Tập V — Các hệ 64 Quẻ — cơ sở di truyền, Phong Thủy
Chương 62
Về phương hướng tìm cấu trúc bản thể – Mẫu nhân thể của Kinh Dịch
Chương 62 VỀ PHƯƠNG HƯỚNG TÌM CẤU TRÚC BẢN THỂ - MẪU NHÂN THỂ CỦA KINH DỊCH
Chúng ta bước sang nghiên cứu các định hướng về tính chân lý của các học thuyết - mô hình Triết cổ Đông phương, trước hết là hệ Văn Vương. Muốn thế, cẩn định hướng về Bản thể - genetic. Vì sao ? 1) Vì các nguyên lý của Triết cổ Đông phương đều hướng về Bản thể - genetic (Vũ trụ là MỘT, vạn vật đồng nhất thể, con Người là một Tiểu Vũ trụ, Dương xướng Âm họa..). 2) Vì mục tiêu của mọi khoa học nghiên cứu về các quá trình tiến hóa của sự sống là tìm cho ra quỹ đạo (dưới hình thức này hay khác), trong đó quỹ đạo của con Người là trung tâm. Chính vì thế mà cha ông chúng ta có tìm mọi cách xây dựng các loại quỹ đạo đó (Tử Vi, Độn Giáp, Thái Ất, Bát Tự Hà Lạc...). Nhưng theo chúng tôi, các mã chủ yếu nhất quy định quỹ đạo đó đã phần lớn nằm trong các thành phần vô hình của con người (cũng có thể cho đây là một giả thiết cơ bản nói chung, còn nói riêng thì điều này là hiển nhiên với Đông Y học, Thời Châm học, với học thuyết Độn Giáp thì điều đó đã được chứng minh một phần !). Thành thử, Kinh Dịch - với tính chất là khoa học về tiến hóa cao nhất của Triết cổ Đông phương - khi đã được giả thiết có chứa những nhân tố chủ yếu của loại quỹ đạo đó, phải có mối quan hệ hữu cơ với cấu trúc của các cơ thể vô hình của nhân thể. Về mặt toán học, hy vọng cao nhất về mối quan hệ này là tính cùng cấu trúc (đồng cấu). Các trình bày của chúng tôi trong các phần sau đều hướng về hy vọng đó.
CHỦ ĐỂ CÓ BẢN VỀ TÍNH CHÂN LÝ BÁN THẾ-GENETIC CỦA HỆ VĂN Vương : HỆ VĂN VƯƠNG PHẢI CHĂNG LÀ ĐỒNG CẤU VỚI CẤU TRÚC VÔ HÌNH CỦA NHÂN THỂ ?
Tiếp theo, vì con người là đối xứng với Vũ trụ, nên ở đây cấu trúc bản thể của con người cũng có quan hệ mật thiết với cấu trúc genetic.
Trước khi đi sâu vào vấn đề đang đặt ra, chúng ta hãy trở lại một tác giả nghiên cứu Kinh Dịch có quan điểm gần với chúng tôi là ông Lavier.
I - TƯ TƯỞNG CỦA LAVIER
Nhà nghiên cứu Dịch Lavier trong cuốn sách của ông : Le livre du Ciel et de la Terre, cuốn sách của Trời, Đất, đã cho rằng :
Hào 1 là thực thể của (nguyên) nhân, Hào 4 là thực thể của quả, Hào 2 là biểu hiện (manifestation) của nhân Hào 5 là biểu hiện của quả, Hào 3 là thực chất (essence) của nhân, Hào 6 là thực chất của quả.
Như thế quan điểm của Lavier, trọng tâm của mối quan hệ giữa Nội và Ngoại Quái là quan hệ nhân quả. Quan điểm này gần giống quan điểm Dương xướng Âm họa của Triết cổ Đông phương, hay là quan điểm về đối phần vô hình (contre-partie invisible) của nhân thể, khi nói đến khái niệm Tiên thiên, có liên quan đến Nội Quái.
Từ đó, có thể quan niệm một mối liên hệ sau :
1) Mối quan hệ giữa các hào trong Hệ Văn Vương : Từ tư tưởng về nhân quả giữa các hào của Lavier tiến sâu hơn đến mối quan hệ giữa các hào của các Quẻ của Kinh Dịch với các cơ thể vô hình của nhân thể. Đó chính là con đường hướng hệ Văn Vương về bản thể.
2) Ngoài ra, còn phải tính đến mối quan hệ giữa Nội Quái và Ngoại Quái nói chung. Chẳng hạn, với Quẻ số 5 Sơn Thủy Nhu, thì Nội Quái là Kiền, còn Ngoại Quái là Khảm. Kiền là cương kiện, Khảm là nguy hiểm. Kiền muốn tiến lên nhưng gặp hiểm, phải chờ đợi. Do đó Quẻ này là Quẻ Nhu, là chờ đợi.
Những suy nghĩ trên dẫn đến xu hướng sau về bản thể của hệ Văn Vương.
II - CÁCH HÌNH DUNG HỆ VĂN VƯƠNG THEO HÌNH ẢNH CỦA NHÂN THỂ
Chúng tôi - dựa vào những nhận định trên - đưa ra một cách hình dung như sau về các hào trong Kinh Dịch :
A-QUẺ NỘI BIỂU THỊ BÌNH DIỆN TIÊN THIÊN
Quẻ Nội biểu thị bình diện Tiên thiên với ba chức năng bản thể sau :
Hào thứ ba (hào mạt) biểu thị cơ thể Etheric mẫu (Tiên thiên).
Hào thứ hai (hào trung) biểu thị cơ thể Cảm giác cao cấp, trực giác, cảm hứng nghệ thuật (Tiên thiên)
Hào thứ nhất (hào sơ) biểu thị cơ thể Tâm thần cao cấp (Tiên thiên).
B - Quẻ NGOẠI BIỂU THỊ BÌNH DIỆN HẬU THIÊN
Quẻ Ngoại biểu thị bình diện Hậu thiên với các chức năng bản thể sau :
Hào thứ ba (hào mạt) biểu thị cơ thể Etheric (Hậu thiên).
Hào giữa (hào trung) biểu thị cơ thể Cảm xúc (Hậu thiên), Hào thứ nhất (hào sơ) biểu thị cơ thể Tâm thần (Hậu thiên).
c - CÁI GIAO TÂM - SINH - LÝ
Cạnh 6 sáu hào trên, cần ghi thêm cái "giao tâm-sinh-lý" giữa các Quẻ Nội và Ngoại, biểu thị các tính chất Trung gian.
Như thế, Kinh Dịch có thể hiểu như sau :
III - CẤU TRÚC BẢN THỂ CỦA DỊCH
A - CÁC HÀO XẾP THEO Bản THỂ
Quẻ Ngoại, các hào Hậu thiên
Hào Etheric (trên cùng), Hào Cảm giác (ở giữa), Hào Tâm thần (dưới cùng).
Phần Trung gian
Cái giao Tâm - Sinh - Lý giữa các Quẻ Nội Ngoại
Quẻ Nội, các hào Tiên thiên
Hào Etheric mẫu (trên cùng), Hào Cảm giác cao cấp (ở giữa), Hào Kethetic hay Tâm thần cao cấp (dưới cùng).
Quan hệ giữa các hào
Hào Ketheric đi đôi với hào Tâm thần (cặp 1-4 của cổ nhân), Hào Cảm giác cao cấp đi đôi với hào Cảm giác (cặp 2-5 của cổ nhân), Hào Etheric mẫu đi đôi với hào Etheric (cặp 3-6 của cổ nhân).
Cách bố trí này gần như quan điểm của Clavier, chẳng hạn trong nhân thể thì hào Etheric mẫu là nhân, còn hào Etheric là quả.
B - VỊ TRÍ Bản THỂ ÂM DƯƠNG CỦA CÁC HÀO
Bây giờ, chúng ta đi tìm vị trí Âm Dương - bản thể của các hào.
Trước hết là tìm các tính chất bản thể lưới hay bioplasma.
Sau đó là tìm các tính chất Âm Dương - bản thể của các không gian Tiên thiên và Hậu thiên.
Từ đó ta có thể có các định nghĩa - bản thể sau về vị trí Âm Dương :
Vị trí Dương :
a) Vị trí của các cơ thể lưới trong không gian Tiên thiên (không gian Âm của Barbara Ann Brennan)
b) Vị trí của các bioplasma trong không gian Hậu thiên (không gian Dương).
VỊ trí Âm :
c) Vị trí của các cơ thể bioplasma trong không gian Tiên thiên, d) VỊ trí của các lưới trong không gian Hậu thiên.
Từ các định nghĩa này, ta thu được tính Âm Dương - bản thể sau của các vị trí các hào như sau :
Quẻ Ngoại
Vị trí của hào mạt Etheric (hào 6) : vị trí Âm, Vị trí của hào trung Cảm giác (hào 5) : vị trí Dương, Vị trí của hào sơ Tâm thần (hào 4) : vị trí Ầm.
Quẻ Nội
Vị trí của hào mạt Etheric mẫu (hào 3) vị trí Dương, VỊ trí của hào trung Cảm giác cao cấp (hào 2) vị trí Âm, Vị trí của hào sơ Ketheric hay Tâm thần cao cấp (hào 1) vị trí Dương
QUẺ NỘI, NGOẠI HÀO CƠ THỂ VỊ TRÍ
VÔ HÌNH ÂM DƯƠNG
QUẺ NGOẠI - HẬU Âm 6 Hào Etheric
THIÊN 5 Hào Cảm xúc Dương Ầm 4 Hào Tâm thần
QUẺ NỘI - TIÊN 3 Hào Etheric mẫu Dương
THIÊN Âm 2 Hào Thiên 1 Hào Ketheric Dương
Cách định nghĩa này trùng với cách nhìn của cổ nhân.
THIỆN NHÂN BÌNH DIỆN HẬU THIÊN | Bình DIỆN TIÊN THIÊN KHÔNG GIAN Cộng hưởng harmonic KHÔNG GIAN DƯƠNG THI CÔNG THIẾT KẾ ÂM

Quẻ NGOẠI Quẻ NỘI
Có thể cơ thể Tâm thần 3 Ketheric 7 LƯỚI = Tri cộng hưởng LƯỚI = Tri =2 × 8 tuệ - harmonic huệ 22×8 TRÍ cơ thể Cơ thể Cảm xúc Cô thè har- Cảm hưng... Thiên 6 Cảm xúc 2 Cộng TTLý. Trương moric HaTLy *•• B LOPLASMA Astral 4 BLOPLASMA VÍA Tuyên Tuyên Ngoại Nội Cơ thể T Ha Cơ thể Etheric 1 _Cộng hưởng. Etheric mẫu 5 H harmonic Ta LƯỚI = LƯƠI = =2x8 = 2x8
PHÁCH Các cơ thể vô Các cơ thể vô hình Hậu Thiên hình Tiên Thiên
CƠ Thể Các cơ thể hưu hinh va vo VẬT LÝ hình không tách rời 2x8 nhau mã xen lẫn với nhau
ĐỊA
Hình 138 - SƠ ĐỒ MẪU NHÂN THỂ CỦA KINH DỊCH. CÁC CON ĐƯỜNG RA ĐI (ĐƯỜNG NGOẠI) ĐỂ TỤ VÀ TRỞ VỀ (ĐƯỜNG NỘI) ĐỂ TÁN CỦA LÃO TỬ
C - CÁC HỆ CON THIÊN - NHÂN CỦA KINH DỊCH Số hào thuộc hai phần Thiên, Nhân là như cũ, nghĩa là 30 hào đầu cho phần Thiên và 34 hào cuối cho phần Nhân, nhưng cần xem lại trình tự các Quẻ. Các Quẻ - nói chung - cần có trình tự như trong các Bát Quái đổ - Thiên Bàn, nếu không Kinh Dịch, với tư cách là lý thuyết hệ thống phổ quát, sẽ không được nhất quán với các học thuyết khác. Nhưng cũng có thể đặt vấn đề khác thế : Do tính chất đa tiêu chuẩn trong Triết cổ Đông phương, có thể quỹ đạo của Độn Giáp hay Thái Ất không thể được phản ánh đầy đủ trong Kinh Dịch. Vậy thì trong trường hợp này, phải có những tính toán nghiêm túc để chứng minh những "nhân nhượng" như thế.
IV - VỀ Ý NGHĨA BẢN THỂ CỦA CÁC HÀO. TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÁC CẬN KHOA HỌC Như vậy, chúng ta đã cố gắng xây dựng bước đầu tiên mẫu nhân thể của Kinh Dịch trước hết về hình thức. Vấn đề còn lại là tìm các định hướng về ý nghĩa và mối quan hệ Tâm - Sinh - Lý giữa các hào, và từ đó giữa các Quẻ. Nói chung, các Cận Khoa học trong Phần sau đây sẽ hy vọng mang cho chúng ta một số ít nhiều giải đáp sơ bộ đầu tiên của một bài toán cực kỳ khó khăn đến như thế..