Tập V — Các hệ 64 Quẻ — cơ sở di truyền, Phong Thủy
Chương 63
Về sinh học bán cầu não phải. Các cơ thể vô hình và cận sinh học
VỀ SINH HỌC BÁN CẦU NÃO PHẢI. CÁC Cơ Thể VÔ HÌNH VÀ CẬN SINH HỌC
Trên đây, chúng ta đã bàn tới tính logic và cấu trúc chức năng của hệ Văn Vương : đó có thể là một lý thuyết hệ thống phổ quát và lại mang tính tối ưu. Nếu thế, hệ đó phải chứa và nói chung đã chứa những tiền đế của các hệ thống cụ thể sau - gọi là cấu trúc của thực tại - (structures de realité) như Đông Y học, Thời Châm học, các học thuyết Độn Giáp, Thái Ất...
Bây giờ phải tìm con đường chứng minh tính chân lý của hệ Văn Vương. Hy vọng đó là con đường hướng nội dung của hệ đó về bản thể, nghĩa là cẩn phải nghiên cứu các mối quan hệ của hệ đó với những đặc tính về bản thể của Vũ trụ hay của con người, đối xứng - toàn đổ với nó.
Nhưng điều này chỉ có khả năng giải quyết khi khoa học đi sâu dần vào các Đại Ngã, hay nói cụ thể hơn, vào các cơ thể vô hình của nhân thể, là cái "giá" của Đại Ngã đó.
Trong lịch sử khoa học, đã xuất hiện một số khoa học như thế : đó là Cận Tâm lý học, Cận Vật lý học...
Để có một thuật ngữ thống nhất, chúng tôi đưa ra định nghĩa sau :
I - ĐỊNH NGHĨA VỀ CẬN KHOA HỌC
CẬN KHOA HỌC
- Mọi khoa học đề cập đến Đại Ngã hay Tâm linh gọi là Cận Khoa học.
TRIẾT HỌC TÍCH HỢP
- Triết học dựa trên nguyên lý phi bài trung, ở đó chấp nhận Vũ trụ phân cực thành Lưỡng Nghi mờ, và dựa trên cơ sở nguyên lý Thiên - Địa - Nhân hợp nhất gọi là Triết học tích hợp (Philosophie triégrufe).
PHƯƠNG PHÁP LUẬN TIẾP CẬN HỆ THỐNG TÍCH HỢP
- Phương pháp luận tiếp cận hệ thống, tích hợp được cả phương pháp luận tiếp cận hệ thống cả khách quan, cả chủ quan gọi là phương pháp luận tiếp cận hệ thống tích hợp (méthodologie d’approche systémique intégrale).
Do những nhận thức về Đại Ngã hiện nay được thực hiện bằng phương pháp luận tiếp cận hệ thống chủ quan (Ngộ, Minh Triết, Trí Huệ.,.) nên phương pháp luận tích hợp trên là dựa vào Triết học tích hợp và thích hợp cho các nghiên cứu về Đại Ngã, tức là cho các Cận khoa học.
cơ CHẾ CỘNG HƯỞNG TÍCH HỢP
- Cơ chế tương tác tích hợp loại cộng hưởng cùng tần số (Tiểu Ngã - Tiểu Ngã) với loại cộng hưởng tần số harmonic (Tiểu Ngã - Đại Ngã) được gọi (tắt) là cơ chế cộng hưởng tích hợp.
Các định nghĩa trên về loại khoa học, triết học, phương pháp.luận, cơ chế sẽ nằm trong những nghiên cứu về bản thể, liên quan đến tính chân lí của hệ Văn Vương.
Sau đây là một số nét giới thiệu một số cơ sở của các Cận Khoa học quan trọng nhất.
II - VỀ SINH HỌC BÁN CẦU NÃO PHẢI
Chúng ta hãy nêu lên vài nét về sinh lý nơron thần kinh, liên quan đến. vô thức, tức là đến các cơ thể vô hình của nhân thể, qua các tác giả sau.
G.JASPER
Năm 1964, tại hội thào quốc tế ở Rim về "Não hộ và kinh nghiệm cảm thụ" G.Jasper, căn cứ vào các nghiên cứu điện sinh lý, đã đọc bản báo cáo
"Cúc nghiên cứu sinh lý của cúc cơ chế não bộ tụi các trạng thúi khác nhau của ý thức"
Trong bản báo cáo này, tác giả đã đặt vấn để một cách đặc biệt rõ nét rằng "Liệu có tổn tại một hệ thống nơron đặc biệt, mà chức năng là thụ cảm các hoạt động tâm thức, nhưng lại khác các hệ thống tham gia vào các quá trình như chuyển động tự động, hay xử lý một cách có ý thức các thông tin.."
Tác giả là một trong những nhà khoa học lãnh đạo về điện sinh lý trên thế giới. Trong hội thảo này, một nhà khoa học có tiếng tăm khác là G.Moruzzi, cũng phát biểu ý kiến gần như Jasper trong bản báo cáo :
"Sự phân cắt của não bộ và cơ chế của ý thức"
Trong bản báo cáo này, Moruzzi trình bày hiện tượng hai người bị động kinh được chữa bằng cách cắt một số bộ phận của não bộ (phận chai, mép não trước...). Sau cuộc giải phẫu này, tác giả nhận* xét rằng các bệnh nhân đó đã biểu hiện một trạng thái đặc biệt, gọi là trạng thái có "hai ý thức" khác nhau. Lý do là vỉ các thông tin nhận từ một vỏ bán đầu lại.không truyền được sang vỏ bán cầu kia. Sự phân cắt tâm lý này có thể theo dõi trên các mặt.cảm thụ, giáo dục ; trí nhớ..,
Trong những năm sau, số bệnh nhân được giải phẫu như trên tăng lên rất nhiều. Và một sự nghiên cứu nghiêm túc trên các bệnh nhân đó đã cho phép đi sâu vào cái gọi là "tâm thức vỏ bán cầu não phải", xuất hiện trong một số trường hợp, xem như cái bổ sung của 'âm thức vỏ bán cầu não trái".
Chẳng hạn, nếu vỏ bán cầu trái là cái khống chế (dominant) đối với các hoạt động tâm thức có liên quan đến tính chất kế tiếp trong thời gian, những dạng tâm thức này được dựa vào các lý luận logic và được biểu hiện bằng lời nói, và do đó có thể thông tin được giữa người và người với nhau và thu nhận được dễ dàng thì, ngược lại, vỏ bán cầu não phải lại được đặc trưng bởi những hoạt động có tính chất khác, thậm chí hoàn toàn không bằng lời nói, và lại có tính chất không kế tiếp nhau theo thời gian.
Mặt khác, những hoạt động do những cảm thụ từ vỏ bán cầu não phải, và những quyết đoán trong các trường hợp này, lại không phải dựa vào sự phân tích duy lý, mà lại vào một loại cảm xúc tin chắc, không có động cơ (non motivé), không thể theo dõi được là xuất phát từ đâu ra, và như thế nào.
Những nét này của tâm thức vỏ bán cầu não phải là gần gũi với những hoạt động tâm thức thường gọi là trực giác và đã khiến một số nhà nghiên cứu xem xét vỏ bán cầu não phải như đã tạo nên được một chất (substract) nào đó, có quan hệ đến các hoạt động vô thức.
N.N.TRAUGOH
Sau đây là một số đoạn báo cáo của N.N.Traugott (Nga) tại Hội thảo vô thức tại Tbỉlisie.
"Vấn đề vô thức trong cúc nghiên cứu nơron thần kinh".
Vấn đề đặt ra như sau : "Bài toán vô thức được chú ý tại nhiều mặt, nhưng vẫn còn nhiều điểm cần tranh luận. Chẳng hạn, đó là vấn để đề xuất những thực nghiệm mới về vô thức, vấn đề vô thức ảnh hưởng đến ý thức, vấn để vô thức xác định chương trình cho ý thức, vấn đề vô thức trượt ra khỏi sự kiểm tra của ý thức trong những điều kiện như thế nào, vấn đề xét trong những điều kiện nào thì có thể dùng ý thức để điều khiển những quá trình thường nằm trong phạm vi vô thức.
Tất nhiên, những vấn đề này có một ý nghĩa quan trọng không những đối với lý thuyết, mà còn cả về mặt thực tiễn, như trong y học và giáo dục.
Tác giả Traugott cho rằng những nghiên cứu sinh lý nợron có thể cung cấp những tư liệu quan trọng để giải quyết các vấn để đặt ra. Đồng thời những nghiên cứu này cũng có những giá trị nội tại của chúng, là cho phép phân tích các đặc điểm của các quá trình thần kinh, xác định các hành vi cố ý thức và vô thức, hay là định xứ được các quá trình đó và tính chất các quan hệ tương hỗ giữa vỏ các bán cầu não phải, trái, và các cấu.trúc sâu hơn.
Bản thân Traugott đã phát minh được một phương pháp thực, nghiệm mới để nghiên cứu, gọi là phương pháp va chạm cục bộ (chocs électriques locaux), cho phép khử hoạt động của nhiều cấu trúc não bộ khác nhau trong những khoảng thời gian xác định.
Traugott viết : "Cuối cùng, trong các nghiên cứu thực tiễn và lâm sàng của mười năm gần đây đã cho ta thấy một khía cạnh mới của vấn đề. Người ta thấy rằng trong tương tác giữa vô thức và ý thức thì xuất hiện tính bất đối xứng về chức năng của các vỏ bán cầu não phải, trái. Sự khác nhau này của chức năng các bán cầu não trong quá trình cảm thụ thực tại bên ngoài đã được chứng tỏ rất sáng sủa khi nghiên cứu các đối tượng bị giải phẫu do bệnh tật, ở đó hai vỏ bán cầu bị tách rời ra (Sperry, R.W.Gazzanina, M.s. Bogen, 1961-1970). Người ta thấy rằng mặc dầu các thông tin đi vào vỏ bán cầu não phải là không ngôn ngữ hóa, nhưng vẫn có thể ảnh hưởng đến hành vi."
Một vài sự kiện, có liên quan đến vấn đề đó, đã được thu thập trong phồng thì nghiệm của tác giả, khi nghiên cứu quá trình phục hồi hoạt động của não bộ của các bệnh nhân đau tâm thần, và đã được chữa bằng phương pháp va chạm điện một phía. Qua các nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm điện sinh, tác giả đã kết luận rằng, sau khi có tác động một phía bằng va chạm điện như thế, thì sự khác biệt của hoạt động các vỏ bán cầu não giảm dần, và vỏ bán cầu não chịu sự va chạm điện đó sẽ bị tê liệt.
Trong quá trình chữa bệnh, tác giả cho các va chạm bên phải và bên trái thay phiên nhau và điều này cho phép xem xét các hiệu ứng "cắt" chức năng của các vỏ bán cầu phải, trái của cùng một bệnh nhân.
Traugott thu được các kết quả sau có liên quan đến các chức năng :
1) Khỉ va chạm điện tác động lên vỏ bán cầu não phải thì các chức năng sau đây bị giảm sút hay bị loại trừ :
- Khả năng nhớ một cách trực tiếp, hay khả năng phân biệt một cách trực tiếp bị loại trừ.
- Khả năng nhận biết và phục hồi các nhạc điệu, khả năng phân biệt các khúc nhạc giảm sút.
- Khả năng nhận biết các âm thanh trong cuộc sống, khả năng phát hiện các sai sót trong các bức tranh, khả năng so sánh các bức tranh với nhau, khả năng nhớ những hình ảnh không bàng lời bị hủy hoại.
- Khả năng đánh giá các đặc điểm cụ thể của các thông tin bằng ngôn ngữ giảm một cách rõ nét, chẳng hạn là khả năng phân biệt các đặc điểm của giọng nói từng người, khả năng phân biệt ý nghĩa các âm điệu giảm.
- Sự thông tin bằng lời của bệnh nhân trở nên thiếu gợi cảm, thiếu âm điệu. Những khả năng sau đây tăng lên :
- Khả năng hoạt động bằng lời tăng lên, thính giác nghe bằng lời nhạy hơn.
2) Trái lại, nếu ức chế vỏ bán cầu não trái thì :
- Ngôn ngữ bị phá hỏng, - Khả năng nghe bằng lời bị phá hoại, - Nhưng những khả năng của vỏ bán cầu não phải lại có phấn tăng lên.
Có thể nói rằng trong quan hệ hàng ngang thì các vỏ các bán cầu não hạn chế lẫn nhau về chức năng, từ đó, khi phá hủy chức năng của một vỏ bán cầu nào đó, thì chức năng của vỏ bán cầu kia lại như được phóng đại lên.
Người ta cho cho các bệnh nhân xem hình ảnh của một người đang bị xúc động mạnh. Các bệnh nhân có vỏ bán cầu não phải bị ức chế thì nói lên được nhiều từ, nhưng lại thiếu màu sắc. Với các bệnh nhân có vỏ bán cầu trái bị ức chế, thì có tình hình trái lại.
Lại cho các bệnh nhân nghe một âm điệu. Bệnh nhân có vỏ bán cầu phải hỏng thì không nhận được âm điều này, không phục hồi lại được âm điệu, cũng có bệnh nhân xác định được âm điệu đó, xếp nó vào một thể loại nào đó, nhưng lại vấp sai lầm. Nhưng nếu đó là một bệnh nhân có vỏ bán cầu não trái hỏng, thì họ lại nhận ra được âm điệu, tự mình hát lên (phục hồi), nhưng lại không có khả năng xác định thể loại của nó.
Lại cho các bệnh nhân làm bài toán phân loại, chẳng hạn là phân loại các bảng SỐ hay bảng chữ. Bệnh nhân có vỏ bán cầu não phải bị ức chế sẽ nhóm các bảng đố theo ý nghĩa của chữ, còn các bệnh nhân có vỏ bán cầu trái bị hỏng thì nhóm các bảng đó theo cỡ lớn bé của các chữ.
Khi vỏ bán cầu não phải bị ức chế thi khả năng định hướng trong thời gian (theo chiếu thời gian) bị giảm, còn đối với các bệnh nhân có vỏ bán cầu não trái bị ức chế thì giảm khả năng định hướng trong không gian, mất cả khả năng định hướng không gian nội tại của cơ thể.
Như thế, theo Traugott, hành vi con người được xác định bằng một "cái tháp", đinh trên là vỏ bán cầu não trái, thân là vỏ bán cầu não phải, còn chân là những cấu trúc sâu xa của não bộ.
NHẬN XÉT CỦA TÁC Giả (NHP)
Như thế, các nhà khoa học Tây phương đang dần dần tiến đến ngưỡng cửa của ranh giới : Tiên thiên - Hậu thiên, ở đó bình diện Ngoại Quái - Hậu thiên được nhìn qua lãng kính của vỏ bán cầu não trái, và bình diện Nội Quái - Tiên thiên với vỏ não phải.
Đồng thời chúng ta có dịp ghi nhận được một số "yếu tố mẫu nhân thể" dự trữ nội dung của một số hào của Kinh Dịch.
L.R.ZENKOV
Cũng trong Hội thảo về Vô thức trên, L.R.Zenkov (Viện y học Mascơva), đã đọc bản báo cáo
"MỘT vài khía cạnh của cấu trúc ký hiệu (sémiotic) và tổ chức chức năng của "tư duy và bán cầu não phài1'".
Nội dung của bản báo cáo là xem vỏ bán cầu não phải thao tác với những dấu (ký) hiệu nào, các dấu hiệu này có những tính chất thông tin nào. và vỏ bán cầu não phải - hoạt động như một hệ thống dấu (ký) hiệu - sẽ phải có một tổ chức nơron thần kinh cơ bản như thế nào. 3
Zenkov cũng dựa vào các tư liệu tâm thần liệu pháp và tâm lý nơron thần kinh như Traugott. Ngoài ra, Zenkov có dẫn một số tư liệu đặc sắc của thời cổ đại, chứng tỏ rằng cha ông chúng ta cũng đã có những khái niệm về tính chất bất đối
xứng giữa hai vỏ bán cầu não. Thực vậy, theo Zenkov, nếu chúng ta nghiên cứu các di tích lịch sử về mặt hội họa, thì sẽ thấy rằng các di tích đó chứa cả những yếu tố thị giác, cả những yếu tố ngôn ngữ, với giả thiết rằng các yếu tố ngôn ngữ đó được ghi ở bên phải của các bức tranh, còn các yếu tố phi ngôn ngữ thì ghi ở bên trái. Trong số 70 di tích cổ Nga từ thế kỷ 14 sang thế kỷ 16, đã có 63 di tích mang dấu ấn của một nhận thức bất đối xứng phải trái. Trong số này lại có 58 di tích, ở đó các ký hiệu phi ngồn ngữ được ghi ở phía trái của biểu tượng icon (icon là hình ảnh của đối tượng người xưa tôn thờ).
Tác giả kết luận rằng trong quá trình sình thành về mặt chủng loại (philogénèse) cũng như về mặt bản thể (ontogénèse), và chủ yếu do ảnh hưởng của nền văn hóa, con người đã có hai loại tư duy trong não bộ, và trong não bộ đã hình thành hai phương thức (modus) hoạt động khác nhau của hai vỏ bán cầu não.
Vỏ bán cầu não trái được chuyên hóa trong hoạt động thao tác với những tư liệu ngôn ngữ, với các ký hiệu sản ra trong quá trình thông tin bằng ngôn ngữ. Modus hoạt động của vỏ bán cầu này liên quan mật thiết đến logic hình thức (logic bài trung, NHP), đến tính rời rạc, tính kế tiếp, tính phân tích... Từ đó vỏ bán cầu não trái có một hiệu lực cao trong việc tạo nên các cấu trúc hình thức, với tính chính xác và tính duy nhất trong hoạt động thông tin.
Trái lại, vỏ bán cầu não phải lại chuyên hóa để hoạt động với những tư liệu phi ngôn ngữ, với những hình tượng có thể nhìn thấy một cách toàn thể trong không gian. Những đặc tính của vỏ này là sự tổng hợp đồng thời, tính liên tục và tính tương tự, có một mức độ tự do lớn trong việc phối hợp các dấu hiệu, trong việc nhận thức tính đa trị, tính không phụ thuộc vào logic của tư duy ngôn ngữ. Từ đó bán cầu não này có khả năng nắm bắt được bản chất của vấn để, khả năng thực hiện những lời giải không hình thức, khả năng mềm dẻo...
Để làm rõ, Zenkov đã trình bày các thực nghiệm sau :
1) Một nhà thơ bị lấy mất vỏ não phải. Sức khỏe ông bình thường, không có sự hao tổn nào về ngôn ngữ thông thường và tư duy thông thường. Tuy nhiên ông đã mất khả năng làm thơ.
2) Một nhà toán học có một khối u ở võ não phải. Ông vẫn hoàn toàn còn tư duy logỉc và vẫn tiếp tục tốt các thao tác tính toán. Tuy nhiên, ông đã mất khả năng sáng tạo bằng những giải đáp không tầm thường.
3) Một nhà quán quân cờ cao cấp vấp phải một cơn đau ở vùng vỏ não phải. Tình trạng sức khỏe ông vẫn như cũ, tư duy logic vẫn bảo toàn, và khi gặp phải các tỉnh huống chơi cờ chuẩn ông vẫn không vấp phải khó khăn nào. Tuy nhiên ông đã mất khả năng tổ hợp trong trò chơi sáng tạo.
Bây giờ chúng ta chuyển sang vấn đề thứ nhất mà Zenkov đã đặt ra : Những dấu hiệu (biểu tượng) của thông tin phi ngôn ngữ - gọi là icon - (theo thuật ngữ của Ch.S.Peirce) phải như thế nào ?
Điều kiện đầu tiên của icon là nó phải mang được một số tính chất của đối tượng mà nó phản ánh, nêu lên được các quan hệ cấu trúc của đối tượng (S. Mullan, K.Penfíeld).
Những đặc tính của icon là :
- Tính không rõ ràng của thông tin. nằm trong icon, - Khả năng mang nhiều đoán nhận khác nhau.
Nhưng chính do hai đặc tính trên mà icon lại chứa đựng nhiều ý nghĩa hơn, phong phú hơn phương pháp thông tin thông thường về mặt ngữ nghĩa. Và chính do icon phong phú về mặt ngữ nghĩa, nên nó chịu nhiều cái nhiễu. Nhưng cũng chính vì có nhiều nhiễu nên icon lại có hiệu lực thúc giục, kích thích chúng ta đi tìm ý nghĩa thực sự của nó.
Các nhà nghiên cứu loại thông tin bằng icon cho thấy rằng, loại này còn có một ưu điểm khác là cho phép phục hồi lại được những phần thông tin bị thiếu, trên cơ sở phát hiện ra mã của toàn bộ thông tin, cũng như cho phép thu nhận thông tin như một chỉnh thể, không bị tách rời ra từng mảnh gián đoạn với nhau.
Một ưu điểm nữa của icon là có thể hướng về những địa chỉ chưa biết của mã thông tin. So với phương pháp thông tin bằng ngôn ngữ, có tính chất tùy tiện (arbitraire), thì phương pháp icon lại không tùy tiện.
Vấn đề thứ hai của Zenkov là : vỏ bán cầu não phải tổ chức như thế nào cho thích hợp với phương pháp thông tin bằng icon.
Tác giả Zenkov muốn đi tìm một cơ sở vật chất của sinh lý nơron thần kinh cho cơ chế icon nói ở trên.
TỪ ZENKOV ĐẾN LASLEY VÀ PRIBRAM
Từ trước đến nay, quan điểm chủ yếu của tư duy là thực hiện qua logic ngôn ngữ, từ đó xuất hiện một loại mô hình gọi là mô hình logic - gián đoạn của hoạt động não bộ. Và não bộ được hình dung như một tập hợp bộ phận gián đoạn với nhau. Nói cụ thể hơn, người ta cho rằng tương ứng với một hiện tượng của thực tại là một cấu hình nơron xác định. Một cấu trúc như thế của não bộ thường được gọi là cấu trúc logic tuyến tính. Quan điểm cấu trúc logic tuyến tính này đã biến não bộ thành một tập hợp nhiều điểm, mỗi điểm chuyên về một loại hành vi xác định. Và một hình ảnh cấu trúc như thế là hoàn toàn phù hợp với phương pháp hoạt động logic - gián đoạn của vỏ bán cầu não trái.
Tất nhiên, do bản chất của icon, vỏ bán cầu não phải - tương ứng với phương pháp thông tin icon, khác với phương pháp thông tin logic - gián đoạn - phải hoạt động theo một cơ chế khác, vì cơ chế logic tuyến tính không cho phép giải thích được khả năng thụ cảm các đối tượng chỉ qua một số bộ phận của chúng, cũng như không cho phép giải thích khả năng cảm thụ đồng thời, Qua một số tư liệu thực nghiệm, K.S.Lasley đã chứng tỏ rằng nếu cát đi một số bộ phận khác nhau của não bộ thì chủ thể có thể vẫn không mất hoàn toàn hành vỉ đã học được.
Rosen J., Stein D., Butters N. cũng cho thấy rằng khi có một kích thích đưa vào não bộ thì kích thích này được ghi lại ở một quan thể khá. lớn nơron thần kinh, tư liệu này là trái hẳn với mô hình logic tuyến tính vì, theo mô hình tuyến tính này, khi một bộ phận ghi bị hủy hoại thì sẽ dẫn đến sự hủy hoại khả năng hành vi, cũng như trí nhớ.
Hiện nay, khoa sinh lý nơron thần kinh - khác với lý thuyết kinh điển - quan niệm có sự hoạt động thống nhất giữa hai vỏ bán cầu não. Dường như các sợi của bộ phận chai đảm bảo được sự truyền thông tin đến cho vỏ bán cầu não trái từ hoạt động của vỏ bán cầu não phải. Những sợi dây này đi từ vỏ bán cầu não phải sang vỏ bán cầu não trái. Và như thế, vỏ bán cầu não trái còn hoạt động theo một nguồn thông tin "khác”...
Từ các kết quả trên, K.Prỉbram (Trường đại học Stanford) đã đưa ra một mô hình mới về cấu trúc của vỏ bán cầu não phải : Các thông tin được phân phối trong toàn não bộ, chứ không định xứ tại từng điểm, như trong quan điểm cũ. Cụ thể là Pribram đã đưa ra mô hình toàn đồ (hologramme) của não bộ, mà cơ chế chúng ta đã thấy trong phần Đại Cương. Với mô hình này, mỗi bộ phận của não bộ mang được toàn bộ thông tin của não bộ.
NHẬN XÉT CỦA TÁC Giả (NHP)
Qua các điều trình bày trên, nhất là về toàn đồ, chúng ta trở lại nguyên lý Vũ trụ là MỘT của Triết cổ Đông phương. Nói riêng, cần lưu ý đến mối quan hệ giữa hai vỏ bán cầu não... Trong "mẫu nhân thể" của Kinh Dịch, do hai vỏ đó là quan hệ với Tiên thiên (vỏ phải) và Hậu thiên (vỏ trái), ta thấy rõ hơn mối quan hệ (hữu cơ) cần thiết giữa Quẻ Nội và Quẻ Ngoại... Đó chính là cơ sở "gần bản thể" của việc chia 6 hào thành 3 cặp 1-4, 2-5, 3-6, cũng như các mối quan hệ giữa các hào kế tiếp nhau : 3-4 (nói là "gần bản thể", do não bộ - tuy chưa phải là bản thể - cũng đã có vai trò cực kỳ quan trọng trong vấn đề thu nhận và chuyển thông tin giữa hai bình diện, từ bình diện Tiên thiên (bản thể) đến bình diện Hậu thiên).
III - SERETONIN, CÁC CHẤT GÂY Ảo TƯỞNG Và CÁC LOẠI SÓNG NÃO
ARNOLD J.MANDELL
Trong bản báo cáo
"Towards a Psychohiology of Transcendence', The Psychobiology of Consciousnees, New York, 1980, (.Hướng về một khoa học Tâm - Sình của sự Tiên nghiệm, Khoa học Tâm - Sinh cửa Ý thức) nhà sinh lý thần kinh d.Mandell cho biết rằng có một hệ limbic nào đó có khả năng kéo theo những hiện tượng gọi là tương tự - vô thức. Hệ này nằm trong vùng giữa thân não và vỏ não, có chức năng kết hợp với cảm xúc và tạo nên trí nhớ. Mandeel cũng phát hiện được rằng chất seretonin có thể chống lại sự xuất hiện các hiện tượng vô thức. Khi chất seretonin tạm thời không được sử dụng và nếu tăng hoạt động của chất dopamine hay norepinephrine thì sẽ xuất hiện một số ảo giác giống như ngoại cảm mở. Ngoại cảm mở là loại ngoại cảm về trực giác, sáng tạo, cảm hứng, khác với các loại ngoại cảm thần giao cách cảm, làm di chuyển đổ vật... gọi là ngoại cảm kinh điển.
STANISLAV GROF
Trong bản báo cáo
"Realms ọf thể Human ưnconscious. Observation from LSD Research New York 1976, (Những lĩnh vực của Vô thức con người. Cức quan sát từ các nghiên cứu về LSD), S.Grof đã mô tả trạng thái của một số chủ thể đã uống thuốc gây ảo tưởng LSD là gần giống như trạng thái vô thức của các nhà ngoại cảm. ông viết "Chủ thể uống thuốc gây ảo tưởng có thể đi vào trạng thái gần giống như trạng thái lên đồng. Nét mặt của họ đã thay đổi một cách kỳ là. Các cử chỉ của họ trông rất khác thường, giọng nói thay đổi hẳn. Họ có thể nói với một ngoại ngữ lạ và viết một cách tự động (giáng bút, NHP). Nhà khoa học Grof còn báo cáo rằng một số chủ thể uống thuốc gây hoang tưởng của ông đã nói rằng họ "đã đi vào cõi trung giới và gặp ở đó nhiều nhân vật đã mất từ lâu."
WILDER PENFIELD
Đã mấy chục năm nay, nhà sinh lý thần kinh nổi tiếng Canada Wilder Penfield (.The mystery of thể mind - Bí mật của lâm thức - Princeton 1975), đã sử dụng một kim mang điện tích kích thích chỉ vùng thái dương trái của chủ thể, để có thể làm cho chủ thể kể lại những hiện tượng trong quá khứ của mình.
MICHAEL PERSINGER
Ông là giám đốc phòng thí nghiệm khoa học thần kinh trường Đại học Tổng hợp Ontaric, Canada. Ông dùng điện cực kích thích vùng thùy thái dương của chủ thể, và chủ thể cảm thấy bay "bồng bềnh". Chủ thể cảm thấy bay ra khỏi cơ thể của mình (Voices and Visions : A guided Tour of Revelation - Những điều kỳ do -Âm thanh và Hình ảnh : Một cuộc du lịch có diều khiển trong Mặc khải - 1986). ông nói rằng đây là một hiện tượng sâu sắc về cảm xúc, có ý nghĩa sâu xa, và thường gán là có nguồn gốc Vũ trụ hay tôn giáo, ông cũng quan sát thấy rằng khá thông thường thì chủ thể kể lại đã cảm thấy có những thông điệp gửi đến họ mà không hề nghe một tiếng nào.
ARMAND DIMELE
Ông là một nhà phẫu thuật tại New York. Sau khi làm thực nghiệm với nhiều bệnh nhân động kinh, ông cho rằng trong hiện tượng động kinh có tồn tại một cái gì đó mang tính ngoại cảm thực sự. Tính động kinh dường như có quan hệ với Vũ trụ, hơn là với những người khác.
CÁC SÓNG NÃO TẦN SỐ THẤP, BIÊN ĐỘ CAO
Nhà khoa học Mandell đã phát hiện được những sóng não tần số thấp, nhưng lại có biên độ rất cao, phát ra từ hippocampus và xảy ra trong các pha nhập định, các sóng này "có thể xem là đại điện" một mức tối ưu về năng lượng cho hoạt động ghi nhớ, chú ý, học tập, định hướng. Đó là một trạng thái cơ sở cho hoạt động tối ưu của não bộ. Điều này giải thích tại sao nhiều người có thể đi vào vô thức đồng thời lại có những sáng tạo lạ thường, Cho đến nay, người ta phân loại được 4 loại sóng não : I - Sóng Alpha, từ 8 đến 12 Hertz, - Sóng Beta, từ 13 đến 25 Hertz,
- Sóng Theta, từ 5 đến 7 Hertz, - Sộng Delta, từ 1 đến 4 Hertz, sóng này tham gia vào những hoạt động ngoại cảm cao cấp (của các Chân sư).
JACK SCHWARZ
Ông là một nhà sáng tạo, chủ tịch của Hội Atlethia tại Ahsland. Ông là tác giả của nhiều tác phẩm như Human Energy System - Hệ thống năng lượng con người, 1979. Ông lại đồng thời là một nhà ngoại cảm. ông cho rằng trạng thái vô thức chính là trạng thái "kích thích các thế điện trong não bộ". Quá trình này là một sự trao đổi năng lượng giữa năng lượng đi vào nhân thể với các năng lượng của các tuyến tùng và tuyến yên, kết hợp với Luân xa Hỏa Hậu Kundalỉni. Quá trình này nâng cao hoạt động các tế bào, đặc biệt trong bộ phận hippocampus, và từ đó tạo ra cái mà ông gọi là trạng thái "siêu nhập định", ông cho rằng tại trạng thái này đã xuất hiện các sóng Delta, đặc biệt tại 1 Hertz. Theo ông, tại vùng sóng Delta này sẽ xuất hiện nhiều hiện tượng tức thời, tạo cho chủ thể có khả năng tương tác được với những trường năng lượng nào đó, tồn tại thường trực, nhưng chúng ta chưa hiểu được. Ông viết : "Nếu anh hạ tần số não đến 1 Hertz, thì anh sẽ đi tới vô biên. Anh sẽ chuyển động nhanh hơn ánh sáng, anh sẽ tương tác và nắm bắt nhiều thông tin mới mẻ..."
NHẬN XÉT CỦA TÁC Giả (NHP)
Một số vấn để các nhà khoa học trên đây để ra, là tìm cách sử dụng các chất vật lý hay hóa học (Hậu thiên) để kích thích các hiện tượng ngoại cảm hay giống ngoại cảm (gần Tiên thiên). Một lần nữa ta lại thấy có mối quan hệ giữa Tiên thiên và Hậu thiên, tức là những tư liệu về tính "gần bản thể" của mối quan hệ giữa Quẻ Nội và Quẻ Ngoại. Quan hệ này như thế là hai chiều. Cạnh nguyên lý Dương xướng Âm họa thì còn một quan hệ ngược chiếu khác : Mọi hành vi xấu hay tốt của chúng ta đều sẽ để lại dấu ấn trong Đại Ngã.
Các loại sóng não tần số thấp có liên quan đến một trong những nguyên tắc của các phương pháp luyện tập ngoại cảm : sự bình lặng (tương ứng với tình huống sóng tần số thấp). Trong Lão Giáo, sư bình lặng xem như điều kiện tiên quyết nhất của con đường Đạo.
I V - NEUROMELANIN VÀ CỘNG HƯỞNG HARMONIC
Chúng ta tiếp tục bài toán tìm tính bản thể của Kinh Dịch, nói riêng là bài toán quan hệ giữa các Quẻ Nội và Ngoại, và không dừng tại các sợi dây trong bộ phận chai của não bộ. Các nhà khoa học thế giới nghiên cứu mối quan hệ này bằng nhiều con đường khác nhau. Sau đây là một số con đường như thế.
FRANK BARR VÀ CHẤT MELANIN
Frank Barr là một nhà vật lý học và nghiên cứu liên ngành tại Bắc California, nổi tiếng với các nghiên cứu về chất melanin, và chất tương ứng trong não bộ gọi là neuromelanin.
Vấn đề là đi tìm mối tương quan giữa não bộ và các hiện tượng tâm linh. Theo hệ thống tư tưởng của nhà triết học Arthur Young, Barr cho rằng cái cầu nối giữa não bộ và các khả năng tâm linh có thể là chất neuromelanin. Chất này có hai chức năng, chức năng thứ nhất là làm cầu nối giữa các băng tần số thấp và cao, các băng tần số thấp tương ứng với các hiện tượng vật lý, còn các băng tần số cao với các hiện tượng tâm linh.
Chức năng quan hệ với tâm linh, tức là với các cơ thể vô hình của con người. Barr gọi là chức năng thẳng đứng. Chức năng còn lại, liên hệ với các bộ phận khác nhau của não bộ, gọi là ngang. Barr nghiên cứu xem các chất melanin và neuromelanin có thể có mặt tại những bộ phận nào của não bộ, từ đó tìm các cơ chế của các chức năng ngang và dọc nói trên.
Ông cho rằng các tuyền tùng (glande pinéale) và tuyến yên (glande pituitaire) và vùng dưới dời (hypothalamus) có thể là những nơi tập trung các chất đó. Nhờ các chất melanin và neuromelanin mà tạo ra được những mối quan hệ, tương tác giữa các băng tần số thấp của vật lý và cao của tâm linh.
ANDRIJA PHARICH, HIỆN TƯỢNG CỘNG HƯỞNG Não BỘ VÀ MỨC SIÊU NGUYÊN TỬ
Andrija Puharich là một nhà cận tâm lý học, một nhà vật lý, một bác sĩ đã dày công nghiên cứu cấu trúc của nhân thể.
Theo ông, nhân thể là một tập hợp hợp cộng hưởng hoạt động cực kỳ hài hòa với nhau một cách rất tinh vi. Hệ thống hợp cộng hưởng này có khả năng bắt được các thông tin từ ngoài, dưới dạng các dao động nào đó. Bằng cơ chế cộng hưởng với những tần số thấp của não bộ, hay tần số harmonic thấp, các dao động bên ngoài này có thể đi vào các bộ phận của não bộ. Não bộ chúng ta có thể phối hợp các tần số cao bên ngoài với những tần số đặc biệt của nó, nằm ở phía trên của sóng Theta, và ở phía dưới của sóng Alpha, tức là vào khoảng 7,8 Hertz.
Sở dỉ não bộ có thể sản ra tần số 7,8 Hertz đó là nhờ sự có mặt của chất neuromelanin, theo các nghiên cứu của Bahr, như đã nói ở trên.
"Cửa sổ Alpha 7,8 Herlz" này đã được thực nghiệm chứng tỏ rằng đó chính là sống cơ bản được sản ra trong các quá trình thiến định hay trong các pha ngoại cảm. Một điều khá lý thú là cửa sổ Alpha này lại được sản ra do chính bán cầu não trái, có quan hệ với ngôn ngữ và các thao tác phân tích.
Ngoài ra, Puharỉch lại đưa ra giả thiết về các hạt gọi là preon, còn "bé" hơn các hạt quark. Các hạt preon này tạo ra các hạt quark, còn các hạt quark đến lượt chúng, lại tạo ra các hạt neutron, proton... Puharich cho rằng các hạt preon này (có mặt trong các DNA di truyền trong các cơ quan khác của nhân thể) là có khả năng tương tác với các sóng tần số cao xuất phát từ các cõi khác của thực tại (khác cối vật lý).
BOB BECK VÀ sự HÀI HÒA NÃO BỘ
Bob Beck là một nhà nghiên cứu ở Los Angeles, cùng theo phương hướng cửa sổ Alpha của Puharich. Theo ông, não bộ thường hay "nói chuyện" với chính mình bằng phương pháp cảm ứng dao động từ một vùng này đến một vùng khác, hay là tự cô lập với những thăng giáng của mình (tức là ỗ trạng thái kích thích (thăng) hay ở trạng thái yên
tình (giáng). Ngoài ra, các dao động bên ngoài cũng có thể "nói chuyện" với các bộ phận của não bộ. Nói cụ thể hơn, bằng cơ chế cộng hưởng, các trường dao động bên ngoài có thể kéo theo các hiện tượng dao động của các tế bào nhân thể, chẳng hạn là các tế bào não. Tần số tối ưu trong hiện tượng cộng hưởng này - theo Bob Beck - chính là cửa sổ Alpha của Puharich. Beck đã tuyên bố là đã bát được một tần số 7,8 Hertz từ một nhà ngoại cảm Hawaii.

masta Watelore manha
Hình 139. SÓNG THETA CỦA MỘT NGOẠI CẢM, BIÊN ĐỘ GIẤM TỪ TRƯỚC RA SAU (MIU)
NHẬN XÉT CỦA TÁC GIẢ (NHP) Cần lưu ý rằng trong các nghiên cứu các nền văn minh có, nhiều tác giả Thông thiên học đã nói đến sự có mặt của những loại hạt tương tự như hạt preon mà Puharich đã giả thiết (chẳng hạn là các "nguyên tử hồng trần"). Vấn để là nghiên cứu cơ chế tương tác của các hạt đó với các cơ quan sinh học. Tất nhiên, qua các nghiên cứu trên, chúng ta thấy nhiều tác giả Tây phương đã muốn tìm hiểu sâu hơn mối quan hệ cơ bản giữa các bình diện Vật lý và Tiên thiên. Và những nghiên cứu này sẽ là những bằng chứng "bản thể" sâu hơn về cơ chế của mối quan hệ giữa Quẻ Nội và Quẻ Ngoại trong già thuyết về "mẫu nhân thể của Kinh Dịch" của chúng tôi. Theo Đông Y học hay Thời châm học thì cúc huyệt là những nơi sinh khí ra, vào, qua lại, hoặc !ụ lụi, như "đổ vào trong một cái lỗ, hang" Thành thử, cũng cần thiết nghiên cứu mối quan hệ giữa các "hợp cộng hưởng" với cấu tạo sinh lý tại các huyệt. Từ đó, chúng ta có khả năng lại đi sâu hơn vào cơ chế "tương tác bản thể" giữa Quẻ Nội và Quẻ Ngoại. Hơn nữa, qua cơ chế trên, ta lại thấy rõ hơn rằng con người là một hệ thống "rất" mở. Cơ chế mở này có thể minh họa bằng phần trên của Hình 141.

Hai hên. Trung Tim Hai ben. Plan mros i03 C+1 (f?lt

Với gười Không có ngoại cảm w!s*
= 15 20 25 0 15 20
Min ben. plud phon Hot hen. phia 11.n || + (4 1:3(:
20 25
Hình 140. HIỆN TƯỢNG HOẠT DỘNG ĐỒNG BỘ (SYNCHRONISM) HAY DÍNH KẾT (COHERENCE) CỦA CÁC NEURON Thần KINH CỦA NHỮNG NHÀ NGOẠI CẢM (MIU)

Các cõi phi vật lý với các hàng tần số rất cao (vượt quá tần số điện từ : hồng ngoại - tử ngoại - VŨ TRỤ - CỘNG HƯỞNG varr war tia X) - THIÊN DỌC HARMONIC

CỘNG HƯỞNG NGANG CÙNG Tần SỐ
NHÂN Nơron thần kinh với neuromelanin
Sóng hiên độ cao tần số thấp : - Cửa số Alpha 7.X Hz (Puharich, Beck...) - Sóng Delta 1 - 4 Hz (Schwarz...)
Hình 141. CON NGƯỜI LÀ MỘT HỆ THỐNG MỞ. VỀ MỐI Liên HỆ BẢN THỂ GIỮA QUẺ NỘI VÀ QUẺ NGOẠI CƠ CHẾ CỘNG Hưởng DỌC- NGANG VỚI CHẤT NEUROMELANIN VÀ SÓNG BIÊN ĐỘ CAO, TẦN Số THẤP CỦA NÃO BỘ
V - VỀ "MẪU NHÂN THỂ" CỦA HỆ VĂN VƯƠNG QUA CÁC CƠ THỂ VÔ HÌNH Trước đây, chúng ta đã nói qua về các cơ thể vô hình của nhân thể trong Phần Đại Cương. Nay chúng ta đi sâu hơn vào để mục này.
A - TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU CÁC CƠ THỂ VÔ HÌNH CỦA NHÂN THỂ Sự nghiên cứu các cơ thể vô hình của nhân thể có tẩm cực kỳ quan trọng. Có thể nói đó là một trong những trung tâm của khoa học Tâm linh. Có những lý do sau :
1. Lý do tình báo quân sự và chinh phục người khác
Nói chung, các nghiên cứu về các cơ thể vô hình của nhân thể được gọi là "Tối mật" (Top Secret). Nám được cơ chế của các cơ thể vô hình này, con người có thể điều khiển người khác từ xa, có thể ám hại được người khác từ xa, có thể theo dõi được tỉnh hình từ xa, và cũng có thể tiên đoán được tình hình từ xa...
Nếu không nhận thức được điều này một cách trong sáng, thì hóa ra sự nghiên cứu các vùng sâu thảm của con người chỉ mang đến tai họa cho nhân loại, như việc sử dụng năng lượng hạt nhân để sát hại con người hàng loạt... VÌ thế, từ xưa, các Chân sư chọn học trò (đệ tử) rất nghiêm ngặt.
Ngoài ra, sự phát triển khoa học này là một trong những trách nhiệm bảo vệ đất nước. Theo ý chúng tôi, một loại chiến tranh khốc liệt của các thế kỷ sau có thể xảy ra là chiến tranh Tâm linh. Hãy cảnh Giác cao độ ĩ
2. Lý do rèn luyện con người
Mặt khác, trái ngược với xu hướng trên, việc nghiên cứu các cơ thể vô hình của nhân thể sẽ dẫn tới các phương pháp rèn luyện sức khỏe, nhân cách, đạo đức. Con người sẽ hiểu được đâu là chân giá trị của mình.
3. Lý do tích hợp Trường Sinh học với Châm Cứu học
Cần nhắc lại rằng một số nhà khoa học thế giới (như David Tanselay) đã chứng tỏ được rằng sự giao thoa các sóng Trường sinh học của các cơ thể vô hình là cơ chế tạo nên hoạt động của các huyệt vị. Điều này đã trình bày trong phần Đông Y học và Thời Châm học.
Nếu gắn thêm vào cơ chế này cơ chế cộng hưởng harmonic, thì chúng ta sẽ thấy rõ hơn tính bản thể của Thời Châm học (nguyên lý Thiên - Địa - Nhân hợp nhất).
4. Lý do nhằm tạo nên cơ sở bản thể của Kinh Dịch (mẫu nhân thể của Kinh Dịch)
Về mặt lý luận, sự nghiên cứu các cơ thể vô hình của nhân thể mang hy vọng tạo nên được cơ sở bản thể của Kinh Dịch, là một pho di sản cổ cực kỳ khó hiểu với khá nhiều người. Và như đã nói trước đây, cơ sở bản thể của Kinh Dịch sẽ kéo theo cơ sở logic của hệ thống đó.
Trong phần tiếp theo ngay đây, chúng tôi mong mang đến cho bạn đọc một số tư liệu để bạn đọc suy ngẫm về phương hướng đó, xem là một trong những điều tâm đắc nhất của tác giả...
B -VỀ DẠNG, CẤU. TRÚC. VÀ CHỨC NĂNG CỦA HỆ THỐNG CÁC cơ THỂ VÔ HÌNH CỦA NHÂN THỂ
1. Ba bình diện thông thường của hệ thống Các cơ thể vô hình của nhân thể
Thông thường, người ta hay nói đến ba bình diện của hệ thống các cơ thể vô hình của nhân thể (chẳng hạn theo các nghiên cứu của Barbara Ann Brennan) :
a) Bình diện Tiên thiên, phi Vật lý, gồm ba cơ thể vô hình :
- Cơ thể Ketheric, - Cơ thể Thiên, - Cơ thể Etheric mẫu. b) Bình diện Trung gian, hay Trung giới, gồm một cơ thể vô hình : - Cơ thể Trung gian hay Astral, c) Bình diện Hậu thiên, Vật lý, gồm ba cơ thể vô hình : - Cơ thể Tâm thần, - Cơ thể Cảm xúc, - Cơ thể Etheric. Ngoài ra, còn có những cơ thể vô hình thuộc bình diện cao hơn, được gọi là bình diện Vũ trụ. Chúng ta hãy lần lượt giới thiệu các cơ thể vô hình trên. 2. Cơ thể Etheric Đó là cơ thể vô hình thứ nhất, thuộc bình diện Vật lý. Dạng : Mạng lưới gồm nhiều đường năng lượng tinh vi. - Cấu trúc : Giống như cấu trúc (đồng cấu) của cơ thể Vật lý, tức là cấu trúc Âm Dương, Ngũ Hành, Bát Quái, Cửu Cung, - Chức năng : Cơ thể Etheric là cái khuôn (template) của cơ thể Vật lý. Minh họa : Barbara Ann Brennan cùng làm thí nghiệm với John Pierrakos như sau : Hai nhà nghiên cứu này dùng khả năng ngoại cảm để theo dõi quá trình lớn lên của mộnt cành ày. Táu á Shang thấy thân vậy ly (hấya một ình dân àn g lực nh vỏ theo cái khuôn năng lượng sẵn có nói trên. Quá trình này được gọi là quá trình tự vật chất (matérialisation). Khi cái lá vật lý bị cắt một phần không lớn (một phần ba chẳng hạn), thì cái khuôn Etheric của nó vẫn nguyên (thực nghiệm của S.D.Kirlian và Ross). CỘNG HƯỞNG HÌNH THÁI GENETIC Trong phần này, chúng ta lại nói rõ hơn về cộng hưởng hình thái genetic. Do cơ thể Vật lý và cơ thể Etheric có cùng cấu trúc, nghĩa là cùng hình thái (morphe), và do cơ thể Etheric là "gen" của cơ thể Vật lý, nên mối quan hệ giữa hai cơ thể đó là một quan hệ cộng hưởng hình thái genetic (résonnance morphique génétique - Rupert Sheldrake). Nói cụ thể hơn, nhà sinh học Anh Rupert Sheldrake giả thiết về cấu trúc và các "xử thế" của các cơ thể như sau trong cuốn sách của ông : A New Science of Life. The Hypothesis of Formative Causation - Một Khoa học mới về sự Sống. Giả thuyết về Quan hệ Nhân quả trong việc tạo hình thái. (Rupert Sheldrake) Theo ông, có tồn tại những trường nào đó, nằm ngoài không gian và thời gian của chúng ta (cả nằm ngoài khái niệm năng lượng của chúng ta !) có chức năng
đóng vai trò thiết kẽ (blueprint) trong việc xây dựng chương trình cho các sinh thể vật lý, cả chương trình hành động, cả các chương trình cho các mẫu hình nhận thức.
Các trường này ông gọi là trường genetic hình thái (morphogenetic fíeld), tạo ra được một số "thực thể có thực" và có khả năng khá đầy đủ để "chiếu các dự định, tư tưởng và hành động của họ về phía dưới", gần giống như những nguyên mẫu (archetype) trong những văn bản cổ.
Chính những nhà ngoại cảm đã bắt được các chương trình đó bằng một cơ chế. mà Sheldrake gọi là cộng hưởng genetic hình thái (morphogenetic resonance).
3. Cơ thể Cảm xúc
Đó là cơ thể thứ hai, thuộc bình diện Vật lý.
- Dạng : Không có dạng lưới như cơ thể Etheric, mà là dạng plasma sinh học (bioplasma). Đó là một "đám mây" có nhiều màu sắc, luôn luôn chuyển động, lan ra khỏi cơ thể vật lý khoảng từ 1 đến 3 insơ. Cơ thể này len lỏi vào các cơ thể vật lý và Etheric.
- Chức năng : Cơ thể này, theo tên gọi của nó, là cơ sở của cảm xúc.
Các cảm xúc rối loạn có màu tối và xỉn. Các cảm xúc cao cả như tình thương, niềm vui có màu sắc sáng và rõ. ■
4* Cơ thể Tâm thần
Đó là cơ thể thứ ba thuộc bình diện Vật lý.
- Dạng : Dạng lưới gồm nhiều đường năng lượng khá khá tinh vị. • - Cấu trúc : Cấu trúc giống như cấu trúc của cơ thể Etheric, nghĩa là cấu trúc Âm Dương, Ngũ Hành, Bát Quái, Cửu Cung, nhưng có phần rộng hơn..
- Chức năng : Đúng như tên gọi, cơ thể này là cơ sở của các quá trình tư tưởng, tâm thần, liên quan đến lý tính.
Các tư tưởng - trên cơ sở cơ thể này - được hình hóa thành những cái gọi là hình lư tưởng. Đó là những blốc năng lượng có độ sáng và hình dạng khác nhau.
Cơ thể Tâm thần tỏa ra một màu vàng trên đầu và trên hai vai, nó lan ra khỏi cơ thể vật lý một khoảng từ 3 đến 8 insơ.
- Quan hệ với cơ thể Cảm xúc. Các cảm xúc chúng ta hiện thành hình có màu sắc, nằm trong cơ thể cảm xúc. Nhưng các hình cảm xúc này lại lấn sang cơ thể tâm thần. Như thế, khi một tư tưởng được hình thành, một mặt nố hiện ra dưới dạng hình tư tưởng trong cơ thể tâm thần, nhưng mặt khác lại được bổ sung bằng màu sắc của cảm xúc liên đới với tư tưởng đó.
Tư tưởng càng thanh cao thì hình tư tưởng càng sáng và rõ. Những tư tưởng, tình cảm lờ mờ có hình tư tưởng mù mờ, không có biên giới rõ nét.
Hình tư tưởng của những tư tưởng ích kỷ giống như những cái móc.
Hình tư tưởng của một sự hiếu kỳ cao độ có dạng xoắn, màu vàng.
Hình tư tưởng của sự tức giận, nếu kéo dài, lấy hình những mũi tên nhọn, màu đỏ.
Hình tư tưởng của tiếng cười hồn nhiên trẻ em là những đường cong màu hồng.
Hình tư tưởng của sự ghen tuông có hình con rắn, màu nâu sạm.
Hình tư tưởng của tiếng cười thân ái là những làn sóng tròn, đẹp, màu vàng chói và xanh.
Hình tư tưởng của tiếng cười bi ổi giống như những tiếng nổ, không có biên giới xác định, có màu xám bẩn.
Hình tư tưởng của những thái độ nhăn mặt là những mũi tên đỏ bầm, bắn lên trên.
Hình tư tưởng của những tiếng cười ích kỷ có dạng những vũng bùn sôi sùng sục.
Hình tư tưởng của tâm lý nôn nao, xao xuyến là những hình run rẩy.
Hình tư tưởng của tiếng gió vi vu (cây cỏ cũng có hình tư tưởng) hay là tiếng lá xào xạc, là một tấm lưới căng trên không trung, phập phồng, lấp loáng...
Hình tư tưởng của tiếng chim hót líu lo là những vòng tròn chói sáng.
Hình tư tưởng của những bàn nhạc biến đổi tùy theo bản đàn và tâm tư của nhạc sỉ.
Hình tư tưởng của sự tôn sùng mạnh mẽ có dạng đóa hoa màu xanh lá cây, hay hình tháp có định hướng lên trên...
Các hình tư tưởng khác nhau cổ thời gian sống khác nhau.
Do cộng hưởng, các hình tư tưởng đồng tính có xu hướng gộp lại với nhau thành những khối hay hình tư tưởng tập thể, có thể xem là những sinh vật có ảnh hưởng đến cá nhân và cộng đồng. Chẳng hạn, khi các người. Châu Phi nhảy múa, ca hát cùng điệu thì có thể sản ra những hình tư tưởng gọi là Egrégore hay là Grand Elementals (Đại Hình tư tưởng hay là Đại Tinh Linh) có thể bứt đứt tóc ! Đây là một loại laze tâm thần mà kẻ xấu có thể sử dụng trong việc xâm chiếm, bành trướng rất tai hại một cách vô hình (chiến tranh ỉaze tư tưởng ĩ).
Khoa học về hình tư tưởng là một khoa học lớn về nhân cách và sự sống nói chung. Trong các thế kỷ sau, người ta sẽ đua nhau chạy theo khoa học này với những mục đích đen tối (bành trướng) hay trong sáng (phát huy mọi khả năng của con người theo chủ nghĩa nhân văn). Đây là một vấn để tầm chiến lược.
5« Cơ thể Tinh tú, hay Trung gian hay Astral
Cơ thể này không còn thuộc bình diện vật lý, và gồm vật chất "mịn" (matière fìne) hơn vật chất vật lý.
- Dạng : Dạng plasma sinh học gồm những đám "mây" có màu sắc rất đẹp như ở cơ thể cảm xúc. Cơ thể này phát ra ngoài cơ thể vật lý một khoảng rộng đến mót bộ (foot) rưỡi. Có màu hồng.
- Chức năng : Khi con người rơi vào tỉnh yêu hay tỉnh thương nói chung thì sẽ xuất hiện những vòng cung rất đẹp nối các con tìm của họ lại với nhau. Khi có quan hệ giữa người và người thì từ cơ thể tinh tú sẽ xuất hiện nhiều dạng tương tác khác nhau. Chẳng hạn trong một phòng nhiều người sẽ xuất hiện nhiều đám đốm có đủ màu sắc, hình dạng khác nhau bay vun vút... Một số các đốm đó làm người ta dễ chịu, một số khác làm người ta khó chịu. Có một số trường hợp một số người không quen biết nhau đứng cạnh nhau, nhưng ngay trong trường hợp này, giữa các cơ thể tinh tú của họ đã có những trao đổi năng lượng !
Theo nhiều nhà nghiên cứu, vật chất trong cơ thể Tinh tú tự nó phát sáng, từ đó mới cố thuật ngữ cơ thể Tinh tú, nghĩa là tự mình phát sáng như các Tinh tú !
Bắt đầu từ cơ thể Tinh tú hay Trung gian này, không còn có khái niệm không gian, thời gian bình thường. Cũng có thể còn có khái niệm không gian, nhưng lại là những không gian có số chiều nhiều hơn ba...
6. Cơ thể Etheric mẫu
Bây giờ chúng ta chuyển sang bình diện Tiên thiên, có liên quan đến Đại Ngã. Cơ thể đầu tiên thuộc phần Tiên thiên gọi là cơ thể Etheric mẫu.
- Dạng : Dạng lưới, cũng gồm những đường năng lượng như các cơ thể Etheric và Tâm thần.
- Cấu trúc : Có cấu trúc bao trùm cấu trúc Âm Dương, Ngũ Hành, Bát Quái, Cửu Cung.
- Chức năng : Cơ thể Etheric mẫu làm khuôn "Âm bản" cho cơ thể Etheric, nếu xem cơ thể Etheric là Dương bản. Cơ thể này lan ra khỏi cơ thể vật lý từ nửa bộ đến hai bộ.
Khi cơ thể Etheric bị méo mó, thì cơ thể Etheric mẫu có chức năng "kéo" cơ thể Etheric lại về dạng bình thường.
- Cộng hưởng hình thái genetic. Quan hệ giữa hai cơ thể Etheric mẫu và cơ thể Etheric là một trong những biểu hiện điển hình về cộng hưởng hình thái genetic, nhưng do cơ thể Etheric mẫu hoạt động trên những băng tần số cao hơn các bảng tần số của cơ thể Etheric, nên cơ chế cộng hưởng ở đây là cộng hưởng harmonic.
- Tác động của âm thanh. Âm thanh có tác động mạnh tới cơ thể Etheric mẫu này, nên có phương pháp chữa bệnh bằng âm thanh, để tác động lên cơ thể Etheric mẫu này.
7. Cơ thể Thiên
Cơ thể Thiên là cơ sở của những cảm xúc cao cấp trên bình diện Tâm linh. Cơ thể này chính là gốc của trực giác, những cảm hứng lớn trong sáng tạo khoa học, nghệ thuật.
- Dạng : Plasma sinh học cao cấp (rất "mịn"). Lan ra khỏi cơ thể vật lý từ hai bộ đến hai bộ ba phần tử.
- Chức năng : Tạo nên mối quan hệ giữa cá nhân và toàn bộ Vũ trụ. Khi thiền định chẳng hạn, nếu phát huy được chức năng của cơ thể Thiên, thì sẽ thấy được ánh sáng tình thương trong mọi vật. Cảm nhận được ánh súng lình thương đó là của chính mình...
Cơ thể Thiên có màu tùng lam, có ánh sáng lung linh, màu vàng bạc và trắng dục.
8. Cơ thể Ketherĩc (hay Ketherĩc mẫu)
Đây là cơ thể vô hình tiếp cận gần nhất với Đại Ngã. Rất "mịn". Hoạt động trên những băng tần số rất cao.
- Dạng : Lưới. Lan ra khỏi cơ thể vật lý từ hai bộ rưởi đến ba bộ.
- Cấu trúc : Bao gồm các cấu trúc của các cơ thể lưới đã nói từ trước
- Chức năng :
a) Tạo nên sự hòa đồng giữa cá nhân và Vũ trụ, b) Có vỏ bảo vệ dày từ một phần tử đến một nửa insơ, vỏ này rất dẻo, cản lại mọi sự xâm nhập từ ngoài vào cơ thể, giống như vỏ trứng chim bảo vệ trứng, c) Cơ thể này gồm những sợi vàng rất đẹp, gọi là huỳnh quang tuyến, dùng để "dệt" các cơ thể lưới khác của nhân thể và các Luân xa. Do đó cơ thể này mang thêm thuật ngữ "mẫu".
d) Cơ thể Ketheric là cơ sở của Trí Huệ hay Minh Triết xuất hiện trong cúc sáng tạo lớn. Sự nghiên cứu cơ thể này là cực kỳ quan trọng về nguyên tắc.
Bên trên cơ thể Ketheric là cơ thể Vũ trụ, với những băng tần số hết sức cao. ít nhà ngoại cảm "với" tới những cõi cao như thế, để cho chúng ta một ít thông tin cần thiết... Tuy nhiên, với bình diện Tiên thiên, chúng ta cũng đã hình dung được phần nào "diện mạo" của Đại Ngã của chính con người...
NHẬN XÉT CỦA Tác GIẢ (NHP)
Các chương trình giáo dục từ trước đến nay về sinh học không hề đả động đến ngay cả hệ thống các đường Kinh, chưa nói tới các cỗi vô hình... Và từ đó, người học sinh hoàn toàn không có một ý niệm nào về Đại Ngã của mình. Người học sinh vẫn tưởng mình chỉ là một sinh vật "tầm thường" và dễ hướng về những hoạt động... tầm thường. Một chiến lược giáo dục tương lai không thể thiếu mục Cận sinh học này, vì nếu có một thiếu sót như thế, thì người học sinh không phát huy được :
- Cái Chân, do không hiểu được cái Chân lý của chính mình, - Cái Thiện, do những cơ thể thuộc bình diện Tiên thiên mang tính bản thể là tính Thiện, - Cái Mỹ, do cũng chính những cơ thể vô hình đó hướng con người về sự hòa đông và sự hài hòa với Vũ trụ, tức là tính Mỹ.
VI - TÍNH ĐỒNG CẤU BỘ PHẬN (PARTIAL HOMOMORPHISM) CỦA CẬN SINH HỌC VỚI KINH DỊCH
Theo các trình bày từ trước đến nay, có thể hy vọng Cận Sinh học là đồng cấu bộ phận với 'Kinh Dịch trên những nét cơ bản nhất. Nhưng chúng ta muốn tìm hiểu tính đồng cấu này xa hơn, với những mối quan hệ giữa các hào và các cơ thể vô hình của nhân thể. *
Chúng ta hy vọng tiến tới một tỉnh hình như sau :
BỨC TRANH ĐỒNG CẤU BỘ PHẬN GIỮA KINH DỊCH VÀ CẬN SINH HỌC ?
QUẺ NỘI BÌNH DIỆN TIÊN THIÊN
1 Hào sơ Có thể Ketheric, Tâm thần cao cấp - Lưới 2 Hào trung Có thể Thiên, Cảm xúc cao cấp - Plasma 3 Hào mạt Có thể Etheric mẫu, mẫu của cơ thể Etheric- Lưới
QUAN HỆ CƠ THỂ TINH TÚ TRUNG GIAN GIỮA HAI QUẺ Plasma
QUẺ NGOẠI BÌNH DIỆN HẬU THIÊN
4 Hào sơ Cơ thể Tâm thần - Lưới 5 Hào trung Cơ thể Cảm xúc - Plasma 6 Hào mạt Cơ thể Etheric - LƯới
VỀ CẶP HÀO 2 - 5 Theo suy nghỉ người xưa, cặp 2 - 5 là quan trọng nhất. Cặp này là tương ứng với cặp cơ thể Thiên - cơ thể Cảm xúc, tức là cặp cơ thể plasma Tiên thiên plasma Hậu thiên, không thuộc dạng lưới, nghĩa là thuộc "phần mềm" của nhân thể, do dạng lưới là "phần cứng". Nếu quả thực một tình hình song song như thế là có thực ; thì tại sao "phần mềm" trong nhân thể là quan trọng nhất, và quan trọng dưới những góc độ nào ? Sau này sẽ có dịp thấy rằng tình thương (love) - động lực của sự tiến hóa và hoàn thiện con người - chính là trụ tại hai cơ thể đó và cơ thể astrtal.