Tập I — Đại cương Đông và Tây
Chương 2
Về Kinh Dịch
VỀ KINH DỊCH
Chúng ta hãy chuyển sang một khoa học cổ Đông phương cực kỳ quan trọng, thường được đánh giá là Tinh hoa của nền văn minh Đông phương. Đó là Kinh Dịch. Sách Kinh Dịch trong và ngoài nước rất nhiều, hàng nghìn cuốn. Trong nước, những sách này lại liên quan đến những đầu óc rất lớn của dân tộc ta như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du, Phan Bội Châu, Ngô Tất Tố, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê. Do đó nội dung nghiên cứu không thể cho là thiếu nghiêm túc. Nhưng trong cuốn sách này của chúng tôi, chúng tôi chỉ chủ yếu hướng về mặt cấu trúc hệ thống, gồm những phần sau :
I - CẤU TRÚC QUẺ (TƯỢNG) CỦA Triết cổ ĐÔNG PHƯƠNG
Các cấu trúc về Quẻ hay Tượng chủ yếu gồm các phần sau : Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Ngũ Hành, Bát Quái, Cửu Cung.
A - THÁI CỰC VÀ LƯỠNG NGHI
Thái Cực (Hình 12) - xem như Vũ trụ toàn bộ - có thể phân cực (polarisable) thành Âm và Dương, gọi là Lưỡng Nghi, là Nghi Dương và Nghi Âm. Nghi Dương được biểu thị bằng một nét liền liên tục, còn Nghi Âm bằng một nét đứt không liên tục.
Những cách phối hợp đơn giản nhất của các đường liên tục và không liên tục trên lần lượt cho các cấu trúc sau :
B - TỨ TƯỢNG VÀ NGŨ HÀNH
Tứ Tượng (Hình 12) mô tả quá trình sinh ra, lớn lên, già đi, rồi mất đi hay là quá trình ; Thành, Thịnh, Suy, Hủy.
Tứ Tượng được biểu thị bằng một tập hợp gồm hai đường liên tục hoặc không liên tục.
Nếu thêm Trung tâm vào, ta được cấu trúc Ngũ Hành với ý nghĩa : Sinh, Trưởng, Hóa, Thâu, Tàng.
c - BÁT QUÁI
Có hai loại Bát Quái : Bát Quái Tiên thiên và Bát Quái Hậu thiên. Bát Quái (Hình 13, 14) có thể xem là kết quả tổ hợp gồm ba đường với mục đích mô tả những quá trình phức tạp hơn, hoặc trong không gian hoặc trong thời gian, ví dụ mô tả các nửa mùa trong năm về mặt thời gian, hoặc là mô tả tám phương trong không gian.
Cấu trúc Bát Quái Tiên thiên hay là Bát Quái Đồ Phục Hy mang tính đối xứng tâm cao độ, còn Bát Quái Hậu thiên hay Bát Quái Đồ Văn Vương thÌ kém đối xứng hơn. Tính đối xứng cao của Bát Quái đồ Thiên thiên biểu hiện những tồn tại tương đối hoàn hảo. Trong lúc đó thì tính kém đối xứng của Bát Quái Đổ Văn Vương lại biểu hiện được những tồn tại kém hoàn chỉnh hơn (của cối Trần chúng ta chẳng hạn).
D - CỬU CUNG
Có thể thêm Trung tâm vào cấu trúc Bát Quái, biến Bát Quái thành một cấu trúc gọi là Cửu Cung.
E - CÁC HỆ 64 QUẺ
Sự kết hợp các Quẻ của các hệ Bát Quái Phục Hy hay Văn Vương lại với nhau sẽ sản ra hai loại cấu trúc gồm 64 Quẻ, tương ứng gọi là Hệ 64 Quẻ Phục Hy (Hình 15) hay Hệ 64 Quẻ Văn Vương (Hình 16). Các nhà nghiên cứu chú ý nhiều nhất đến hệ Văn Vương và cấu trúc này mang một tên riêng là Kinh Dịch. Kinh Dịch được nghiên cứu về nhiều mặt như cấu trúc, ý nghĩa... Cấu trúc này được xem là sản phẩm tinh hoa nhất của nền văn minh cổ Đông phương. '
Kinh Dịch cũng là một trục chính của công trình này. Giữa trục chính về lý luận này và trục chính của nhân thể - tức là các thành phần vô hình của nhân thể - liệu có mối quan hệ cấu trúc gì, hay xa hơn hết, mối quan hệ bản thể gì ? Vấn đề này sẽ được nghiên cứu trong phần cuối cuốn sách....
Nhưng Triết cổ Đông phương không chỉ thu gọn trong cấu trúc Tượng hay Quẻ. Còn một loại cấu trúc khác, gọi là cấu trúc số' gắn liền với nhiều bí ẩn của nhiều nền văn minh cổ Đông phương (Trung Hoa, Do Thái cổ...).
II-CẤU TRÚC CỦA TRIẾT cổ ĐÔNG PHƯƠNG
A - HÀ ĐỒ, LẠC THƯ VÀ CÁC HÌNH VUÔNG KÌ DIỆU CỦA THẤT TINH
Hai cấu trúc số cơ bản nhất của nền Triết học cổ Đông phương gọi là Hà Đồ (Hình 17) và Lạc Thư (Hình 18), gồm 9 số nguyên dương từ 1 đến 9.
Cạnh Lạc Thư, còn có các di sản về những hình vuông gọi là Hình vuông kỳ diệu của Thất tinh của nền văn minh Do Thái cũ (Hébreux) : Sao Thổ, Sao Mộc, Sao Hỏa, Mặt Trời, Sao Kim, Sao Thủy, Mặt Trăng (Hình 19).
B - TRUYỀN THUYẾT VỀ HÀ Đồ VÀ LẠC THƯ
Hà đồ xuất. Theo truyền thuyết, đời Phục Hy, có một con Long Mã nổi lên tại sông Hà, trên lưng có nhiều điểm đen trắng sắp xếp như ở Hình 17.


Biểu tượng Âm Dương trong Đạo Lão, Biểu tượng Âm Dương trong Đạo Do Thái, Hài hòa giữa Âm và Dương. Âm Dương xen kẽ nhau

Biểu tượng Âm Dương trong Phật giáo, Biểu tượng Âm Dương trong Đạo Thần
Âm thẳng đứng còn Dương nằm ngang, (Shintoisme). Hài hòa giữa Âm và Dương phối hợp với nhau và cùng quay. Đường thẳng đứng là Dương (Himorogi), đường nằm ngang là Âm (lwasaka).


Bi u tượng Âm Dương của Đạo Zoroastre. Dương là cái chấm, Âm là
Biểu tượng Âm Dương của Đạo Thiên cái gạch, hai cái luôn luôn đi đôi với
Chúa. Dương thẳng đứng, Âm nằm nhau. Bên phải đồ hình là Vũ trụ của ngang, hòa hợp với nhau thành cái Đơn Đạo, gồm 32 hình vuông Dương và 32 nhất của mọi hiện tượng. hình vuông Âm (tổng cộng là con số 64 !)
Hình 11. CÁC BIỂU TƯỢNG VỀ ÂM DƯƠNG TRONG CÁC TÔN GIÁO (MICHIO KUSHI)
THÁI CỰC


LƯỠNG NGHI (-- Dương Âm
Tứ TƯỢNG = == Thái Dương Thiếu Dương Thiếu Âm Thái Âm
BÁT QUÁI
Kiền Đoai Li Chấn Tôn Khám Cân Khôn
Hình 12. HỆ THỐNG CÁC CẤU TRÚC TƯỢNG (QUẺ, QUÁI) CỦA KINH DỊCH Ghi chú. Nhiều tác giả chưa nhất trí với nhau về các Tượng Thiếu Dương, Thiếu Âm. Các Tượng trên được ghi theo tác phẩm của ông Nguyễn Duy Cần trong Dịch Học Tinh (loa.


Hình 13. TIÊN THIÊN BÁT QUÁI ĐỒ Hình 14. HẬU THIÊN BÁT QUÁI ĐỒ

HY" CẤU TRÚC ĐỐI XỨNG CAO THIÊN- ĐỊA
Hình 1b. HỆ THỐNG 64 QUẺ HẬU THIỀN

THIỀN VÁN VƯƠNG. CẤU TRÚC ĐỐI XỨNG THẤP

Hình 18. LẠC THƯ
Lạc Thư xuất Cũng theo truyền thuyết, thời vua Đại Vũ, sau khi nhà vua trị thủy xong, nhà vua thấy có một Thần Rùa (Quy) nổi lên ở sông Lạc trên lưng cũng có nhiều điểm đen tráng sắp xếp như ở Hình 18.
Tiên thiên Hà đồ và Hậu thiên Lạc Thư Theo tác giả Thu Giang Nguyễn Duy Cần thì Hà Đổ thuộc về Nội hướng (Tiên thiên), là Đạo, là "trị nội", là biểu tượng của thế giới Tâm linh bên trong, còn Lạc Thư là thuộc Ngoại hướng (Hậu thiên), là đạo ngoại vương, là "trị ngoại", là biểu tượng của thế giới vật chất bên ngoài.
Các số sính, thành trong Hà Đồ
Trong Hà Đồ các số mang những tên sau :
Các số lẻ 1, 3, 5, 7, 9 gọi là số Trời (Dương) hay số Cơ, trong đó
1, 3, 5 gọi là số Sinh của Trời.
7, 9 gọi là số Thành của Trời.
Các số 2, 4, 6, 8, 10 gọi là số Đất (Âm) hay là số Ngẫu, trong đó
2, 4 gọi là số Sinh của Đất, 6, 8, 10 gọi là số Thành của Đất.
Người xưa thường nói chẳng hạn :
Thiên nhất sinh Thủy, Địa lục thành chi, Thiên tam sinh Mộc, Địa bát thành chi, Thiên ngũ sinh Thổ, Địa thập thành chi, Địa nhị sinh Hỏa, Thiên thất thành chi, Địa tứ sinh Kim, Thiên cửu thành chi.
QUAN ĐIỂM CỦA Nền VĂN MINH DO THÁI cổ VỀ CHỨC NĂNG CÁC HÌNH VUÔNG KỲ DIỆU
Trong nền văn minh Do Thái cổ (Hébreux), người ta quan niệm rằng Thất tinh có những tác động cụ thể lên bào thai đứa trẻ khi đang còn ở trong bụng mẹ :
1) Sao Thổ xây dựng những sườn cốt đầu tiên của đứa trẻ, trong tháng đấu tiên, 2) Sao Mộc tạo nên tâm tính của đứa trẻ, trong tháng thứ hai, 3) Sao Hỏa truyền cho đứa trẻ sự linh hoạt của máu, trong tháng thứ ba, 4) Mặt Trời mang đến cho nó nhiệt lượng, trong tháng thứ tự, Sao Kim mang đến cho nó sác đẹp bên ngoài, trong tháng thứ năm, 5)
6) Sao Thủy tạo cho nó sự linh hoạt trong chuyển động và của hệ thần kinh, trong tháng thứ sáu, 7) Trong tháng thứ bảy, Mặt Trăng, với tư cách là một Từ Mẫu, hoàn thành công trình của các thiên thể trên.
Đến cuối tháng thứ bảy này, đứa trẻ có thể ra đời. Ta nói đứa trẻ được đề non. Nó có thể sống nếu gia đình biết săn sóc nó đầy đủ.
Tuy nhiên, Sao Thổ trở lại hoàn thành thêm công việc của mình (tức là xương và các hệ kinh mạch (gọi là Nadis) trong tháng thứ tám. Còn Sao Mộc cũng quay trở lại trong tháng thứ chín để truyền cho đứa trẻ những sinh lực cần thiết cho tất cả những cơ quan sinh lý của nó. Đến đây, đứa trẻ được sinh ra trong những điều kiện đấy đủ và sống được. Cái Sinh - theo Papus - là hoàn toàn không đơn giản ! Đây là tư liệu để bạn đọc suy ngẫm.
Riêng về Sao Thổ, chúng ta thấy ngay quan điểm của Papus có phần nào trùng với Đông Y học và Thời Châm. Trong Đông Y Học và Thời Châm, cổ nhân đã dựa vào Bát Quái đổ Văn Vương để xây dựng lý thuyết về 8 Kỳ Kinh, là sườn cốt cơ bản của con người. Nhưng Bát Quái đồ này lại được xây dựng trên cơ sở của Lạc Thư trong đó một nhân tố chính là... hình vuông của Sao Thổ !
Đối với các hình vuông kỳ diệu khác, về mặt toán học, bạn đọc có thể tham khảo công trình của ông Nguyễn Mộng Hùng trong phần Phụ lục. Có thể có rất nhiều mặt về Tâm - Sinh - Lý liên quan đến các Hình vuông kỳ diệu đó, nhưng chưa hề được nghiên cứu.
Hình 19. CÁC HÌNH VUÔNG KỲ DIỆU CỦA THẤT TINH
(trong nền văn minh Do Thái cổ)



Ymarchiel II 24 7 20 3 4 I2 28 8 16 17 13 21 9 IO 18 I 14|22 23/6/19 2/15 panaflor § iebon y'
Hình 19c. HÌNH VUÔNG KỲ DIỆU CỦA SAO HỎA

4 ฿ WoNGal 1 32 34 3 35 6 6 30 8 27 28 I1 7 $ 2024 is 16 13 23 I9 I7 2I 22 18|I4 Thardihel 10 /26 I2 9 29.25 4 2 33. 8 36
Hình 19d. HÌNH VUÔNG KỲ Diệu CỦA MẶT TRỜI

Requiel 3 42 38 4 43 40 2 I5 44 30 33 34 IS 6 I 32 26 21 28 18 49 HamahelL Tarnbes 39 3I 27 28 23 19 II a 2 I4 22 29 24 36 48 az 41| 35 20 17 I6 37 9 Anahell 48 8 |12|46 I0 50 Kalacttin Iebron пор
Hình 19e. HÌNH VUÔNG KỲ DIỆU CỦA SAO KIM

не Mihel I 62 4 SS 63 8 14 IS 46 48 I7 49 20 S1 56 44 22 4I 42 25 21 8 I3 34 38 29|30/27 37 52 33 3I 38 36 32 28 10 Sarypiel II 24 40 26 23 43 39 54 93 45 I8 |47|19 ISO IZ 3 6I 7 6 60 12 64 Darmata f,eoron
Hình 19f. HÌNH VUÔNG KỲ DIỆU CỦA SAO THỦY

a layáwes 13 76 8 78 16 79 9 75 IS 72|19 58 54 20/ 59 21 10 71 60 29 46 49 50 3I 22 II 17 48/42 37 44 34 65 7 7 Michael Acittohel 70 99 47 43 4I| 39 39 27 I2 114 2 18 130 38 4$|40 82 64 80 68 87 81|36 33|32 83,29 I4 Gabriel I 6I |24 28 62 23|26 63 67 6744/663/73 269 Sehffracher Miebron
Hình 19g. HÌNH VUÔNG KỲ DIỆU CỦA MẶT TRĂNG •
III - CÁC CẤU TRÚC PHỐI HỢP TƯỢNG - SỐ TRONG TRIẾT CỔ ĐÔNG PHƯƠNG
Ý nghĩa của cấu trúc số trong Triết cổ Đông phương có hai mặt, một là do ! nghĩa bản thân nó, hai là con số được sử dụng để "chi điểm" cho các tượng Trong quá trình kết hợp cấu trúc này, thông thường cổ nhân sử dụng sự kết hợp Bát Quái Đồ Văn Vương với cấu trúc Lạc Thư, và chủ yếu đã xây dựng được một số cấu trúc điển hình trong Đông Y học, Thời Châm học, học thuyết Độn Giáp, học thuyết Thái Ất (Hình 20, 21, 22) mà chúng tôi sẽ để cập đến một cách chi tiết trong các phần sau.
IV - NHỮNG MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA NHÂN THỂ VÀ VŨ TRỤ, MINH HỌA CÁC NGUYÊN LÝ CON NGƯỜI LÀ MỘT TIỂU VŨ TRỤ VÀ THIÊN - ĐỊA - NHÂN HỢP NHẤT
Các nguyên lý con người là một Tiểu Vũ trụ, và Thiên - Địa - Nhân hợp nhất được xem như những nguyên lý cơ bản nhất trong mối quan hệ giữa con người và Vũ trụ. Sau đây là một số hình ảnh và sơ đồ để minh họa các nguyên lý đó.
A- CẤU TRÚC TIÊN THIÊN, HẬU THIÊN, CON NGƯỜI LÀ MỘT THÁI CỰC
Chúng ta đã thấy sơ đồ Tiên thiên, Hậu thiên này trong cấu tạo 7 cơ thể vô hình của Barbara Ann Brennan (Hình 4).
B - CẤU TRÚC LƯỠNG NGHI, TỨ TƯỢNG, NGŨ HÀNH
Các cấu trúc Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Ngũ Hành của Vũ trụ được phản ánh vào nhân thể như sau :
Cấu trúc Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Ngũ Hành ỉ - Phía trên, từ ngực trở lên thuộc Tâm Hỏa.
- Phía dưới từ bụng dưới trở xuống thuộc Thận Thủy, - Phía bên trái thuộc Can Mộc, - Phía bên phải thuộc Phế Kim, - Vùng giữa thân thuộc Tỳ Phổ.
Cấu trúc Ngũ Hành :
Cấu trúc Ngũ Hành của Vũ trụ được đặc biệt thể hiện rõ nét nhất trong hệ các đường Kinh Chính của nhân thể (Hình 25) (sẽ nói rõ hơn trong phần Đông Y học) :
- Hành Mộc : các Kinh Can, Đởm, - Hành Hỏa : các Kinh Tâm, Tiểu Trường, - Hành Thổ : các Kinh Tỳ, VỊ, - Hành Kim : các Kinh Phế, Đại Trường, - Hành Thủy : các Kinh Thận, Bàng Quang (xem phần Đông Y).
Do nhiều lý do, cổ nhân đã thêm vào hệ thống đó các Kinh Tâm Bào, Tam Tiêu và hai Mạch là Nhâm và Đốc (Hình 25).
c - CẤU TRÚC BÁT QUÁI
Cấu trúc Bát quái (cũng như cho tám phương trời) của Vũ trụ cũng được biểu hiện trong một thực thể của nhân thể gọi là hệ Bát Mạch hay Kỳ Kinh Bát Mạch : các Mạch Nhâm, Đốc, Xung, Đới, Âm Kiểu, Dương Kiểu, Âm Duy, Dương Duy (xem phần Thời Châm).
D - CẤU TRÚC CỬU CUNG
Cấu trúc Cửu Cung cũng được thể hiện trong nhân thể bởi một hệ sinh học nằm tại đỉnh đầu, bao quanh huyệt Bách Hội, được gọi là Nê Hườn Cung. Nê Hườn Cung của nhân thể gồm tám điểm ở vòng ngoài, còn tâm chính là Đại huyệt Bách Hội.
TUYẾN TRIẾT HỌC
THIÊN NHẤT SINH THỦY
CỪU CUNG LƯỜNG NGHI BÁT QUÁI THÁI CỰC NGŨ HÀNH
1 2 8^4 + 4 9 5

Đây là sự vận dụng cấu trúc phối hợp Tượng - số của Triết cổ Đông phương vào Đông Y học, dể tạo ra hệ mã số của một trong những cấu trúc chính yếu nhất của khoa học Thời Châm là hệ
Linh Quy Bát Pháp (Sẽ trình bày trong phần Đông Y) Cần nhớ : Quẻ khảm (Thủy) có mã số 1 đúng như chân lý Thiên nhất sinh Thủy của cổ nhân
TUYẾN TRIẾT HỌC THIÊN NHẤT SINH THỦY
CỬU CUNG LƯỠNG NGHI NGŨ HÀNH BÁT QUÁI THÁI cực
2 1 5 8^4 + 4 9
LY - LI

Trong sơ đồ này, cũng xuất hiện chân lý Thiên nhất ánh Thủy một lần nữa cho một trong những học thuyết lớn của Triết cổ Đông phương, gọi là học thuyết Độn Giáp. Chúng ta nhận xét sơ bộ rằng cấu trúc phối hợp Tượng - số ờ học thuyết Đông Y và học thuyết Độn Giáp là như nhau, chỉ có mục tiêu vận dụng là khác nhau. Tuy nhiên, như sẽ thấy trong phần Độn Giáp, Độn Giáp có thể xem là một cấu trúc mở rộng của Đông Y. từ dó, hai học thuyết đó phải có sơ dồ cấu trúc Tượng - số chung.
TUYẾN TRIẾT HỌC KIẾN TẠI NHẤT
LƯỠNG NGHI TỬ TƯỢNG CỪU CUNG THÁI cực BÁT QUÁI
1 2 4 8*4 + 4 9
TÔM

Trong sơ dổ này, mã số 1 của Lạc Thư không còn dành cho Quẻ Khảm nữa, mà lại cho Quẻ
Kiền. Tại sao ?
Như sẽ thấy sau này. học thuyết Thái Ất là hướng Thiên (biểu thị bằng Quẻ Kiền), còn học thuyết Độn Giáp lại hướng Nhân, từ dó mã số 1, dành riêng cho những khởi diểm có tính nguyên tắc, phải tương ứng với những Quẻ khởi điểm khác nhau (là Khảm và Kiền).
Phương Nam, mùa Hạ Buổi trưa (Thái Dương Hỏa

Phương Đông, mùa Xuân Phương Tây, mùa Thu Buổi sáng Buổi chiều tối Thiếu Dương Mộc Thiếu Âm Kim Phương Bắc, mùa Đông Buổi khuya Thái Âm Thủy
Phương Trung ương : Mùa Trưởng Hạ, Buổi chiều. Âm Thổ
CẤU TRÚC THÁI LƯỠNG TỨ NGŨ BÁT CỬU VŨ TRỤ CỤC NGHI TƯỢNG HÀNH QUÁI CUNG CẤU TRÚC Toàn Trên dưới Tú chi Hệ 10 Hệ 8 Nê Hườn NHÂN THỂ " thân Phải trái Kinh Chính : Kỳ Kinh Cung
TAM TÀI THẤT TINH Đầu, Mình 7 Luân xa, Chân, Tay 7 Cơ thể vô hình của nhân thể
Hình 23. THÁI CỰC, TAM TÀI, THẤT TINH, LƯỠNG NGHI, Tứ TƯỢNG, NGŨ HÀNH. BÁT QUÁI, Cửu CUNG TRONG CẤU TRÚC CỦA NHÂN THỂ Các sự so sánh trên cho thấy rằng con người là tương tự hay đối xứng với cấu trúc của Vũ trụ theo quan điểm Triết cổ Đông phương.


IPAtỉB
Hình 24b. ĐỒ H1NH CÁC ĐƯỜNG KINH CỦA NHÂN THỂ Vũ trụ cổ Tiên thiên và Hậu thiên, thì các dường kinh trong nhân thể cũng có thành phần Tiên thiên và thành phần Hậu thiên.




CỦA CON CHUỘT (ĐẰNG SAU) Hình 24f. MỘT SỐ HUYỆT


THEO CẤU TRÚC NGŨ HÀNH CỦA vũ TRỤ
ĐỐC XIII.
ĐỞM XI.
BÀO TÂM IX.
QUANG BÀNG VII.

NHÂM XIV.
CAN XII.
TIÊU TAM X
THÂN VII. (ie Vg Eur''
E - QUAN ĐIỂM CỦA ĐẠI DANH Y HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG - LÊ HỮU TRÁC
Trong mối quan hệ giữa Tiên thiên và Hậu thiên, cần phải kể đến quan điểm Thủy - Hỏa hay là Tâm - Thận của Hải Thượng Lãn ông - Lê Hữu Trác, nhà đại danh y Việt Nam thế kỷ 18. Theo Hải Thượng Lãn ông thì :
- Tâm (kinh Tâm hay tạng Tâm) là sự thống nhất giữa Thủy Tiên thiên và Hỏa Hậu thiên. Biểu tượng của Tâm - theo Hải Thượng Lãn Ông - là Quẻ Ly, trong đó hào dương biểu thị Hỏa Hậu thiên, còn hào âm biểu thị Thủy Tiên thiên.
- Thần (kinh Thận hay tạng Thận) là sự thống nhất giữa Hòa Tiên thiên và Thủy Hậu thiên. Biểu tượng của Thận - theo Hải Thượng Lãn ông - là Quẻ Khảm, trong đó hào âm biểu thị Thủy Hậu thiên, còn hào dương biểu thị Hỏa Tiên thiên. Hỏa Tiên thiên còn gọi là Mệnh Môn Hỏa, là nguồn năng lượng chủ yếu của nhân thể.
Nghiên cứu về Mệnh Môn Hỏa là niềm tâm đắc nhất của Hải Thượng Lãn ông. Tư tưởng này của Hải Thượng Lãn ông là rất sâu sắc, mà chúng tôi sẽ có dịp nói rõ hơn trong phần Đông Y sau này. Tư tưởng vì đại này của nhà đại danh y Việt Nam lại có quan hệ đến một số tư tưởng khác của một số nhà khoa học hiện đại, như Barbara Ann Brennan, Rupert Sheldrake...
Biểu tượng của Tâm theo Biểu tượng của Thận theo
Hải Thượng Lãn ông, Hải Thượng Lãn ông,
QUẺ KHẢM QUẺ LY
Hình 26. QUAN ĐIỂM LY-TÂM VÀ KHẢM-THẬN THEO HÀI THƯỢNG LÃN ÔNG - LỂ HỮU TRÁC
F - CẤU TRÚC XOẮN TRONG NHÂN THỂ
Ngoài các cấu trúc trên, trong nhân thể còn có cấu trúc xoắn khác (spirale, như hình xoắn ốc của một số Thiên hà, hình xoắn ốc các con lốc, hình xoắn ốc các dòng hải lưu...).
Đặc biệt, chúng ta nhớ lại các hình xoắn ốc Hình 9, hay xoắn lốc của Vivekananda.
Các hình xoắn ốc trong nhân thể có thể là hình xoắn trên đỉnh đầu (Hình 27), hình xoắn ốc trong bào thai (Hình 28), hình xoắn ốc trong tai (Hình 29), hình xoắn ốc của các phân tử ADN (Hình 29)...
Dạng xoán là dạng phổ quát nhất của mọi sự tiến hóa. Thành thử mọi mô hình của sự tiến hóa phải đảm bảo được dạng cấu trúc xoắn đó. Chúng ta sẽ trở lại cấu trúc phổ quát này khi nói đến một số cấu trúc của học thuyết cổ Đông phương, như học thuyết Độn Giáp, học thuyết Thái Ất là các học thuyết dự báo cổ Đông phương, các học thuyết này đều xuất xứ từ những tiên để xác định (gần giống như các học thuyết vật lý của nền khoa học Tây phương).


Hình xoắn ốc trong không gian Hình xoắn ốc trong mặt phẳng

Hình các dòng Hải lưu các Đại dương Hình xoắn ốc trên đỉnh đầu
Hình 27. HÌNH XOẮN ỐC HÌNH HỌC. HÌNH XOẮN ỐC CỦA CÁC DÒNG HẢI LƯU TRÊN ĐINH ĐẦU (MICHIO KUSHI)

Giai đoạn đầu tiên Giai đoạn đầu của Khi con người phát triển sự phát triển hoàn chỉnh
A : biểu thị hệ tiêu hóa và hô hấp, B : biểu thị hệ thần kinh, C : biểu thị hệ tuần hoàn và nội tiết, C xem là kết quả phối hợp giũa A và B
Hình 28. HÌNH XOẮN ỐC CỦA BÀO THAI (MICHIO KUSHI)


Hình xoắn ốc trong tai Hình xoắn ốc trong phần tử ADN
Hình 29. HÌNH XOẮN ỐC TRONG TAI VÀ PHÂN TỬ ADN (MICHIO KUSHI)
CHÚ Ý. Ngoài những mối tương đồng trên giữa con người và Vũ trụ, còn có nhiều mối tương đồng khác như : - Mỗi năm có bốn mùa, và 24 Tiết, như Thanh Minh, Cốc Vũ, Đại Hạn... Trong lúc đó thì nhân thể có 24 đốt sống, 24 nhịp thỏ trung bình trong mỗi phút và 12 cặp xương sườn. - Mỗi Tiết lại chia thành 3 Nguyên là Thượng, Trung và Hạ Nguyên. Như thế, mỗi năm có 72 Nguyên thời tiết. Trong lúc đó thì số mạch đập trung bình trong mỗi phút là 72. - Do tính MỘT của Vũ trụ, không chỉ con người mới có kinh, huyệt... Người ta thấy rằng các động vật, thực vật cũng đều có kinh, huyệt (Hình 24c, d. e, f, g).
