Tập V — Các hệ 64 Quẻ — cơ sở di truyền, Phong Thủy
Chương 55
Phần loan đầu
PHẦN LOAN ĐẦU
TẦM LONG TRÓC MẠCH
Nguyên khí còn gọi là Long, Như đã nói trên đây, Long là một dạng Khí Tiên thiên, có tác dụng rất cơ bản đến sự sống các sinh vật.
Vấn để là tìm nơi tụ Long.
Để làm việc này cần tìm gốc của Long.
Trước hết Nguyên khí hay khí Thiên giáng từ Trời xuống các đỉnh núi cao theo hình xoán, như đỉnh núi Hymalaya, núi Tàn Viên, núi Tam Đảo...
Con Người có đầu và huyệt Bách Hội để nhận (hút) khí Thiên vào trong cơ thể mình, thì Quả Đất có những đỉnh núi cao cũng để nhận khí Thiên vào trong đất đai.
Nơi Long xuất phát gọi là Tổ Sơn, nơi Long kết thúc gọi là Minh Đường.
Long đi phải có nước đi theo, vỉ nước là môi trường hấp thụ Long (ở nhiều nước, các nhà khoa học có nghiên cứu các đặc tính của nước có Trường sinh học, tức là có Long. Nước có chứa Long có sức căng mặt ngoài tăng lên).
Ngoài TỔ Sơn, Long còn có thể có những xuất phát điểm khác gọi là Thiếu Sơn. Như với Nguyên khí - Long mang theo bởi dòng Cửu Long Giang thì Hymalaya là Tổ Sơn, còn dãy Trường Sơn là Thiếu Sơn. Như thế đất nước ta là một Minh Đường rộng lớn mà Nguyên khí được cung cấp bởi hai loại anten lớn là Hymalaya và dãy Tràng Sơn.
Nguyên khí này - bằng một cơ chế nào đó - được chuyển đến nhiều địa điểm khác nhau của đất nước ta như Chùa Dâu, Hồ Hoàn Kiếm, Thất Sơn, Yên Tử Sơn...
ĐIỂM HUYỆT
Các hình thể huyệt kết
Có bốn hình thể huyệt kết như sau :




Huyệt hình Kiếm Huyệt hình Nhũ Huyệt hình Đột Huyệt hình Oa
Huyệt hình Oa thì tròn, huyệt hình Kiếm thì dài, huyệt hình Nhũ thì tròn, còn huyệt hình Đột thì dài.
Các huyệt Oa và Kiểm thì phần nhiều ở chỗ có mạch sơn cước (ở núi đổi). Các huyệt Nhũ và Đột thường ở chỗ các mạch bình dương (ô những nơi có các độ cao chỗ thấp ít khác nhau, như ở các ruộng). Các huyệt trên còn gọi là kết Oa, kết Kiểm, kết Nhũ và kết Đột.
Huyệt ở chỗ quá cao thì sát, ở chỗ quá thấp thì yểu.
Nơi núi cao, cần điểm huyệt ở nơi vũng thấp, để tránh gió, do ỡ nơi cao gió sẽ tán khí.
Trái lại ở những nơi bình dương, cẩn điểm huyệt ở chỗ cao nhất, như tại các gò cao, để tránh thủy phá.
Nếu có sắc thổ đẹp, có cây lá xanh tươi thì việc điểm huyệt các nơi đó càng tốt.
Những nơi bằng phẳng, xung quanh có thành cao là nơi điểm huyệt tốt.
ở những núi đá không có huyệt. Nhưng nếu ở đó có chỗ vũng Oa thì nên điểm huyệt ở đó.
SƠN THỦY PHÁP
Sơn thủy pháp là cách xem tướng đất để biết về người có liên quan.
Sơn chủ người, thủy chủ tiền của.
Núi đầy đặn sẽ sinh người mập mạp, núi đơn bạc sẽ sinh người gầy ốm. Núi tinh sinh người tốt giỏi, núi ô trọc sinh người u mê.
Thủy tính thì sinh người thanh tú, thủy chảy xiết thì sinh người nghèo khó. Thủy dồn tụ thì sinh người giàu có.
Sơn lởm chởm là nơi có ác khí. Thủy chảy kêu réo là nơi hung.
Có sơn nhưng không có thủy gọi là có sơn. Có thủy nhưng không có sơn gọi là có thủy.
MINH ĐƯỜNG THỦY PHÁP
Chỗ nước tụ trước huyệt gọi là Minh Đường. Có thể có một hay nhiều Minh Đường. Minh Đường gần huyệt nhất gọi là Nội Đường, Minh Đường xa huyệt nhất gọi là Ngoại Đường, còn Minh Đường ở giữa gọi là Trung Đường.
Có Minh Đường mới có huyệt kết, nếu không thì sẽ không có huyệt kết.
Minh Đường ngay ngắn thì con cháu hiển tài. Minh Đường nghiêng lệch thì con cháu du đãng, nghèo khó.
Minh Đường có nước tự như nhà có chứa ngọc, còn Minh Đường có nước tiêu tan thì nhà tán tài, điều đáng sợ nhất là Minh Đường có thể cạn nước về mùa thu.
Minh Đường nằm nghiêng thì tuy làm quan được nhưng trước sau cũng bị cách hay thoái chức.
Minh Đường gần huyệt thì phát sớm. Minh Đường xa huyệt thì phát chậm.
Minh Đường nước trong thì sinh người thanh tú, Minh Đường nước đục thì sinh người ô trọc, dâm ô.
Minh Đường tụ nước bên trái thì trai trưởng phát trước, tụ bên phải thì trai thứ phát trước (còn nữ thì sao ?)
Nếu nước chảy từ Tây Bắc đến Đồng Nam, thì cần cho huyệt hướng về phía nước tới, tức là về phía Tây Bắc, để hứng được tất cả nước từ xa đến.
LONG HỔ PHÁP
Xung quanh huyệt, có thể có những giải đất bao bọc huyệt, bảo vệ huyệt nhử chân tay bảo vệ thân thể.
Giải bên trái gọi là Thanh Long hay Long, có nam tính.
Còn giải bên phải gọi là Bạch Hổ hay Hổ và có nữ tính (trai trái gái phải). Long cần phải dài, Hổ cần phải ngắn.
Long, Hồ có ảnh hưởng tốt hay xấu đến con cái. Chẳng hạn, Long chủ sinh con trai, văn quan, Hổ chủ sinh con gái, vũ tướng.
Nếu Long (nam) ôm lấy Hổ (nữ) thì địa thế này rất quý.
Còn nếu Hổ (nữ) ôm lấy Long (nam) thì địa thế không hoàn chỉnh.
Nhiều Long, nhiều Hổ thì phát nhiều đời. Đơn Long, đơn Hổ thì chỉ phát một đời.
Hồ từ bên phải đến, kéo dài quá bên trái là Hổ nghịch, Long từ bên trái, kéo dài quá bên phải là Long nghịch.
Điều kỵ nhất là Long quay lưng lại, còn Hổ thì lại vươn đầu lên, gia đình sẽ sinh nghịch nhân.
HUYỀN VŨ PHÁP
Huyền Vũ là núi, đồi ở đằng sau huyệt.
Huyền Vũ tròn hay vuông thì gia đình giàu có và thọ.
Kiêng kỵ : Huyền Vũ thấp mỏng, bị gió thổi. Huyền Vũ không được thô và lấn át huyệt.
(Châu Tước là các gò đống ở trước huyệt).
ÁN SƠN PHÁP
Án có nghĩa là một địa thế, dựng lên trước huyệt như một bàn giấy ngồi trước mặt người ngồi. Án không nên quá cao hoặc quá thấp. Huyệt gần án thì phát nhanh hơn là khi xa án.
Cổ nhân xem huyệt là chủ, án là khách, khách chủ tướng kính nhau mới tốt,
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẤT CẦN BIẾT
Đất màu sắc hồng hoàng, sáng tươi, mềm dẻo, nửa nạc, nửa mỡ thì tốt.
Đất đen, khô, rời vụn thì xấu, không có khí mạch.
Đất ngạnh, có đá cứng thì rất hung., V r
Nếu cả vùng đất đều bình thường như nhau, chỉ có một chỗ khác, mịn, tươi hơn, thì đó là đất tốt.
Đất khi khai huyệt có sính vật như rùa, cá - tinh túy của Thiên ĐỊa - là đất tốt.
Trái lại, đất có rắn, chuột, sâu bọ, kiến là đất xấu,
Sơ ĐỒ ĐỊA LINH NƯỚC VIỆT
Tổ SƠN : Hy Mã Lạp Sơn (Nguyên Khí đi theo sông Cửu Long).
THIẾU SƠN : Dãy Trường Sơn (Nguyên Khí đi theo sông Cửu Long).
ĐỊA LINH CHÍNH ĐỂ DựNG CÁC THỦ ĐÔ : Thăng Long (Rồng thăng), Cố Đô Huế.
MINH ĐƯỜNG : Biển Đông với chỗ Thủy Tụ của nó.
THANH LONG, BẠCH Hổ : Thanh Long và Bạch Hổ của Việt Nam là một số nước nằm trong biển Đông.
ÁN. Có người cho rằng án của Việt Nam chính là Phillippines (Nguyễn Việt Cường).
Một SỐ THẾ ĐẤT
TRÍCH TỪ SÁCH HỒNG vữ CẤM THƯ DỂ BẠN ĐỌC THỬ NGHIỆM VÀ ĐÁNH Giá
LỊCH Sử
(Trích trong sách Hồng Vũ Cấm Thư của Dương Quân Tùng, dịch giả : Nguyễn Văn Minh).
Hồi ấy, đương khi Hồng Vũ yến ẩm, các vương tước trong bảo điện nghe tiếng người Châu Bác - Đôi là ông Lý Bá Truyền tinh thông Địa Lý. vua liền mời ông vào bệ kiến. Vua dụ rằng :
"Ta nghe ngươi rất giỏi về môn Địa Lý, vậy ta mong ngươi hết sức giúp ta, chớ vì điều lợi nào mà đổi lòng".
Ông Lý Bá Truyền lạy tạ, thưa rằng :
"Thần là một người quê mùa ở đất Bác - Đôi, trước theo học ở Kinh Giang, một hôm vào chùa Hoa Kinh ở trên núi Đôi Châu, thấy có một quyển sách nhan đề là : Địa Lý Diệu Ngữ Thần Kinh,, thưa đây là do ý Trời xui khiến để giúp nhà vua :"
Lý Bá Truyền ở bên vua biên tập một cuốn sách bút ký bao la.
Vua lấy làm vừa ý, mới để mục rằng : Một thiên đại lục.
Xong phong cho Lý Bá Truyền là Tính An tiên sinh, cho cả mũ áo chức Ngự sử. Thời bây giờ thuộc niên hiệu Hồng Vũ, năm Canh Tý, tháng Thân, giờ Thìn.
Sơ ĐỒ PHONG THỦY VỀ HUYỆT
THANH LONG
(NÚI)
HUYỆT ÁN SA MINH
HUYỀN (NÚI) ĐƯỜNG (NÚI)
VŨ (ĐỐI, THỦY SON II ễ BI NÚI) LONG LONG
THIÊN NHÂN ĐỊA
BẠCH HỔ (NÚI)

Loại thứ' nhất
Các thế đất lành
CÁC THẾ ĐẤT PHÁT TRẠNG NGUYÊN, PHÁT GIÁP KHOA, CHÍNH KHOA, THẾ KHOA, KHOA DANH
Trước khi đi vào các thế đất cụ thể sau này, cần lưu ý đến một số điểm sau :
1. Các thế đất này là thế đất tự nhiên, được hình thành theo những quy luật Thiên - Địa nào đó. Nếu có thể cho phép đi xa hơn theo một kiểu ngoại suy nào đó từ nhân thể, thì Mặt Đất - cũng giống như hình thể con người - phải có những chỗ lồi, chỗ lõm, những chỗ "phát, nhận" năng lượng từ trong ra ngoài và từ ngoài vào trong... Các chỗ lổỉ chỗ lõm này phải tuân theo những quy luật xác định, nhằm bảo vệ, duy trì sự tồn tại của con người hay Quả Đất.
Ngày nay, một số thế đất tự nhiên đã bị san bằng - tại các thành thị chẳng hạn - và chủ yếu chỉ còn lại ở các vùng núi, cao nguyên, các vùng con người chưa hể đặt chân tới.
Tuy nhiên, con người trong thế kỷ sau sẽ trở lại với Thiên nhiên một phần nào, hạn chế phần nào sự phá phách Thiên nhiên của mình, và từ đó một phần nào sẽ sống trong cái bối cảnh Thiên nhiên sẵn có với các thế đất của nó.
Trước mắt, có thể quan sát các thế đất của tổ tiên nhiều đời. Theo thống kê của Pháp (Raymont Réant) thì hài cốt tổ tiên còn ảnh hưởng đến người sống trong 600 năm.
2. Trong phần tiếp theo sau đây, có một số thế đất có dạng đặc biệt, như dạng cái bút (cố đầu nhọn), cổ nhân xem đây là biểu tượng của khoa bảng, của sự thành đạt trong thi cử... Nếu đối chiếu với nền văn minh hiện đại, thì biểu tượng của khoa bảng không chỉ là cái bút kiểu xưa, mà còn phải là cái bút bi, hay... máy vi tính ! Thành thử cần hiểu các thế đất sau đây như thế nào, khi cố xuất hiện hình bút ? Để tôn trọng văn hóa truyền thống, chúng tôi vẫn giữ lại ý nghĩa biểu tượng khoa bảng của thế đất hình bút.
(Tác giả xin trân trọng cám ơn Anh Trần Xuân Hiến đã giúp đỡ tác giả trong việc dịch một số tư liệu từ tiếng Trung Hoa sang tiếng Việt).
Mũi nhọn của núi
Bề lồi của hình núi cong

Núi hình thẳng


ĐẤT PHÁT TRẠNG NGUYÊN 1
Thế Long trùng diệp sinh thế bút. Hai dòng nước bao án. Đằng sau lại có hai núi thành kim bảng. Long có dạng bút. Hồ nối đuôi. Non nước này trời dành cho kẻ có duyên.
thể núi (SA)
Phát Sóng Nguyên Khí theo mũi nhọn (hiệu ứng mũi nhọn) ?
Phát Sóng Nguyên Khí tương tự như trên tại chỗ cong ?
Hiệu úng màn chắn (hiện tượng phản xạ Sóng Nguyên Khí) ?

ĐẤT PHÁT TRẠNG NGUYÊN 2
Thế tụ Long phát khoa. Thế đất này có Thanh Long, Bạch Hồ rất đẹp. Phát vào các năm Bính Dần, Bính Thân, Bính Ngọ, Bính Thìn. Con.
trai 28 tuổi đỗ đại khoa.

ĐẤT PHÁT GIÁP KHOA 1
Bạch Hồ hình dặc dị, Thanh Long dáng khoan hòa. Núi bút làm án. Huyền Vũ gối dằng sau.
Các con trai trương, giữa và út đều phát. Muộn thì 27 tuổi. Sớm thì 18 tuổi

ĐẤT PHÁT GIÁP KHOA 3
Chánh án hình tam thai, như chữ nhất.
Đất phát quan Tam công, giàu sang có thừa. Con trai út phát phú quý, con trai giữa phát sang trọng.

ĐẤT PHÁT GIÁP KHOA 2
Mình dường rộng lớn, Huyền Vũ cao chót vót Long Hồ tương giao. Năm Mùi, tháng Tý, giờ Dần sinh được con trai có hai chân tròn trỉnh, phát quan sang phú quý

ĐẤT PHÁT GIÁP KHOA 4 Bạch HỔ rủ châu danh xuất sắc Thanh Long deo ẫn lộc hằng hà
Con trai lớn phát, con trai út phát, làm quan đến chức Thượng thư, có tài kinh bang tế thế.






ĐẤT PHÁT CHÍNH KHOA 3 ĐẤT PHÁT CHÍNH KHOA 2
Trùng Long, trùng bút Đôi nước giao nhau trước án. Sĩ hai vai. Ba núi chiếu chính diện dằng sau. Trùng huynh dệ.
Đất này phát cho,con trai trưởng và út. Đất này phát cho con trai trường và
Năm 19 tuổi hay 20 tuổi thì có chức út, những năm Tân Tị, Nhâm Thìn, Bính quan tước cao sáng, tiếng tăm lùng lẫy. Dần, Bính Ngọ, Nhâm Thân, Tân Mùi.


ĐẤT PHÁT CHÍNH KHOA s ĐẤT PHÁT CHÍNH KHOA 4 Rồng bao quanh. Rồng bao quanh sông nước, trai dại vượng. Năm 18 hoặc 20 tuổi, ba đời đều đỗ Đất này phát cho cả ba con trai trường, giữa và út. Năm 20, hoặc 25 đạt khoa danh. Trai gái đều phát. hoặc 27 tuổi cà ba anh em đều trúng đăng khoa.

ĐẤT PHÁT THỂ KHOA 1 ĐẤT PHÁT THỂ KHOA 2 Minh Đường tam phẩm ở dầm sâu. Đất bằng hai án Thanh Long núi bút Đất này chỉ phát cho con trai giữa và Đất này phát cho con trai trường, út, con trai út làm nên đến chức Tam cho châu út dòng dôi thế khoa công, phú quý vinh hoa.


ĐẤT PHÁT THẾ KHOA 3 ĐẤT PHÁT KHOA DANH Bút ngà sang ngang nước cuốn vòng Núi liên hoàn. Vòng nước bao quanh. Đất này phát đến ba đời cho các con Năm 20 tuổi thì văn hay chữ tốt. Năm trai trưởng, trai út. Năm 25 tuổi, 27 tuổi 40, 50 tuổi thì cà ba anh em đều thi đỗ làm quan đến chức Tam công. trúng đăng khoa.

ĐẤT PHÁT KHOA DANH
Thủy khẩu quanh ngang thế khoan Án trước loanh quanh thành chữ phẩm.
Đất này phát cho con trai út, có một đời làm quan tủ 18 tuổi.

ĐẤT PHÁT ĐỒNG KHOA 3
Trùng Long, trùng bút Liên Hồ liên châu. Đất này phát cho con các trai trưởng, út, làm quan tước lộc giàu sang, tiếng tăm lừng lẫy, mỗi ngày mỗi lên.

ĐẤT PHÁT ĐỒNG KHOA 1
Ngòi nước vòng quanh hữu tình Bút dằng trước.
Đất này phát cho con trai trưởng, út. Quan tước chỉ bình thường, không lên cao lắm.

ĐẤT PHÁT ĐỒNG KHOA 4
Bút trước dình Thủy xuất nghịch Thanh Long. Đất này phát cho con trai trưởng, đăng khoa vinh hiển, nhưng về sau lại bị đao kiếm mà chết.
Loại thứ hai
Các thế đất lành
ĐẤT PHÁT CỰ PHÚ

Kal (l
ĐẤT PHÁT CỰ PHÚ 1 ĐẤT PHÁT CỰ PHÚ 2 Thanh Long trùng diệp ngọn tròn. Bốn bề địa thế đều quay vào trong. Con cháu giàu mãi. Các con trai Huyệt kết bên trong Vinh hoa, phú trương, thứ đêu được sơ câu. Con gái quý lâu dài. Mọi người đều muốn đến sánh duyên với nhà giàu, vinh hoa. làm thân.

ĐẤT PHÁT CỰ PHÚ 3 ĐẤT PHÁT CỰ PHÚ 4 Thanh Long, Bạch Hồ đều mạnh. Thanh Long Bạch Hồ tương dương với nhau. Buôn bán được nhiều lời. Con gái, các Được phú quý. Các con trai trưởng và con trai trường và út đều giàu sang. út đều thịnh. Con gái thọ.


ĐẤT PHÁT CỰ PHÚ 5 ĐẤT PHÁT CỰ PHÚ 6 Có nước chảy vòng cánh cũng như cầu | Long Hồ có núi tròn bên ngoài như hạt vồng, chiếu vào huyệt. châu (Long Hồ liên châu) Giàu có phong lưu. Con trai được thọ. Ba ngành lớn nhỏ đều hưng vượng. Con gái có tài văn chương.

Đất PHÁT CỰ PHÚ 7 ĐẤT PHÁT CỰ PHÚ 8 Thanh Long hình núi nhọn như cái bút..Hồ thấp hơn Long nhiều nhịp cầu. Con trai có nhiều ruộng dất. Con gái Của nhà phong phú không ai sánh đủ ăn mặc. Của nhà vui vé, đầy hạnh kịp. Con trai giàu có vinh hiển. Con phúc gái có của giữ được lâu


ĐẤT PHÁT CỰ PHÚ 9 ĐẤT PHÁT CỰ PHÚ 10 Thanh Long trùng khởi (Thanh Long ba ¡Bạch Hồ trùng trùng (như trường hợp trên). từng, lại có ba núi tròn bên cạnh). Con trai tiến đạt vẻ vang. Con gái Các con trai thứ và út thi đỗ bàng giàu sang, vinh quang mỹ miều vàng. Ba vị mỹ nhân đều giàu sang
Loại thứ ba
Các thế đất dữ
Sau đây là một số thế đất dữ.
Nói chung, ít ai may mắn gặp được các thế đất lành, tốt, dẫn đến những thành đạt lớn trong cuộc sống : khoa bảng, giàu có.
Chúng ta thường gặp những thế đất bình thường hơn.
Tuy nhiên trong cái tương đối bình thường đó lại có thể gặp những thế đất dữ, như có Thanh Long mà không có Bạch Hổ hay ngược lại. Hay có những trường hợp chúng ta vô tình động chạm đến đền thờ, miếu mạo (động thổ)...
Và trong những hoàn cảnh này, một sự quan sát đơn giản cũng có thể cho phép kết luận, quyết định hay tránh được địa điểm chọn huyệt để táng, để khỏi phải vấp bao nhiều hậu quả đáng tiếc sau này (một loại khoa học thường thức khác ’).
Do đó, có thể nghĩ rằng những tri thức về đất dữ tiếp theo sau đây sẽ có khả năng mang lại cho bạn đọc một số điều bổ ích rất thiết thực.
MỘT THẾ ĐẤT THỔ TINH Án sơn năm ngọn quá gần. Huyền Vũ áp dằng sau. Giàu sang, nhưng mù lòa.
MỘT THẾ ĐẤT THỦY TINH Có thủy tinh sau huyệt. Thủy tinh sinh tai vạ cho người sống. nhiều người sống.

MỘT THẾ ĐẤT HÓA TINH Có ngọn lửa nhọn trong cung. Gia đình bị ôn dịch, trai gái chết mòn. góa bụa, cuộc đời cực khổ, khốn cùng.

MỘT THẾ ĐẤT MỘC TINH Mộc tinh dài, gây nguy vong.
người nối dõi.






TRÙNG HỒ HOÁN PHU ĐỒ
Trùng Bạch Nước chảy xuyên trong.
Con gái phải góa bụa, ba đời chồng mới thành gia thất.

THỦY XUYÊN ĐỒ
Nước xuyên Bạch Hồ
Con gái đam mê hoa nguyệt, may con trai giàu có, rùa được nhục này cho gia đình, nhưng phải bị mù.

LOAN CUNG BẪO NGOẠI Đổ
Vòng cung hướng ra bên ngoài và duôi Bạch Hổ có thanh thế. Con gái chỉ làm ăn phát đạt ỏ phương xa.
LONG PHI HỔ KHỨ ĐỒ
Rồng bay, Hồ chạy ly hương.
Con trai lưu tán bốn phương, đến nỗi trong nhà chẳng còn gì, phải đi ăn mày.

PHÚC CHƯỜNG ĐỒ TÀNG SƠN ĐẦU ĐỒ Long, Hồ như bàn tay lật úp là xấu. Thế đất không có Huyền Vũ, gọi là tàng sơn. Gia đình có nhiều bệnh kéo dài, con Thể gia đình không vũng, lộn xộn, chi trai con gái đều vất và. do thê thiếp nhiều lời.

BẠCH HỔ XẠ LONG ĐỒ THANH LONG PHẠM HỒ ĐỒ Bạch Hồ bắn sang Thanh Long. Thanh Long bắn sang Bạch Hổ. Phía con trai bị hại, làm ăn vất vả, Phía con gái không tốt, bệnh tật liên trong nhà luôn bệnh. miên, hầu khó qua khỏi.

TÁN THỦY ĐỒ ĐẤU TẢ ĐỒ Hai duôi Thanh Long và Bạch Hổ tán Minh Đường bị nước rót di quá mạnh. ra ngoài. Hai ngọn nước cũng chảy di. Người bị quá cô, mất của, chết người, Con gái lớn đầy lo âu, gia cảnh dễ con cháu góa bụa, tình cảnh nghèo phiêu lưu. nàn, khốn cực.

NGA ĐẦU ĐỊA ĐỔ NGƯU GIÁC ĐỊA ĐỒ Nga dầu là một loại ngậm nhấm. Thế đất có hình sừng trâu bị tên nhọn bắn vào. Cuộc sống gia đình vất và. Các con Nam nữ trong gia đình có nhiều điều trai gái chạy chọt khắp nơi, cũng khó khăn, tử thương vì đao kiếm. không có nơi nương tựa, gia đình quẫn bách.




THÂN Cư MỘC VỊ ĐỒ
Miếu thần ở phương Mộc.
Bị tuyệt tộc, Chết không ai biết, chỉ may được người con trai lớn, phú quý hiển vinh, do Bạch Hồ trông sang.
TAM TRỰC ĐỊA ĐỒ
Thế đất có ba dường thẳng chạy dài.
Con gái phải xa quê hương, các con trai trưởng và út lâm vào cảnh lưu lạc giang hồ.

THIÊN HUYỆT ĐỊA ĐỔ
Thanh Long và Bạch Hồ đều có hình dáng xiêu vẹo.
Không may gặp thầy địa lý không giỏi, làm hại cả con cháu, cà tiền tài.

ĐẠP THANH LONG ĐỊA ĐỒ
Phần mộ lập hướng bị dạp vào Thanh Long.
Các con trai trường và con út mất sớm, nhưng cháu đích tôn lại hiển đạt giàu sang.

BẠCH HỔ KHAI KHẨU Đổ
Bạch Hổ mở miệng thì hại người.
Dẫu chủ thể có trường thọ nhưng con cháu mất hết của cải, hằng năm bị trộm cướp, trâu bò tổn thất.

HÓA XÀ NHẬP NGUYỆT
Hỏa xà nhập nguyệt. VÌ hỏa xà nhập nguyệt nên gia đình sinh người chết non, luôn chịu tiếng mía mai.

MẠI ĐIỀN BÚT ĐỒ
Dầu Bạch Hồ nhọn như cái bút.
Bạch Hổ hại người, hại của, con cháu cơ hàn quanh năm, còn có cả nghề • hành khất.

HỮU HỔ VÔ LONG ĐỔ
Có Hồ nhưng không có Long. Con gái có vận mệnh khá, nhưng con trai trưởng mất sớm, con cháu người con trai luôn bệnh tật, nghĩa là phía con trai' hoàn toàn thất bại.

HỮU LONG VÔ HO ĐỒ
Có Hồ mà không có Long.
Con gái không con, chịu cảnh có hàn,