TH Tích hợp đa văn hóa Đông Tây

Tập V — Các hệ 64 Quẻ — cơ sở di truyền, Phong Thủy

Chương 45

Hệ 64 Quẻ Văn Vương. Cơ sở

Trang 626–636 của bản in·Xem ảnh quét
626HỆ 64 QUẺ

HỆ 64 QUẺ VĂN VƯƠNG, cơ SỞ

1 - CẤU TRÚC : NỘI QUÁI, NGOẠI QUÁI, VỊ TRÍ ÂM, DƯƠNG, HÀO Sơ, TRUNG, MẠT

Chúng ta biết rằng trong Bát Quái có 8 Quẻ là : Kiền, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Bây giờ chúng ta hãy kết hợp các Quẻ đó lại với nhau, chập đôi một. Chúng ta sẽ thu được tất cả là 8~ = 64 đối tượng gọi là Quái.

Các Quẻ trong Bát Quái gọi là Quẻ đơn, các Quái gọi là Quẻ kép, hay đơn giản là Quẻ. Mỗi Quái có 6 vạch gọi là ổ hào.

A-ĐỊNH NGHĨA.

Thuần Quái, Đơn Quái

Trong số 64 Quái đồ, có những Quái có hai phần giống nhau và những Quái có hai phần khác nhau. Loại thứ nhất gọi là Thuần Quái, gốm 8 phần tử. Loại thứ hai gọi là Quái không thuần. Còn các Quái của Bát Quái gọi là Đơn Quái.

Thuần Quải còn mang một loại tên riêng như sau :

Thuần Kiền : Kiền vi Thiên, Thuần Đoài : Đoài vi Trạch, Thuần Ly : Ly vi Hỏa, Thuần Chấn : Chấn vi Lôi, Thuần Tôn : Tôn vi Phong, Thuần Khảm : Khảm vi Thủy, Thuần Cấn : Cấn vi Sơn, Thuần Khôn : Khôn vi Địa.

Ngoại Quái, Nội Quái

Phần Dơn Quái đặt ở trên mỗi Quái 6 hào gọi là Ngoại Quái. Phần Đơn Quái đặt dưới gọi là Nội Quái.

Với hệ 64 Quẻ Tiên thiên (Hình 15), trong cách sắp xếp các Quẻ 6 hào. các Nội Quái đều như nhau, theo trình tự xác định : Khôn, Cấn, Khảm, Tốn, Chấn, Ly.

627TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Đoài và Kiến. Còn các Ngoại Quái thì theo trình tự xác định ngược lại : Kiến, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn.

Phần trên biểu thị phân ngọn, hiểu là giai đoạn cuối của quá trình. Phần dưới biểu thị phần gốc, hiểu là phần cơ bản của quá trình.

Các hào của các Quái được đánh số 1.2,3.4.5.6 từ dưới lẽn trên.

Hào thành, thịnh, suy hay sở, trung, mạt

Hào dưới cùng của Nội, Ngoại Quái gọi là hàn Thời thành, hay là hào Sơ (các hào 1,4), Hào giữa của Nội, Ngoại Quái gọi là hào Thời Thịnh, hay hào Trung (các hào 2,51, Hào trên cùng của Nội, Ngoại Quái gọi là hào Thời Suy, hay hào Ma((các hào 3.6).

Hào có vị trí Âm, Dương, hào chính, hào bất chính, hào cửu, hào lục

Các hào 1,3,5 gọi là hào có vị trí Dương, các hào 2,4,6 gọi là hào có vị trí Âm.

Một hào Dương (hay Âm) ở vị trí Dương (hay Âm) gọi là hào chính, Một hào Dương (hay Âm) ở vị trí Âm (hay Dương) gọi là hào bất chính, Hào có vị trí Dương còn gọi là hào Cửu, hào có vị trí Âm còn gọi là hào Lục.

B-CÁC MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC HÀO

Sáu hào trong mỗi Quái có những mối quan hệ như sau :

1. Mỗi hào ổ NỘI Quái đều kết hợp với một hào ở Ngoại Quái - Hào sơ 1 của Nội Quái kết hợp với hào sơ 4 của Ngoại Quái, tạo thành cặp 1-4, - Hào trung 2 của Nội Quái kết hợp với hào trung 5 của Ngoại Quái, tạo thành cặp 2-5, - Hào mạt 3 của Nội Quái kết hợp với hào mạt 6 của Ngoại quái, tạo thành cặp 3-6.

Trong 3 cặp trên, cổ nhân xem cặp 2-5 là quan trọng hơn cả.

Như đã thấy trước đây, quan hệ này cũng giống như quan hệ giữa các cơ thể vô hình của nhân thể. Sau này, chúng ta sẽ bàn rõ hơn vấn để này.

2' Quan hệ giữa các hào liên tiếp nhau

Các hào có thể kết hợp với nhau theo trình tự liên tiếp nhau, như

1-2, 2-3, 3-4, 4-5, 5-6, Trong số cặp này, cổ nhân xem cặp 4-5 là quan trọng hơn cả.

Tuy nhiên, mối quan hệ liên tiếp không được xem quan trọng bằng mối quan hệ sơ - sơ. trung - trung và mạt - mạt.

628HỆ 64 QUẺ

3. Quái chủ Âm hay chủ Dương

Trong mỗi Quái, nếu số hào Âm nhiều hơn số hào Dương thì Quái đồ mang tính Dương (nghĩa là tính của hào có số lượng ít nhất) hay là chủ Dương. Nếu số hào Dương nhiều hơn số hào Âm thì Quái đồ mang tính Âm hay chủ Âm.

Ví dụ : Quái Lôi có 5 hào Ẳm, 1 hào Dương. Đó là một Quái mang tính Dương hay chủ Dương.

C-CÁC HỆ PHỤC HY, HỆ VĂN VƯƠNG, HỆ HỖN THIÊN VÀ HỆ Y DỊCH LỤC KHÍ

CỔ nhân đã xếp 64 Quái theo nhiều trình tự khác nhau.

Hệ Tiên thiên

Vua Phục Hy (?) xếp các Quái theo một trình tự đối xứng cao độ (Hình 15) (tr. 64). Hệ thu được gọi là hệ Phục Hy (hệ Tiên thiên).

Hệ Hậu thiên

Vua Văn Vương lại xếp 64 Quái theo một trình tự kém đối xứng hơn (Hình 16)(tr. 65). Hệ thu được gọi là hệ Văn Vương (hệ Hậu thiên).

Trên thực tế, cũng như trong lý thuyết (giống như trong Vật lý học), các đối tượng mang tính đối xứng cao độ lại không phong phú bằng những đối tượng mang tính đối xứng thấp hơn. Ví dụ : Nhân thể sẽ kém phong phú nếu quả tim được đặt không phải một bên, mà ở tại chính giữa, hoặc nếu hai bán cầu não lại hoàn toàn giống như nhau.

Thành thử, hệ 64 Quái Văn Vương được nghiên cứu nhiều hơn, sâu hơn. Trên thực tế, hệ này liên quan khá nhiều đến cuộc sống "cõi Trần" của chúng ta.

Hệ Hỗn thiên và hệ Y Dịch Lục Khí

Ngoài ra, còn nhiều hệ khác gọi là hệ Hỗn nguyên, hệ Y Dịch Lục Khí mà chúng ta sẽ trình bày sau này.

II - MỘT SỐ NÉT VỀ NỘI DUNG HỆ VĂN VƯƠNG

A-VỀ NỘI DUNG CỦA TÁC PHẨM THẬP Dực

Trong Triết cổ Đông phương các hệ Văn Vương và hệ Hỗn thiên được các nhà nghiên cứu thế giới bàn khá nhiều. Trong phần này chúng tôi chỉ đề cập đến một số điểm có liên quan đến cấu trúc hệ thống của hệ Văn Vương.

Như chúng ta đã biết, đã ra đời một công trình chú giải về hệ Văn Vương, gọi là Thập Dực hay Thập truyện gồm các phần sau :

1) Phần Thoán Truyện, chia làm hai phần nhỏ :

- Phần Thiên, giải thích ý nghĩa 30 Quái đầu tiên, Phần Hạ giải thích ý nghĩa 34 Quái cuối..

629TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

2) Phần Tượng Truyện, cũng chia thành hai phần :

- Phần giải thích các Tượng của 30 Quái đầu, Phần giải thích các Tượng của 34 Quái cuối.

3) Phần Hệ Từ Truyện. Phần này chú trọng về hệ thống, tức là phần thuyết lý, tìm cách hệ thống hóa triết lý nằm trong Kinh Dịch, truy cứu căn nguyên của Dịch học, để suy luận về tác dụng của hệ thống đó. Phần này cũng chia thành hai phần con như trên.

4) Phần Văn Ngôn. Đây là những "lời nói văn hóa", chuyên giải thích chỉ hai Quái Kiển, Khôn.

5) Phần Thuyết Quái Truyện. Phần này bàn nhiều về cái gọi là 'Bói" dựa vào các Quái

6) Phần Tự Quái Truyện. Phần này là phần giải thích thứ tự các Quái.

7) Phần Tạp Quái Truyện. Phần này giải thích (linh tinh) về một số Quái.

Theo nhiều tác giả, về cấu trúc hệ Văn Vương, về sau đã có nhiều tác giả thêm, bớt, cho nên các phần trong Thập Truyện có giá trị không đều, tư tưởng không nhất trí, hơn nữa lại có nhiều chỗ tối nghĩa... (như ý kiến của tác giả Nguyễn Hiến Lê trong cuốn sách Kinh Dịch, Đạo của người quân tử của ông).

B-yỀ Ý KIẾN CÁC TÁC Giả NGUYỄN HIẾN LÊ XUNG QUANH Tự QUÁI TRUYỆN

Trong phần này, do nhằm xét tính hệ thống của hệ Văn Vương, chúng tôi chú trọng đến phần trình tự các Quẻ (hay Quái), tức là phần Tự Quái Truyện.

Vấn đề trình tự các Quái trong hệ Văn Vương đã hợp lý chưa ?

Để giải đáp, xin trích đăng ý kiến sau của tác giả Nguyễn Hiến Lê trong cuốn sách trên.

"Tự Quái Truyện, tuy ngắn, cũng chia thành hai Thiên : Thiên Thượng về 30 Quẻ đầu, và Thiên Hạ về 34 Quẻ sau. Sở dĩ chia như vậy vì Thiên Thượng mở đầu bằng hai Quẻ Kiền, Khôn, nói về Vũ trụ. Còn những luật trong Thiên Hạ thì bất đầu bằng hai Quẻ Hàm, Hằng nói về nhân sự và những gì xảy ra trong xã hội. Có Trời, Đất (Kiền, Khôn, tức là Vũ trụ) rồi sau mới có vạn vật, nam nữ, vợ chồng : Hàm, Hằng, cha con, vua tôi, lễ nghi... Đó là sự biến hóa tự nhiên trong Vũ trụ.

Nhưng sự thực trong Thiên Thượng lại có những Quẻ nói về nhân sự, như các Quẻ Tụng, Sư, Đồng Nhân, Cổ, Di, Phệ Hạp v.v... Và trong Thiên Hạ cũng có nhiều Quẻ nói về luật Vũ trụ như Tiệm, Tốn, ích, VỊ Tế v.v... Vậy thứ tự các Quẻ không phải luôn luôn có ý nghĩa rành mạch như ý muốn. Lại có khi có tác giả cố ý gò ép để cho có mối liên hệ về ý nghĩa giữa các Quẻ trước sau. Chẳng hạn là : "Có Trời, Đất - tức là Kiền, Khôn - rồi vạn vật mới sinh ra. Đầy trong khoảng Trời,

Đất là Vạn vật, cho nên tiếp tới Quẻ Truân, Truân là đẩy, Truân là lúc vạnvật
mới sinh ra. Vạn vật mới sinh ra thì còn non trẻ, mù mờ, cho nên tiếp tới làQuẻ
Mông, Mông là mù mờ, non trẻ. Mà vạn vật còn non trẻ thì phải nuôi, chonên

tiếp theo là Quẻ Nhu, Nhu là ăn uống. Mà ăn uống tất sẽ có kiện cáo, cho nên

630HỆ 64 QUẺ

tiếp theo là Quẻ Tụng, Tụng là kiện cáo. Mà kiện cáo thì tất nhiên phải có nhiều người đứng lên, nên tiếp theo là Quẻ Sư, Sư là quần chúng, là đông người, v.v..."

Cách giải thích trên, tác giả Nguyễn Hiến Lê biểu thị thái độ không đồng tính. Ông nói :

"Nhưng tại sao "ân uống tất có kiện cáo" ? Mà kiện cáo đâu có nghĩa là đông người như chiến tranh đình đám chẳng hạn ? Với sự giải thích này, không tránh khỏi thái độ kiên cưỡng".

"Lời giải thích về Quẻ Cấu cũng rất gượng ép. Quẻ trên nó là Quẻ Quải. Quải có nghĩa là quyết, phán quyết. Phán quyết xong mới biết lành hay dữ, tất có người mà gập gỡ (?). Cho nên người ta đã giải thích rằng, sau Quẻ Quải là Quẻ Cấu, Cấu là gặp gỡ (?)".

"Để giải thích, Tự Quái Truyện có khi dùng một nghĩa khác với nghĩa trong Thoán Từ và Hào Tự. Như với Quẻ Như, trong Tự Quái Truyện. Quẻ này được hiểu theo nghĩa là cần thiết thức ăn, để cho có một mối liên hệ với Quẻ Mông (nhỏ thở đứng trước nó : trẻ thơ cần được nuôi bằng thức ăn cần thiết. Nhưng trong Thoán Từ và Hào Từ thì Nhu lại có nghĩa là chờ đợi. Đối với Quẻ Tiểu Súc cũng vậy : Tự Quái Truyện dùng theo nghỉa Súc là nuôi. Mà Thoán Từ và Hào Từ thi cho Súc là ngăn cản. Với Quẻ Đại Súc, Hào Từ cũng cho Súc là ngăn cản, nhưng Thoán Từ lại cho Súc là súc tích”.

Như thế là - theo chúng tôi - có khả năng còn thiếu một cái gì logic (logic nội tại) ít nhất trong thứ tự các Quẻ của hệ Văn Vương. Cho nên cần có sự nghiên cứu nghiêm túc về mặt này

631TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Chu dịch Thượng kinh

1) Qué Kiền, Bát Thuần Kiền 2) Quẻ Khôn, Bát Thuần Khôn 3) Qué Truân, Thủy Lôi Truân 4) Quẻ Móng, Sơn Thủy Mông 5) Quẻ Nhu, Thủy Thiên Nhu 6) Quẻ Tụng, Thiên Thùy Tụng 7) Qué Su, Dịa Thủy Sư 8) Quẻ Tỳ. Thủy Địa Tỳ

10) Quẻ Lý, Thiên Thạch Lý 11) Qué Thái, Địa Thiên Thái 12) Quẻ BÍ, Thiên Địa Bĩ 13) Qué Đồng Nhân, Thiên Hỏa Đồng Nhân 14) Quẻ Đại Hữu, Hoa Thiên Đại Hữu 15) Quẻ Khiêm, Địa Sơn Khiêm 16) Qué Dụ, Lôi Địa Dự 17) Quẻ Tùy, Trạch Lôi Tùy 18) Quẻ Cổ, Lôi Phong Cổ 19) Quẻ Lâm, Địa Trạch Lâm 20) Quẻ Quán, Phong Địa Quán 21) Quẻ Phệ Hạp, Hỏa Lôi Phệ Hạp 22) Quẻ Bí, Sơn Hỏa Bí 23) Quẻ Bác. Địa Sơn Bác 24) Qué Phục, Địa Lôi Phục 25) Quẻ Vô Vọng, Thiên Lôi Vô Vọng 26) Quẻ Đại Súc, Sơn Thiên Đại Súc 27) Qué Di, Sơn Lôi Di

29) Quẻ Khảm, Bát Thuần Khảm 30) Quẻ Ly, Bát Thuần Ly

Trời Đất Đầy, Mới sinh Mờ mịt. Còn non Đạo ăn uống Kiện cáo Đông, Quần chúng Thân gần

Lễ phép Thông suốt Bế tắc Cùng người • Có nhiều Khiêm tốn Vui Theo Việc Lớn Xem Hợp lại Trang sức Bóc lột Trở lại Không càn, bậy Chứa chất Nuôi

Hãm Bám dính

632HỆ 64 QUẺ

Chu dịch Hạ kinh 31) Qué Hàm, Trạch Sơn Hàm Giao cảm 32) Qué Hằng, Lôi Phong Hằng Lâu dài 33) Quẻ Độn, Thiên Sơn Độn Lui đi 34) Quẻ Đại Tráng, Lôi Thiên Đại Tráng Lớn mạnh 35) Quẻ Tấn, Hỏa Địa Tấn Tiến dần 36) Quẻ Minh Di, Địa Hỏa Minh Di Tổn hại 37) Quẻ Gia Nhân, Phong Hỏa Gia Nhân | Người nhà 38) Quẻ Khuê, Hỏa Trạch Khuê Ngang trái 39) Quẻ Kiển, Thủy Sơn Kiển Tai nạn 40) Qué Giải, Lôi Thủy Giài Cỏi mở 41) Quẻ Tốn, Sơn Trạch Tốn Tổn thất 42) Quẻ Ích, Phong Lôi Ích Thêm vào 43) Quẻ Quải, Trạch Thiên Quải Quà quyết 44) Quẻ Cấu, Thiên Phong Cấu Gặp gỡ 45) Qué Tụy, Trạch Địa Tụy Tụ hợp 46) Quẻ Thắng, Địa Phong Thăng Lên 47) Quẻ Khốn, Trạch Thủy Khốn Khốn cùng 48) Qué Tinh, Thủy Phong Tỉnh Giếng 49) Quẻ Cách, Trạch Hỏa Cách Cài cách 50) Quẻ Dinh, Hỏa Phong Đỉnh Cái vạc 51) Quẻ Chấn, Bát Thuần Chấn Chấn động 52) Quẻ Cấn, Bát Thuần Cấn Ngăn chặn 53) Quẻ Tiệm, Phong Lôi Tiệm Tiến dần 54) Qué Quy Muội, Lôi Trạch Quy Muội Về nhà 55) Quẻ Phong, Lôi Hỏa Phong Lớn lên 56) Quẻ Lũ, Hoa Sơn LỮ Đi xa 57) Quẻ Tốn, Bát Thuần Tốn Vào 58) Quẻ Đoài, Bát Thuần Đoài Vui 59) Quẻ Hoán, Phong Thủy Hoán Lìa tan 60) Quẻ Tiết, Thủy Trạch Tiết Hạn chế 61) Quẻ Trung Phu, Phong Trạch Trung Phu Tin trong lòng 62) Quẻ Tiểu Quá, Lôi Sơn Tiểu Quá Nhỏ hơn 63) Quẻ Ký Tế, Thủy Hỏa Ký Tế Sự đã thành 64) Quẻ Vị Tế, Hỏa Thủy Vị Tế Việc chưa xong

633TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY
Ảnh quét trang 633
Ảnh quét trang 633 — Bảng trên trang này chưa dựng lại được chính xác theo cột, nên hiển thị nguyên ảnh quét để số liệu đọc đúng.
634HỆ 64 QUẺ

III - TINH HOA CỦA KINH DỊCH

Trong phần này chúng tôi chỉ nhắc đến các Tinh hoa của Kinh Dịch, có liên quan đến góc độ nghiên cứu theo phương pháp nghiên cứu cấu - trúc hệ thống của chúng tôi.

THIÊN NHÂN HỢP NHẤT, DƯƠNG XƯỚNG ÂM HỌA

Dịch học lấy Thiên Đạo đế hiểu Nhân Đạo, Đạo Người và Đạo Trời không rời nhau. Đó là nội dung của nguyên lý Thiên-Nhân hợp nhất, nhịp sống con người phải hòa theo nhịp sống của Thiên nhiên. Điểm này chúng ta đã nói nhiều lần, ở đây chỉ nhác lại.

Khái niệm Âm Dương là một "khái niệm mờ" Chủ nghĩa tất định phương Tây chỉ công nhận những "khái niệm rõ”. Vì thế. các nhà khoa học theo Duy lý tất định thực khó mà hiểu Dịch. Âm Dương tương sinh tương hóa, tương ứng tương cầu.

Nếu Âm Dương xung khác nhau theo chiều loại nhau thì đó là trạng thái Bỉ loạn. Bỉ loạn là quá trình đi từ Nhất nguyên đến Nhị nguyên, tách rời Âm Dương với nhau, rồi loại nhau.

Nếu Âm Dương giao hòa, hòa xướng với nhau thì đó là trạng thái Thái bình. Thái bình là quá trình đi từ Nhị nguyên trở về lại Nhất nguyên, từ Lưỡng Nghi trở về iại Thái Cực. Đó là con đường con người tìm cách sống hòa hợp với Thiên nhiên.

Trái lại, con người tưởng mình làm ông chủ của Thiên nhiên, với nguyên lý bài trung, đối lập với Thiên nhiên và cuối cùng phá hủy môi trường sống, đang diện đối diện với số phận của mình...

LUẬT PHẢN PHỤC, TUẦN HOÀN

Âm Dương thay phiên nhau trong quá trình tương giao, chẳng hạn Thịnh cực thì tất Suy, vật Cùng tắc Biến, mà Biến là Phản Phục.

Phản Phục là phục hồi lại Phản để khi Chính đề đến trạng thái cực (thái quá). Quá trình Phản của Dương là Phục lại Âm, và Phản của Ằm là Phục lại Dương. Hết Phục rồi Phản, hết Phản lại Phục, tạo nên cái tuần hoàn của mọi quá trình biến hóa (Dịch).

CỔ nhân đã có những câu sau :

"Đạo lớn là đi, đí là đi xa, đi ra là quay trở lại"

"Hết rồi thì phải bắt đầu trở lại, đó là sự vận hành của Trời"

"Không có cái gì có đi mà không trở lại"

"Dạo Phản Phục, bảy ngày lại trở về, đó là sự vận hành của Đạo Trời"

"Tiến rồi lui, lên rồi xuống... qua qua lại lại mãi mà không thôi"

"Người Quân tử lúc yên không quên lúc loạn”

"Họa là chỗ tựa của Phúc, Phúc là chỗ nấp của Họa"

"Trong cái còn, đã nằm sẵn cái mất"...

Chủ nghĩa Duy lý với nguyên lý bài trung làm sao chấp nhận nổi những chân lý này !

635TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

IV - PHƯƠNG PHÁP LUẬN TIẾP CẬN HỆ THốNG CỦA KINH DỊCH CÁC CẤU TRÚC CHỨC NĂNG, BẢN THỂ - GENETIC, VÀ LOGIC CỦA KINH DỊCH

Bây giờ ta nói đến phương pháp luận tiếp cận hệ thống của Kinh Dịch - Triết cổ Đông phương.

CẤU TRÚC CHỨC NĂNG

Rõ ràng những điều nói trên biểu thị CHỨC NĂNG PHÓ QUÁT HỆ THỐNG.

CẤU TRÚC BẨN THÊ-GENETIC

Về cấu trúc này. chúng tôi sẽ dành cho một số chương sau. Cần lưu ý đặc biệt rằng nếu các hệ thống đã mang được cấu trúc bản thể thì chúng đồng thời cũng mang được cả cấu trúc genetic và logic rồi, do bản thể tính đã bao hàm cả tính genetic, cà tính logic.

Chẳng hạn chúng ta có các biểu hiện sau của cấu trúc genetic :

NHỮNG VÍ DỤ VỀ CẤU TRÚC GENETIC THIÊN - ĐỊA - NHÂN

Tiên thiên Hậu thiên

Không gian Âm Không gian Dương

Âm họa Dương xướng

Âm Hình Dương Tượng

Các Cơ thể vô hình khác Cơ thể Ketheric mẫu s> hay Tâm thần cao cấp Cơ thể Tâm thần

Cơ thể Cảm xúc cao cấp => Cơ thể cảm xúc

Có thể Etheric mẫu Cơ thể Etheric => Cơ thể hữu hình

Điều khiển mọi tiềm năng Mệnh Môn Hỏa => năng lượng và nhiệt lượng trong toàn bộ cơ thể.

Nếu không mang tính genetic và tính logic, Bản thể không tồn tại được ; Cái gì đã tồn tại - dù ở cỗi hữu hình hay vô hình - ất phải có các cấu trúc genetic và logic. dù chúng ta hiện nay chưa đủ sức phát hiện được.

636HỆ 64 QUẺ

CẤU TRÚC LOGIC

Về mặt cấu trúc logic, thì các hệ 8 Quái và 64 Tiên thiên - Hậu thiên, hệ Hỗn thiên phải :

- Tuân thủ các nguyên lý cơ bản của Triết cổ Đông phương, như tính Một, tính Sinh Khắc... xem là những xuất phát điểm.

- Mặt khác, các hệ đó phải chứa các tiền để của các hệ con nằm trong đó, do tính logic - genetic, - Mặt khác, do mang tính chất một khoa học tiên để, học thuyết vì đại Triết cổ Đông phương này mang được tính logic toán học (từ các hệ phương trình giải ra được các tính chất Âm - Dương, Sinh - Khác, ổn định, thích nghi...).

Nguyễn Hoàng Phương, Tích hợp đa văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1996. Bản số hóa từ ảnh quét; văn bản do OCR nên có thể còn sai sót — bấm vào số trang trong bài để đối chiếu ảnh quét nguyên bản.

Trong mục này