TH Tích hợp đa văn hóa Đông Tây

Tập III — Cơ sở Độn Giáp — học thuyết dự báo chung về môi trường cho cá nhân

Chương 26

Cách xem mệnh trong học thuyết Độn Giáp

Trang 398–411 của bản in·Xem ảnh quét
398NHÂN THỂ ĐỘN GIÁP

CÁCH XEM MỆNH TRONG HỌC THUYẾT ĐỘN GIÁP

Theo nhiều văn bản Triết cổ Đông phương, con người có Mệnh. Như đã phân tích trong phần Mở đầu, sự tồn tại của Mệnh là hệ quả tất yếu của quan điểm Vũ Trụ là Một. Khái niệm Mệnh cũng nằm ngay cả trong Y học cổ Đông phương với quan điểm Y - Lý - Số.

Trong phần này, chúng ta hãy xem cổ nhân đã dùng những thuật toán gì để tính Mệnh cho cá nhân. Và hơn nữa, xác định ý nghĩa của các yếu tố của thuật toán có liên quan đến Mệnh.

I - HỆ SAO BÁT TƯỚNG

CÁCH AN CÁC SAO BÁT TƯỚNG

Khái niệm đầu tiên ở đây là một hệ yếu tố, gọi là hệ Sao Bát Tướng, gồm các Sao theo trình tự sau :

DƯƠNG ĐỘN. HỆ A ÂM ĐỘN. HỆ B

1. Trực Phù 1. Trực Phù

2. Đằng Xà 2. Cửu Thiên

3. Thái Âm 3. Cửu Địa

4. Lục Hợp 4. Châu Tước

5. Câu Trần (Huyền Vũ)

(Bạch HỔ) 5. Câu Trần

6. Châu Tước (Bạch HỔ)

(Huyền Vũ) 6. Lục Hợp

7. Cửu Địa 7. Thái Âm

8. Cửu Thiên 8. Đằng Xà

399TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Cách an các Sao Bát Tướng vào hình vuông Sao Thổ như sau :

- Trước hết, hãy tìm công thức Độn Giáp (hay phương trình thức) dưới dạng

(Thiên Tinh/P) X (Địa Môn/S)

- Sau đó lập hình vuông Sao Thổ, trong đó có ghi các Địa Môn tương ứng của Độn Giáp.

- Tiếp theo, cách an các Sao Bát Tướng dựa vào giá trị của p, theo thuật toán sau :

a) Nếu là Dương Độn thì an Sao Trực Phù vào ô của hình vuông Sao Thổ có giá trị bằng p. Sau đó an các Sao Bát Tướng khác theo trình tự của hệ A, theo chiều kim đổng hồ.

b) Nếu là Âm Độn thì cũng tiến hành như thế theo chiếu kim đồng hồ, với trình tự của hệ B.

Ví dụ.

1. Giả sử p =7, Dương Độn, ta có kết quả an các Sao Bát Tướng sau :

Huyền Vũ, Châu TƯỚC Cửu Địa Cửu Thiên

ĐỔ CẢNH TỬ

4 9 2

Bạch Hồ, Câu Trần Thiên Tinh/7, p = 7

TRUNG CUNG Trực Phù

THƯƠNG KINH 5

3 7

Thái Âm Đằng Xà Lục Hợp

SINH HƯU KHAI

2. Giả sử p = 1, Âm Độn. Ta có kết quả sau :

Huyền Vũ, Châu Tước Câu Trần, Bạch Hồ Lục Hợp

ĐỐ CẢNH Tử

4 9 2

Thái Âm Cửu Địa TRUNG CUNG

THƯƠNG KINH 5

3 7

Cửu Thiên Đằng Xà Thiên Tinh/1, p = 1

Trực Phù

SINH HƯU KHAI

8 1 6

400NHÂN THỂ - ĐỘN GIÁP

TÌM BẢN MỆNH, LỤC THÂN THEO NĂM SINH Bản mệnh Bản mệnh phụ thuộc vào Can năm sinh theo Bảng sau

Can  năm    sinh        Giáp,          Ất             Bính,               Đinh                    Mậu,                      Kỷ                         Canh,                            Tân                              Nhâm,                                 Quý

BẢN MỆNH MỘC HỎA THỔ KIM THỦY

Ví dụ, nếu sinh vào năm Đinh Mão, thì bản mệnh là Âm Hỏa, do Đinh là Can Âm. Nếu sinh vào năm Mậu Thìn, thì bản mệnh là Dương Thổ, do Mậu là Can Dương. Ngũ Hành và Lục Thân 1) Hành của bản mệnh tính theo Can năm sinh (như đã nói ở trên), 2) Phụ Mẫu thuộc Hành sanh ra Hành của bản mệnh, 3) Tử Tôn thuộc Hành do Hành bản mệnh sinh ra, 4) Huynh Đệ thuộc cùng Hành với bản mệnh, 5) Quan Quý thuộc Hành khắc Hành bản mệnh, 6) Thể Tài thuộc Hành bị Hành bản mệnh khắc.

Ví dụ. • Bản mệnh Phụ Mẫu Tử Tôn Huynh Đệ Quan Quỷ Thể Tài Hóa Mộc Thổ Hỏa Thủy Kim

Cách an các Mệnh vào Bát Quái đồ Ta biết rằng trong Bát Quái Đồ có xác định vị trí các Hành Dương Hỏa, Âm Thổ, Dương Thổ, Âm Kim, Dương Kim, Âm Mộc, Dương Mộc, Âm Thủy. Từ đó, theo Bảng trên, dựa vào tính Ngũ Hành của Lục Thân, ta có thể an Lục Thân vào Bát Quái Đồ một cách xác định.

Chú ý. Trừ trường hợp Âm Thủy và Dương Hỏa, các Can đều phân thành Can Âm và Can Dương như đã biết. Nếu bản mệnh thuộc Can Âm (Dương) thì Lục Thân an vào các Can Âm (Dương). Trong ví dụ trên, do bản mệnh thuộc Can Âm, nên Tử Tôn an vào cung Âm Thổ, Phụ Mẫu an vào cung Âm Mộc, Thể Tài an vào cung Âm Kim

401TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Âm Mộc Âm Thổ Dương Hỏa

PHỤ MẪU Tử TÔN BẤN MỆNH

ĐỔ CẢNH Tử

Âm Kim Dương Mộc

THÊ TÀI TRUNG CUNG

THƯƠNG KINH 5

7 3 1

Âm Thủy Dương Thổ Dương Kim

QUAN QUÝ

SANH HƯU KHAI

Vận dụng Độn Giáp vào cách xem Mệnh

Sau khi an xong Lục Thân, chỉ còn việc là tÌm công thức Độn Giáp của ngày, giờ sinh, để xác định giá trị của p, từ đó an Bát Tướng, theo quy tắc đã nói -ở trên.

Ví dụ : Chủ thể sinh vào giờ Mão, ngày 27-3 năm 1927, Đinh Mão.

Mệnh là Âm Hỏa, Lục Thân quan hệ với các Địa Môn như sau

Bản mệnh Tử Tôn Huynh Đệ Quan Quý Thể Tài Phụ Mẫu

Âm Thổ Dương Hỏa Âm Thủy Âm Kim Âm Hỏa Âm Mộc

Cảnh 9 Tử 2 Cảnh 9 Hưu 1 Kinh 7 Đổ 4

. Tiếp theo, ta biết rằng Xuân Phân bắt đầu từ ngày (Dương) 21-3. Như thế, ngày 27-3 thuộc Trung Nguyên của Xuân Phân, với mã số m = 9, Dương Độn. Giờ sinh Mão thuộc ngày thứ hai của Trung Nguyên đó, vậy N = 12 + 4 = 16. Theo Bảng Độn Giáp, ta được

mo = 9, Tr = 1 = (Bồng, Hưu}, p = 1, s = 6.

(Bổng/1) X (Hưu/6).

Như thế là an Trực phù Dương Độn vào Cửa Hưu. Cung này là cung của bản mệnh. Kết quả cuối cùng như sau :

402NHÂN THỂ - ĐỘN GIÁP

NĂM ĐINH MÃO, NGÀY 27 - 3, DƯƠNG, GIỜ MÃO

Âm Thổ Âm Mộ.c Dương Hỏa Tử TÔN BẢN MỆNH PHỤ MAU

Bạch Hổ Châu Tước Lục Hợp ĐỔ TỬ CẢNH 9 4 2

Âm Kim Dương Mộc Thái Âm TRUNG CUNG Cửu Địa THÊ Tài 5

THƯƠNG KINH

7 3

Âm Thủy Dương Thổ Dương Kim

Đằng Xà Trực Phù Cửu Thiên

QUÁN QUÝ

SANH HƯU KHAI

Bây giờ giả sử rằng có một người khác đẻ giờ Dần cùng ngày, cùng tháng và năm như nhân vật trên.

Trong trường hợp này, 'ta có

mo = 9, Tr = 1 = ({Bồng, Hưu}, p = 9, s = 5, (Bồng/9) X (Hưu/5) N = 12 + 3 = 15,

và Bảng sau

NĂM ĐINH MÃO, NGÀY 27 - 3, DƯƠNG, GIỜ DẦN

Âm Mộc Âm Thổ Dương Hỏa PHỤ MẪU Tử TÔN Bản MỆNH

Đằng, xà Trực phù Cửu thiên

ĐỐ CẢNH Tư 4 2 9

Âm Kim Dương Mộc

Thái Âm Cửu địa TRUNG CUNG THÊ TÀI 5 THƯƠNG KINH 7 3

Âm Thủy Dương Thổ Dương Kim

Châu thước Bạch hồ Lục hợp QUẢN QUÝ

SANH KHAI HƯU 8 1 6

Còn nếu có một người thứ ba đẻ vào ranh giới giữa giờ Dần và giờ Mão, thì "tùy cơ ứng biến”.

403TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Ý NGHĨA CỦA BÁT TƯỚNG

Trực Phù

Trực Phù là quý thần. Nếu bản mệnh gia vào Trực Phù, thì sẽ được giàu sang, phú quý, và được mọi người kính phục. Người có Trực Phù thủ mệnh thì có tính tinh nhân hậu, ôn hòa, ngay thẳng, không biết làm điều ác, làm việc có thủy cố chung.

Dẳng Xã

Đằng Xà gia vào bản mệnh trỏ người có tính kỳ quái, thâm trầm, nham hiểm, nối năng không thực, làm việc khi thành khi bại.

Thái Âm

Thái Âm gia vào bản mệnh trỏ người trung trực, nhưng rất đa mưu túc trí, tính tình ngay thẳng, liêm khiết, cương nhu đúng lúc, tiến thoái tùy thời.

Lục Hợp

Lục Hợp gia vào bản mệnh trỏ người ngoài mặt thì khoan hòa, nhưng trong lòng không dứt khoát, lúc thiện, lúc ác, không có chủ định. Đàn bà thì dâm loạn khủng khiếp.

Bạch Hổ

Bạch Hổ gia vào bản mệnh trỏ người thô bạo, nóng tính, thích đấu tranh, sát phạt, có đường đời hay gặp những điều thương tổn, tai nạn. Đàn bà thì không tốt về thai sản.

Huyền Vũ

Huyền Vũ gia bản mệnh trỏ người gian nham hiểm, thường là trộm cướp, đạo tặc, thích phá phách, gây tai nạn cho người khác.

Cửu Thiên

Cửu Thiên gia bản mệnh trỏ người nóng tính, cương trực đến lạnh lùng, không có tình cảm, nhưng rất vô tư, có đường đời nghèo nhưng trọng nghĩa.

Cửu Địa

Cửu Địa gia bản mệnh trỏ người u mê, ngu tối, hay tin người khác, hay làm điều ác.

BÁT TƯỚNG GIA VÀO CÁC CUNG KHÁC

Trực Phù

Trực Phù là quý thần, nên khi nó.gia vào cung nào thì cung ấy tốt. Nói riêng khi Trực Phù gia vào cung Phụ Mẫu, Tử Tôn, Huynh Đệ thì trỏ sự giàu sang.

Đằng Xã, Bạch Hổ

Chủ về bệnh tật.

404NHÂN THỂ - ĐỘN GIÁP

Thái Âm

Thái Âm gia vào cung nào, thì cung ấy tốt.

Lục Hợp

Lục Hợp chủ về sự hòa thuận.

Nhưng khi cung Thể Tài gặp Lục Hợp thì trỏ điều không tốt, vì trong trường hợp này sẽ có hiện tượng dâm loạn, gây nhiều tai tiếng xấu.

Huyền Vũ

Huyền Vũ chủ về đạo tặc.

Nhưng khi Huyền Vũ gia vào cung Quan Quý, Thể Tài, thì nó trỏ tình huống ít bệnh tật, và khả năng kiếm được nhiều tiền bạc.

Cửu ĐỊa

Cửu Địa trỏ sự u tối. Nếu Cửu Địa gia vào cung Quan Quý thì nó trỏ tình trạng ốm đau, chết chóc.

Nhưng khi Cửu Địa gia vào cung Thể Tài đó sẽ là tỉnh huống có nhiều tiền bạc, gặp cướp cũng không mất.

Cửu Thiên

Cửu Thiên chủ về cương liệt, sự mạnh dạn. Khi Cửu Thiên gia vào cung Quan Quý thì đó là tình huống có dự thăng quan, tiến chức.

Ý NGHĨA LỤC THÂN GIA VÀO CÁC ĐỊA MÔN

Hưu môn - 1

Hưu môn chủ sự hòa thuận, sự yễn ổn

Phụ Mẫu lâm vào Hưu môn thì trên thuận dưới hòa, con cái có hiếu với cha mẹ. Cha mẹ được phụng dưỡng đẩy đủ.

Huynh Đệ lâm Hưu môn thì anh em hòa thuận thương yêu nhau và thành thực giúp đỡ nhau, không cạnh tranh lẫn nhau.

Tử Tôn lâm Hưu thì giữ được tổ nghiệp và của cải của ông cha.

Quan Lộc lâm Hưu môn thì công danh điều hòa, không bị thăng giáng.

Tật bệnh phùng Hưu môn thì bị ác bệnh về Âm huyết, nếu đang đau thì bệnh lại tăng thêm dây dưa không khỏi.

Thể Thiếp lâm Hưu môn, thì vợ và thê thiếp trung thành, hòa thuận, không phản bội chồng và hết lòng giúp đỡ chồng trong mọi việc một cách kín đáo.

Sinh môn - s

Sinh Mổn chủ sự an nhàn vui vẻ.

Phụ Mẫu lâm Sinh môn thì cha mẹ được an nhàn, giàu sang, phú quý, sung sương trọn đời.

405TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Huynh Đệ lâm Sinh môn thì anh em hòa thuận, trên kính dưới nhường một cách chân thật.

Tử Tôn lâm Sinh môn thì con cái khá giả, học hành tấn tới, nghĩa cao đức hậu.

Quan Lộc lâm Sinh môn thì quan chức được tăng tiến đều đều, không gặp những trắc trở thăng giáng bất thường.

Tật Bệnh lâm Sinh môn thì thân thể cường tráng, ít bệnh tật.

Thể Thiếp lâm Sinh môn thì vợ là người trinh tiết, biết chiểu chồng nuôi con.

Tài Bạch lâm Sinh môn thì làm ăn phát đạt, giàu có.

Thương môn - 3

Chủ về phong cách mạnh mẽ trong đấu tranh, chấn động thương tần.

Phụ Mẫu lâm Thương mồn thì tàn nhẫn, cô độc ích kỷ.

Huynh Đệ lâm Thương môn, thì anh em bất hòa, không tình không nghỉa với nhau, như người dưng.

Tử Tức lâm Thương môn thì con cháu được hưng vượn, đẹp đẽ, khôi ngô, có sư nghiệp hiển hách làm chấn động Thiên hạ, làm rạng rỡ tổ tông.

Quan Lộc lâm Thương môn thì có nhiều hiển hách, uy quyền, nhưng trong đường đời hay gặp nhiều nỗi khó khăn, phải đấu tranh thật mãnh liệt.

Tật Nguy lâm Thương môn thì tay chân hay bị đau nhức.

Thể Thiếp lâm Thương mồn, thì vợ con khôn khéo, biết tề gia nội trợ, biết’giử danh tiếng và gia phong nhà chồng, biết buôn bán tần tảo.

Tài Bạch lâm Thương môn thì cồng việc làm ăn buồn bán gặp nhiều khó khăn, tiền bạc tụ tán thất thường, qua nhiều đắng cay mới thành nghiệp.

ĐỔ môn - 4.

Đổ môn chủ về sự bế tắc, đổ vỡ.

Phụ Mẫu lâm Đổ môn thì cha mẹ sống vất vả, qua tù ngục mới giữ được nhà vườn.

Huynh Đệ lâm Đổ môn thì anh em cố chấp nhau, không hòa thuận với nhau, ly tán mỗi người ở một nơi, Ít khi gặp nhau.

Tử Tôn lâm Đổ môn thì hiếm, muộn, sinh con khó nuôi và có âm đức kém.

Quan Lộc lâm Đổ môn thì đường công danh lận đận, công việc ít được hanh thông.

Tật Bệnh lâm Đổ môn thì ít bệnh nguy hiểm, nhưng phải đề phòng các bệnh cũ nổi lên lại.

Thể Thiếp lâm Đổ môn thì vợ con bất hòa, trong nhà thiếu hòa khí, lủng củng làm ăn không tiến phát.

Tài Bạch lâm Đổ môn thì tiền bạc không được dồi dào. Lúc thiếu thời thì nghèo nàn, khi về già mới khá giả.

Tử môn - 2

Chủ về chết chóc, bụi vong, gãy đổ, làm trăm lần cũng không thành.

406NHÂN THỂ - ĐỘN GIÁP

Phụ Mẫu lâm Tử môn thì cha mẹ bị bệnh khó chữa, nằm liệt giường, liệt chiếu cho đến khi chết.

Huynh Đệ lâm Tử môn thì anh em bất hòa, không nhận nhau, xem nhau như người ngoài.

Tử Tôn lâm Tử môn thì con cái khó dạy, có cũng như không.

Quan Lộc lâm Tử môn thì công danh trắc trở, phải làm những việc không được vừa ý hay chỉ làm các nghề bằng chân tay.

Tật Bệnh lâm Tử môn thì hay mắc những bệnh khó chữa, sau phải quyên sinh.

Thể Thiếp lâm Tử môn thì vợ chồng không sống với nhau trọn đời, nửa đường đứt gánh, phải lấy lần thứ hai mới yên thân.

Tài Bạch phùng Tử môn thì khó kiếm tiền, tiền nong tụ tán thất thường và hay bị mất mát.

Kỉnh môn - 7

Kinh môn chủ về sự khủng hoảng.

Phụ Mẫu lâm Kinh môn thì cha mẹ bị nhiều người oán ghét. Cha mẹ bất hòa với nhau và không hợp tính tỉnh với con cái.

Huynh Đệ lâm Kinh môn thì anh em bất hòa với nhau, đố kỵ lẫn nhau.

Tử tôn Lâm Kinh môn, thì con cái tuy khá giả nhưng lại thiếu đức, kiêu càng, khoe khoang, ăn chơi đàng điếm.

Quan Lộc lâm Kinh môn thì tuy có công danh, nhưng thường phải làm việc tại các nơi nguy hiểm, thăng giáng bất thường, có lúc bị sa thải.

Tật bệnh lâm Kinh môn thì chủ thể hay gặp những bệnh nguy hiểm.

Thể Thiếp lâm Kinh môn thì vợ chồng bất hòa với nhau, ông ăn chả bà ăn nem, trong nhà luôn luôn có tiếng thị phi, thiếu hòa khí.

Tai Bạch lâm Kinh môn thì khó kiếm tiển, vào ít ra nhiều.

Khai Môn - 6

Khai môn chủ sự súng sủa, cởi mở.

Phụ Mẫu lâm Khai môn, thì cha mẹ không thành thật với nhau, cư xử với nhau chỉ có bế ngoài.

Huynh Đệ lâm Khai môn thì tuy bên trong bất hòa, nhưng bên ngoài thì hòa thuận với nhau.

Tử Tôn lâm Khai môn thì con cái thông minh, tuấn tú, học hành tấn tới, thi đâu đỗ đó, được quan cao, chức trọng.

Quan Lộc lâm Khai môn thì công danh hiển hách, sự nghiệp vững bến.

Tật Bệnh lâm Khai môn thì ít bệnh, mạnh khỏe, không gặp nguy hiểm hay bệnh khó chữa.

Thể Thiếp lâm Khai môn thì vợ trình tiết, đảm đang việc nội trợ, chiếu chồng và khéo nuôi con.

407TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Tài Bạch lâm Khai môn thì tiền tài khó kiếm, tán tụ thất thường.

Cảnh môn - 9

Chủ những chuyện hư hao to lớn, không có chỗ cứu giúp. Phụ mẫu lâm Cảnh môn thì có bề ngoài phù phiếm, giả dối với nhau.

Huynh Đệ lâm Cảnh môn thì vô tỉnh, thiếu nghĩa.

Tử Tôn lâm Cảnh môn thì sình khó.

Quan Lộc phùng Cảnh môn thì lúc thiếu thời được thăng chức nhanh chóng, nhưng tự nhiên lại tụt xuống nhanh. Tật Bệnh phùng Cảnh môn thì bị phong hỏa bạo chướng,, di dịch đi thì hết.

Thể Thiếp lâm Cảnh môn thì vợ thông minh, có trí tuệ, tâm tính trái với bên ngoài.

Tài Bạch lâm Cảnh môn thì làm ăn kiếm tiền khó khăn.

II - NHỮNG THÁI Độ CẦN THẬN TRỌNG KHI XEM MỆNH

Mệnh là một quỹ đạo mờ, không rõ nét như trong Vật lý học, và là đối tượng của một học thuyết về khả năng, điều này chúng ta đã nói đến nhiều lần. Vì thế xem Mệnh thực là khó. Hơn nữa, chiếu theo các hệ thống ý nghĩa trên, chẳng hạn của các Địa Môn, thì thông thường có phần về Lục Thân sách nói đúng, nhưng cũng có phần lại không đúng. Nhưng khó khăn không chỉ ở đó, còn có nhiều nhân tố khác chi phối và có thể là "sai một ly, đi một dặm".

Một là cha mẹ có khi không nhớ giờ sinh của con, hoặc nhớ nhầm.

Hai là giờ sinh lại nằm tại "biên giới" của hai Chi, ví dụ như tại biên giới của Chi Mão và Dần. Trong hai ví dụ về năm Đinh Mão trên, nếu lấy giờ Dần làm giờ sinh thì bản mệnh gia vào Trực Phù, và chủ thể là người nhân hậu, có tính ồn hòa, ngay thẳng, không biết làm điều ác.

Nhưng nếu lấy giờ sinh là giờ Mão, thì bản mệnh lại gia vào Bạch Hổ, chủ thể trong trường hợp này lại là một người thể bạo, nóng thích sát phạt !

Hai con người này rõ là hai thái cực. Quả là sai một ly đi một dặm !

Một nhân tố khác là cách xác định Tiết Khí trong Độn Giáp. Để được cụ thể, ta hãy so sánh hai cách tính lịch Miền Bắc và Miền Nam về Tiết Khí liên quan đến ngày 7 - 11 - 1962.

LỊCH MIỀN BẮC LỊCH MIỀN NAM

Sương Giáng, ngày cuối cùng. Thượng Nguyên, ngày thứ nhất, Cục 6, Âm Độn Cục 2, Âm Độn

Nếu giờ sinh là Tý thì N = 1 Nếu giờ sinh là Tý thì N = 49

Sửu thì N = 50 Sửu thì N = 2

Dần thì N = 3 Dần thì N = 51 Mão thì N = 52... Mão thì N = 4

408NHÂN THỂ - ĐỘN GIÁP
B. Cửu Địa.c
c. Đằng Xà. CứuThiên
D. Bạch Hồ. TháiÂm
Ảnh quét trang 408
Ảnh quét trang 408 — Bảng trên trang này chưa dựng lại được chính xác theo cột, nên hiển thị nguyên ảnh quét để số liệu đọc đúng.
409TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

Trong Bảng này, các yếu tố thuộc lịch miền Bắc được ghi bằng chữ đứng, còn với lịch miền Nam thì ghi bằng chữ xiên.

Đối chiếu kết quả này với ý nghĩa của Bát Tướng tại Bản Mệnh, chúng ta thấy ngay rằng theo hai lịch miền Bắc và Nam thì nhân cách của cùng một người sinh vào các giờ Tý, hay Sửu, hay Dần, hay Mão là rất khác nhau ! Chẳng hạn, trong trường hợp A thì hai nhân cách "Cửu Thiên" và "Cửu Địa" là hoàn toàn khác nhau.

Vậy tóm lại, cần hết sức thận trọng khi sử dụng Độn Giáp. Không phải vì Độn Giáp là hoàn toàn sai, mà chỉ vì vấn đề vận dụng học thuyết đó là hoàn toàn không đơn giản, cần hết sức linh động trong khi vận dụng, hoàn toàn tránh thái độ máy móc !

Nói chung, các chuyên gia về Tử Vi, Độn giáp... thường hay "giải bài toán ngược", theo nghĩa là xét xem trong những khả năng khác nhau có thể xuất hiện khí vận dụng, khả năng nào phù hợp với những sự kiện đã qua của chủ thể. Nói cách khác, những sự kiện, biến cố của dĩ vãng được xem là những nhân tố cho phép chọn lọc "là số" phù hợp nhất.

Một phương pháp khác là đối chiếu các kết quả thu được qua những học thuyết khác nhau, như Tử Vi, Độn Giáp, Bát Tự Hà Lạc (sẽ giới thiệu sơ bộ trong phần Kinh Dịch)... hay phương pháp xem tướng mặt, tướng tay, tướng tại... hay qua Trường Sinh học với các màu sắc của nó...

Rõ ràng vận dụng Triết cổ Đông phương là cả một nghệ thuật, trước những bài toán đa tiêu chuẩn phức tạp và tế nhị !

Trước khi kết thúc phần này, chúng tôi giới thiệu thêm một phương pháp xác định Tiết Khí gọi là Siêu Thần hay Tiếp Thần của Tam Nguyên Phù Đầu được trình bày trong cuốn sách của Nguyễn Mạnh Bảo.

TAM NGUYÊN PHÙ ĐẦU

Tiêu chuẩn :

- Can Giáp Kỷ gia với Tý, Ngọ, Mão, Dậu là Thượng Nguyên, Giáp Kỷ gia với Dần, Thân, Tị, Hợi là Trung Nguyên, - Can - Can Giáp Kỷ gia với Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là hạ Nguyên.

Để có thể dễ hiểu, chúng ta hãy lấy một ví dụ cụ thể. Theo lệ thường, ngày mồng 1 tháng giêng là ngày đầu tiên của Thượng Nguyên Lập Xuân. Nếu ngày đó đúng là ngày Giáp Tý thi tình hình này gọi là Chính Thụ, không có vấn đề gì Hoặc nếu ngày mồng 6 tháng giêng - là ngày đầu tiên của Trung Nguyên Lập Xuân đúng là ngày Kỷ Ty, thì tình hình này cũng là Chính Thụ. Hoặc nếu ngày 11 tháng giêng - là ngày đầu tiên của Hạ Nguyên Lập Xuân - đúng là ngày Giáp Tuất, thì tình hình này cũng là Chính Thụ.

Nhưng giả sử rằng trong một năm nào đó, ngày Giáp Tý lại rơi vào không phải ngày mồng một tháng giêng, mà là ngày 25 tháng 12 năm trước ! Thế thì theo tiêu chuẩn Tam Nguyên Phù Đầu, phải lấy ngày 25 tháng 12 đó làm ngày đầu tiên của Thượng Nguyên Lập Xuân, dù rằng có sớm 5 ngày. Hiện tượng này gọi là Siêu Thần.

Lại giả sử một tình hình khác như sau : Trong một năm khác nào đó, ngày Giáp Tý không phải là ngày 1 tháng giêng, mà lại rơi vào ngày 5 tháng giêng !

410NHÂN THỂ - ĐỘN GIÁP

Trong trường hợp này, theo tiêu chuẩn Tam Nguyên Phù Đầu, phải lấy ngày 5 tháng 1 đó làm ngày đầu tiên của Thượng Nguyên Lập Xuân. Tình hình muộn màng này gọi là Tiếp Thần. Lý do cơ bản của vấn để Tiết Khí không đúng ngày của nó là do tổng Tiết Khí trong năm là 360 ngày, trong lúc năm Dương lịch lại có 365 ngày 1/4.

III - HỆ SAO THÁI TUẾ Hệ Sao Thái Tuế gồm 12 Sao sau 1. Thái Tuế 4. Thái Âm 7. Thế Phá 10. Phúc Đức 2. Thái Dương 5. Quan Phù 8. Long Đức 11. Điếu Khách 3. Tang Môn 6. Tử Phù 9. Bạch Hổ 12. Bệnh Phù

TÍNH CHẤT CÁC SAO - Thái Tuế, gia chủ bị tai họa. - Tang Môn, gia chủ có tang tóc. - Quan Phù, gia chủ khẩu thiệt, thị phi quan tụng, tù ngục. - Tuế Phá, đề phòng mẹ già bị tai nạn. - Bạch Hổ, gia chủ có tang tóc, để phòng con cháu bị chết. - Bệnh Phù, chủ gia trưởng bị ốm đau, có bệnh tật khó chữa. - Điếu Khách, Tử Phù, gia chủ có tang tóc, bệnh tật. - Thái Âm, gia chủ giải trừ được mọi tai nạn, tiêu tan bệnh tật và sinh con gái. - Long Đức, gia chủ tiêu tan bệnh tật, giải trừ được các sự xích mích kiện cáo. - Thái Dương, gia chủ giải trừ được các tai nạn, bệnh tật, sinh được con trai. - Phúc Đức, gia chủ giải trừ được tai nạn, có tính chất như sao Thái Âm.

CÁCH AN CÁC SAO VÒNG THÁI TUẾ Vòng Thái Tuế được an theo chiều thuận, và khởi hành theo Chi của năm. Do Thiên Bàn chỉ có 8 cung, nên có 4 cung mang 1 Chi là Tý, Ngọ, Mão, Dậu và 4 cung mang 2 Chi là Tuất - Hợi, Sửu - Dần, Thìn - Tị, Mùi - thân. Với các cung mang 1 Chi thì an 1 sao vòng Thái Tuế, còn với các cung mang 2 Chi thì an 2 sao của vòng đó.

411TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY

VÍ DỤ

TỐN - 4 LY - 9 KHÔN - 2 Thìn - Tị Ngọ Mùi - Thân ĐIẾU KHÁCH THÁI TUẾ THÁI DƯƠNG BỆNH PHÙ TANG MÔN CHẤN - 3 ĐOÀI - 7 Mão TRUNG CUNG- 5 Dậu PHÚC ĐỨC THÁI ÂM CẤN - 3 KHẨM - 1 KIẾN - 6 Sừu - Dần Tý Tuất - Hợi BẠCH HỒ TUẾ PHÁ QUẠN PHÙ LONG ĐÚC TỬ PHÙ AN VÒNG SAO THÁI TUẾ CHO CÁC NĂM NGỌ

TỐN - 4 LY - 9 KHÔN - 2 Thìn - Tị Ngọ Mùi - Thân THÁI TUẾ TANG MÔN THÁI ÂM THÁI DƯƠNG QUAN PHÙ CHẦN - 3 ĐOÀI - 7 Mão TRUNG CUNG- 5 Dậu BỆNH PHÙ TỦ PHÙ CẤN - 3 KHẢM - 1 KIỀN - 6 Sửu - Dần Tý Tuất - Hợi PHÚC ĐỨC BẠCH HỒ TUẾ PHÁ ĐIẾU KHÁCH LONG ĐÚC

AN VÒNG SAO THÁI TUẾ CHO CÁC NĂM THÌN, TỊ

Nguyễn Hoàng Phương, Tích hợp đa văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1996. Bản số hóa từ ảnh quét; văn bản do OCR nên có thể còn sai sót — bấm vào số trang trong bài để đối chiếu ảnh quét nguyên bản.

Trong mục này