Hóa

Thâu Trương(Thâu Trưởng Sinh Sinh

Tâng • Tãng

Hình 43. SÓNG TỰ LẬP THEO NGŨ HÀNH

- Trạng thái tỉnh : tương ứng với Hành Mộc (Mộc = Sinh). - Quá trình chuyển từ trạng thái tĩnh sang trạng thái bị kích thích : tương ứng với Hành Hỏa (Hỏa = Trưởng). - Trạng thái bị kích thích : tương ứng với Hành Thổ (Thổ = Hóa. - Quá trình tự trạng thái bị kích thích sang trạng thái không bị kích thích : Trạng thái không bị kích thích : tương ứng với Hành Thủy (Thủy = Tàng) (Hình 43). Ngoài ra, tính chất mở của cơ thể sống chính là điều kiện cơ bản để có thể duy trì, tái sinh những quá trình sóng tự lập như thế.

X- VỀ PHẢI VÀ TRÁI TRONG NHÂN THỂ GIỮA NAM VÀ NỮ

A - VẤN ĐỀ PHẢI TRÁI TRONG VẬT LÝ HỌC VÀ SINH HỌC Trong vật lý học, bài toán phải, trái có một vị trí cực kỳ quan trọng : các tương tác yếu không tuân theo tính đối xứng phải trái. Các hiện tượng bức xạ

128ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY

electron trong các tương tác yếu không xảy ra như nhau về bên trái và bên phải, mà lại theo tỉ số 2/3 (như trong cấu trúc Ngũ Hành, trong đó ba Hành là Dương, còn hai Hành là Âm, hay ngược lại, như sẽ thấy sau này). Đối với các tương tác mạnh và điện từ thì lại có tính đối xứng phải trái.

Hình trong sách

ĐÀN BÀ ĐÀN ÔNG

Hình 44. TÍNH BẤT ĐỐI XỨNG Phải TRÁI, NAM NỮ TẠI ĐẦU CÁC NGÓN TAY Phải trái tứ chi cũng phụ thuộc vào nam nữ (các cụ nói : trai trái, gái phải).

B-CÁC THỰC NGHIỆM VI PHẠM TÍNH ĐỐI XỨNG Phải TRÁI TRONG NHÂN THỂ

Đặc biệt trong sinh học, tính đối xứng phải trái bị vi phạm, nói riêng trong chức năng các bán cầu não phải, trái và trong các hoạt động phải, trái của các kinh mạch. Nhiều nhà khoa học đã thực hiện nhiều thực nghiệm về sự vi phạm đối xứng phải - trái trên cơ thể con người. Sau đây là một số kết quả thực nghiệm của Leokadia Podhorecka (1986), trình bày năm 1986 tại hội nghị quốc tế về Trường sinh học tại Zagrev.

c - MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG KHÁC VỀ BẤT ĐỐI XỨNG PHẢI TRÁI

Khi sinh đẻ, con trai nằm sấp, con gái nằm ngửa. Trong hiện tượng chết đuối, đàn ông nằm sấp, đàn bà nằm ngửa. Khi đàn bà có thai con trai, thì mặt đứa trẻ hướng về mẹ, lưng hướng ra ngoài, bụng người mẹ bị lỗi lên và rắn. Khi có mang con gái thì ngược lại, bụng người mẹ thẳng và mềm. Hai bán cầu não của nhân thể cũng không đối xứng phải trái với nhau.

Các gân trên là cũng không đối xứng phải trái với nhau...

129TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

EM EM + +

Hình trong sách

EM EM

Hình 45. SỰ BẤT ĐỐI Xứng VỀ PHÂN CỰC PHẢI TRÁI CỦA TỨ CHI VÀ NAM NỮ

D - NGUYÊN TẮC CHUNG VỀ PHẢI TRÁI Phải trái là hai mặt Âm Dương. Mà đã là Âm Dương đối kháng nhau, nói chung phải trái không thể hoàn toàn như nhau được. Nói chung, trên nguyên tắc, tính đối xứng phải trái bị vi phạm, nhất là trong phạm vi sinh học, tâm lí học. Mọi học thuyết sinh - tâm học phải tuân theo tính bất đối xứng phải trái, nói riêng là Đông Y học, các thuyết dựng trên Bát Quái...

XI - CÁC DỰ BÁO XU THẾ LỚN CỦA THẾ Kỷ SAU VÀ THIÊN NIÊN KỶ SAU

A - CÁC DỰ BÁO CỦA J.NICEBIT VÀ P.ABEZEN Trước hết, chúng ta hãy xem những chuyên gia lớn về tương lai học của nền văn minh Tây phương hiện đại đã dự báo những xu thế lớn nào về sự phát triển của nhân loại trong các thế kỷ sau. Theo hai nhà tương lai học nổi tiếng J.Nicebit và O.Abezen thì sẽ xuất hiện 10 xu thế lớn nổi bật sau của cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 : 1) Sự phục hưng của kinh tế toàn cầu, 2) Sự phục hưng của nghệ thuật, 3) Sự xuất hiện của chủ nghĩa xã hội thị trường tự do,

130ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY

4) Lối sống toàn cầu và chủ nghĩa dân tộc về văn hóa, 5) Tư nhân hóa nhà nước phúc lợi, 6) Sự trỗi dậy của vòng cung Thái Bình Dương, 7) Thập kỷ có nhiều phụ nữ lãnh đạo, 8) Kỷ nguyên sinh học, 9) Sự phục hưng của tôn giáo trong Thiên niên kỷ thứ III.

10) Sự chiến thắng của cá nhân

Ngoài ra. còn có dự báo của nhiều nhà nghiên cứu khác về một số thiên tai (động đất, lụt bão, hòa hoạn....). '

B - CÁC XU THẾ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN TRIẾT CỔ ĐÔNG PHƯƠNG

Trong số các xu thế trên, những xu thế nào có liên quan đến Triết cổ Đông phương, dù gián tiếp hay trực tiếp ? Theo thiển ý chúng tôi, các xu thế có thể có liên quan là :

Sự phục hưng của nghệ thuật, lối sống toàn cầu, sự trỗi dậy của vòng cung Thái Bình Dương, kỷ nguyên sinh học, sự phục hưng của Tôn giáo, sư chiến thắng của cá nhân.

Có những lý do sau đây :

1) Sự phục hưng của nghệ thuật có liên quan đến cơ chế sáng tạo qua trực giác và cảm hứng. Nhưng các sáng tạo này về cơ bản là thông qua cơ chế Tâm linh đặc biệt của Triết cổ Đông phương trong mối quan hệ Thiên - Địa - Nhân hợp nhất. Chúng ta đã nói đến hai lần cơ chế sáng tạo này, qua các quan điểm của Lão Tử và của Mahesh Maharishi : Sáng lạo là nhớ lại. Súng lạo là xự hòa đồng với trường Y thức thuần khiết...

Và như sẽ thấy trong phần Cận Tâm lý học cuối sách, sáng tạo - cũng như trực giác - là có liên quan đến cơ thể Thiên vô hình của nhân thể, gọi là cơ thể cảm xúc cao cấp...

Nếu không nắm vững các cơ chế này, liệu sự phục hưng nghệ thuật có nhiều thành công hay không ? Tất nhiên đây chỉ là một ý kiến riêng của tác giả.

2) Lối sống toàn cầu và chủ nghĩa dân tộc về văn hóa là một biểu hiện của phương châm

TÌM CÁI ĐƠN NHẤT TRONG CÁI ĐA DẠNG, suy từ nguyên lý Vũ Trụ là MỘT của Triết cổ Đông phương.

3) Sự trỗi dạy của vòng cung Thái Bình Dương sẽ liên quan hữu cơ đến Việt Nam và các nước khác, là những nước chịu những ảnh hưởng sâu sắc của nền văn minh cổ Đông phương.

4) Kỷ nguyên sinh học sẽ diễn ra phần lớn theo phương hướng nền văn minh Đông phương, nói riêng là những nghiên cứu về Kinh, Mạch, Huyệt, Luân xa... và

131TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

các thành phần vô hình của nhân thể, một số động vật, thực vật..., mang tính Tâm linh trong mối quan hệ Thiên - Địa - Nhân hợp nhất.

5) Sự phục hưng của Tôn giáo. Như đã nói, Tôn giáo là con đường đi tìm lại cái Đại ngã của chính mình, hướng về cái Thiện, cái Chân, cái Mỹ... Mục tiêu là hoàn toàn trong sáng, phù hợp với các nguyên lý sâu xa nhất của Triết cổ Đông phương. Tôn giáo thuộc lĩnh vực văn hóa.

Chỉ có một điều : Có sự khác nhau giữa mục tiêu của Tôn giáo và mục tiêu không lành mạnh của một số tổ chức lợi dụng tôn giáo. Đó là điều rất đáng tiếc.

6) Sự chiến thắng của cá nhân sẽ diễn ra không phải theo con đường mỗi cá nhân đều tự do muốn làm gì thì làm. Theo tôi hiểu, sự chiến thắng này của cá nhân sẽ nằm trong các điểm trên, nghĩa là hướng theo cái tốt, tự do phát huy được những tiềm năng còn thầm kín của mình để phục vụ loài người, trong điều kiện hiểu rõ được quỹ đạo của chính mình, của các cộng đồng của mình, và các nguyên tắc xử thế tối ưu. Và những điều này có thể tìm thấy trong các học thuyết của Triết cổ Đông phương.

132ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY

(trang để trắng trong bản in)

133

PHẦN TOÁN HỌC

TRIẾT HỌC CỔ ĐÔNG PHƯƠNG LÀ MỘT HỆ thống CẤU TRÚC TẬP MỜ

134ĐẠI CƯƠNG ĐÔNG VÀ TÂY

(trang để trắng trong bản in)

Nguyễn Hoàng Phương, Tích hợp đa văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1996. Bản số hóa từ ảnh quét; văn bản do OCR nên có thể còn sai sót — bấm vào số trang trong bài để đối chiếu ảnh quét nguyên bản.

Trong mục này